Quy định về hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân trong Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024

Hoạt động ngân hàng
Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân được thành lập nhằm tăng cường tính liên kết trong hệ thống Quỹ và là một kênh hỗ trợ tài chính đối với các quỹ tín dụng nhân dân gặp khó khăn tài chính, khó khăn chi trả - một tấm khiên chắn bảo đảm an toàn cho hoạt động của hệ thống Quỹ. Ý nghĩa, vai trò của Quỹ bảo toàn thể hiện rõ ràng nhất thông qua hoạt động cho vay hỗ trợ đối với các quỹ tín dụng nhân dân. Chính vì vậy, quy định về hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn đối với các quỹ tín dụng nhân dân cũng là nội dung chính, chủ yếu trong quy định của pháp luật về Quỹ bảo toàn.
aa

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu, đánh giá quy định điều chỉnh hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (Quỹ bảo toàn) trong Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2024. Những phân tích, đánh giá được đưa ra trên cơ sở sự so sánh đối chiếu với pháp luật của một số quốc gia, quy chế quản lý và sử dụng Quỹ bảo toàn do Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (NHHTX) ban hành và thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn.

Từ khóa: Quỹ bảo toàn, NHHTX, quỹ tín dụng nhân dân (QTDND).

REGULATIONS ON LENDING SUPPORT ACTIVITIES OF THE SAFETY FUND OF PEOPLE'S CREDIT FUND SYSTEM IN THE LAW ON CREDIT INSTITUTIONS 2024

Abstract: The article studies and evaluates the regulations governing lending support activities of the Safety Fund of People's Credit Fund System in the Law on Credit Institutions 2024. The analysis and evaluation are based on comparisons with the laws in some other countries, the regulations on management and use of the Safety Fund issued by Co-operative Bank of Viet Nam and the practical lending support activities of the Safety Fund of People's Credit Fund System.

Keywords: Safety Fund, Co-operative Bank of Viet Nam, People's Credit Fund.

Ảnh minh họa - Nguồn: Internet
Ảnh minh họa - Nguồn: Internet

1. Đặt vấn đề

Quỹ bảo toàn là quỹ tài chính của hệ thống TCTD là hợp tác xã, NHHTX và các QTDND thuộc sở hữu chung của các thành viên trên cơ sở phí trích nộp của NHHTX và các QTDND thành viên, đặt tại NHHTX, do NHHTX quản lý và sử dụng1. Quỹ bảo toàn chính thức được thành lập sau khi Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 03/2014/TT-NHNN ngày 23/01/2014. Trong khoảng thời gian từ ngày 15/3/2014 đến 01/7/20242, Quỹ bảo toàn hoạt động theo quy định của Thông tư số 03/2014/TT-NHNN3. Khi Luật Các TCTD năm 2024 được ban hành, các vấn đề liên quan đến Quỹ bảo toàn đã chính thức được luật hóa4.

Quỹ bảo toàn được thành lập nhằm tăng cường tính liên kết trong hệ thống QTDND và là một kênh hỗ trợ tài chính đối với các QTDND gặp khó khăn tài chính, khó khăn chi trả, một tấm khiên chắn bảo đảm an toàn cho hoạt động của hệ thống QTDND. Ý nghĩa, vai trò của Quỹ bảo toàn thể hiện rõ ràng nhất thông qua hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn với các QTDND. Chính vì vậy, quy định về hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn đối với các QTDND cũng là nội dung chính, chủ yếu trong quy định của pháp luật về Quỹ bảo toàn. Nội dung sau đây sẽ nghiên cứu, đánh giá các quy định của Luật Các TCTD năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành về hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn, từ đó đề xuất một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn.

2. Xử lý khoản vay hỗ trợ trong trường hợp QTDND không thể khắc phục trở lại hoạt động bình thường

Theo quy định của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN, một trong những nguyên tắc hoạt động của Quỹ bảo toàn là “Quỹ bảo toàn được sử dụng theo nguyên tắc cho vay có hoàn trả”5. Nguyên tắc trên đồng nghĩa với việc các khoản vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn đối với các QTDND phải được “hoàn trả” và Ban quản lý Quỹ bảo toàn chỉ được cho vay khi đủ căn cứ để xác định các QTDND “gặp khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả để có thể khắc phục trở lại hoạt động bình thường”6. Trong thực tiễn hoạt động có nhiều trường hợp QTDND gặp khó khăn tài chính, khó khăn chi trả đề nghị được vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn nhưng do không có đủ căn cứ vững chắc để xác định QTDND “có thể khắc phục trở lại hoạt động bình thường” và có thể “hoàn trả” khoản vay, chính vì vậy, Ban quản lý Quỹ bảo toàn mất nhiều thời gian để xác minh, tích toán trước khi quyết định cho vay. Trong một số trường hợp quyết định cho vay được đưa muộn chưa đáp ứng được yêu cầu cấp bách của khoản vay. Thậm chí, một số trường hợp Ban quản lý đã quyết định không cho vay vì lo sợ không thu hồi được. Đó chính là một trong các nguyên nhân dẫn đến Quỹ bảo toàn chưa phát huy được hết vai trò “hỗ trợ bảo đảm an toàn cho hoạt động của hệ thống QTDND”7.

Quỹ bảo toàn thuộc sở hữu chung của các thành viên trên cơ sở phí trích nộp của NHHTX và các QTDND thành viên, vì vậy, việc sử dụng nguồn vốn của Quỹ bảo toàn để cho vay phải tuân thủ nguyên tắc “hoàn trả” là điều cần thiết. Tuy nhiên, với những đặc thù về mục tiêu hoạt động và quy định về các trường hợp cho vay, trong một số trường hợp để thực hiện mục tiêu “hỗ trợ bảo đảm an toàn cho hoạt động của hệ thống QTDND”, cần phải chấp nhận khoản cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn đối với các QTDND có thể không thu hồi được.

Xuất phát từ thực tế trên, để dự liệu cho trường hợp khoản vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn không thể giúp cho QTDND vượt qua được khó khăn tài chính, trở lại hoạt động bình thường, Thông tư số 37/2024/TT-NHNN ngày 30/6/2024 về cho vay đặc biệt đã quy định: Kể từ ngày QTDND được đặt vào kiểm soát đặc biệt, dư nợ gốc, lãi khoản vay của QTDND tại NHHTX được chuyển thành dư nợ gốc, lãi của khoản vay đặc biệt và tiếp tục thực hiện theo cơ chế cho vay của NHHTX đối với QTDND8. Việc Thông tư số 37/2024/TT-NHNN cho phép chuyển đổi khoản vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn thành khoản vay đặc biệt là hoàn toàn phù hợp và cần thiết, bởi các lí do sau:

(1) NHHTX cũng là một trong chủ thể cho vay đặc biệt theo quy định của Thông tư số 08/2021/TT-NHNN ngày 06/7/2021 của Thống đốc NHNN. Nguồn vốn từ Quỹ bảo toàn cũng được quy định sử dụng cho vay đặc biệt với các QTDND9.

(2) Về các trường hợp cho vay và điều kiện cho vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn khá gần với các trường hợp cho vay đặc biệt. Khó khăn tài chính, khó khăn chi trả ở mức độ cao hơn chính là tình trạng mất hoặc có nguy cơ mất khả năng chi trả, khả năng thanh toán, các điều kiện để đặt TCTD nói chung và QTDND nói riêng vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.

(3) Việc chuyển các khoản vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho Quỹ bảo toàn có thể thu hồi vốn nếu QTDND không phục hồi trở lại hoạt động bình thường.

Ngoài việc cho phép chuyển đổi khoản vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn thành khoản vay đặc biệt theo quy định của Thông tư số 37/2024/TT-NHNN, Luật Các TCTD năm 2024 cũng quy định cho phép “NHHTX được hạch toán giảm quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND để xử lý số tiền cho vay đặc biệt không thu hồi được”10.

Quy định mới của Luật Các TCTD năm 2024 và Thông tư số 37/2024/TT-NHNN đã phần nào tháo gỡ những ràng buộc về trách nhiệm pháp lý đối với NHHTX khi thẩm định và quyết định cho vay hỗ trợ đối với các QTDND từ nguồn vốn của Quỹ bảo toàn. Vấn đề đặt ra trong thời gian tới là NHHTX cần cụ thể hóa các quy định của pháp luật vào trong quy chế quản lý và sử dụng Quỹ bảo toàn.

3. Các trường hợp cho vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn

Trước khi Luật Các TCTD năm 2024 và Thông tư số 27/2024/TT-NHNN được ban hành và có hiệu lực, hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn được điều chỉnh bởi hai văn bản: Thông tư số 03/2014/TT-NHNN và Thông tư số 08/2021/TT-NHNN. Theo đó, Quỹ bảo toàn được sử dụng để cho vay đối với các QTDND trong hai trường hợp: Cho vay đối với QTDND gặp khó khăn tài chính, khó khăn chi trả; cho vay đặc biệt đối với các QTDND được kiểm soát đặc biệt11.

Luật Các TCTD năm 2024 và Thông tư số 27/2024/TT-NHNN đã quy định đầy đủ và nhất quán hơn về các trường hợp cho vay đối với QTDND của Quỹ bảo toàn. Theo đó, Quỹ bảo toàn được sử dụng để cho vay QTDND trong các trường hợp sau: Cho vay đối với QTDND gặp khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả để có thể khắc phục trở lại hoạt động bình thường; cho vay đối với QTDND được can thiệp sớm; cho vay đối với QTDND được kiểm soát đặc biệt.

Theo báo cáo của NHHTX về quản lý và sử dụng Quỹ bảo toàn, từ thời điểm thành lập (năm 2014) đến hết năm 2024, Quỹ bảo toàn cho vay trong ba trường hợp: Cho vay hỗ trợ đối với QTDND gặp khó khăn chi trả; cho vay đối với QTDND gặp khó khăn tài chính; cho vay đặc biệt đối với QTDND được kiểm soát đặc biệt. Số liệu cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn thống kê theo các trường hợp cho vay tính đến hết năm 2024 được mô tả trong Bảng 1.

Bảng 1: Số liệu cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn thống kê theo các trường hợp cho vay tính đến hết năm 2024

Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của NHHTX về tình hình hoạt động và tình hình tài chính các năm gửi NHNN
Nguồn: Tổng hợp từ báo cáo của NHHTX về tình hình hoạt động và tình hình tài chính các năm gửi NHNN

Qua số liệu thống kê trên có thể khẳng định, NHHTX đang hiểu khó khăn chi trả và khó khăn tài chính là hai trường hợp cho vay khác nhau. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là Thông tư số 03/2014/TT-NHNN trước đây, Thông tư số 27/2024/TT-NHNN hiện nay cũng như quy chế quản lý và sử dụng quỹ bảo toàn không có bất kỳ một quy định nào giải thích hay đưa ra tiêu chí xác định, phân biệt giữa khó khăn tài chính và khó khăn chi trả.

Ở góc độ thực thi pháp luật, quy định về các trường hợp cho vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn trong Quy chế quản lý và sử dụng quỹ bảo toàn (Quy chế số 03/QC-NHHT) được ban hành năm 2022 nhiều nội dung hiện đã không còn phù hợp do Thông tư số 03/2014/TT-NHNN hiện đã được thay thế bởi Thông tư số 27/2024/TT-NHNN. NHHTX cần sớm xây dụng ban hành quy chế quản lý và sử dụng Quỹ bảo toàn trong đó xác định các trường hợp cho vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn đối với các QTDND bao gồm: (i) Cho vay đối với QTDND gặp khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả để có thể khắc phục trở lại hoạt động bình thường; (ii) Cho vay đối với QTDND được can thiệp sớm; (iii) Cho vay đối với QTDND được kiểm soát đặc biệt. Tại thời điểm khi pháp luật chưa có quy định giải thích, phân biệt giữa khó khăn tài chính và khó khăn chi trả, trong khi NHHTX hiểu và xác định khó khăn tài chính và khó khăn chi trả là hai trường hợp khác nhau thì cần có quy định giải thích và phân biệt cụ thể làm cơ sở cho việc áp dụng thống nhất trên thực tế.

4. Vấn đề kiểm tra, giám sát sử dụng khoản vay và thẩm quyền của NHHTX đối với các QTDND vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn

Quy định về kiểm tra, giám sát sử dụng khoản vay và thẩm quyền của Quỹ bảo toàn mà đại diện quản lý là chủ thể quản lý đối với các QTDND vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn là vấn đề đặc biệt quan trọng, có ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng khoản vay hỗ hợ từ Quỹ bảo toàn và mục tiêu bảo đảm an toàn cho hoạt động của hệ thống các quỹ tín dụng. Chính vì vậy, pháp luật các quốc gia khá chú trọng vấn đề này.

Tại Newfoundland và Labrador, Canada, Công ty Bảo lãnh tiền gửi liên minh tín dụng (Tập đoàn) thành lập một Quỹ bảo lãnh tiền gửi để cung cấp hỗ trợ về tài chính và các hỗ trợ khác cho TCTD nhằm mục đích hỗ trợ các hiệp hội tín dụng gặp khó khăn và thanh toán yêu cầu bồi thường của người gửi tiền trong trường hợp hiệp hội tín dụng bị giải thể và vỡ nợ. Nếu Tập đoàn cho rằng, hiệp hội tín dụng không có khả năng thanh toán các khoản nợ của mình, hoặc đang gặp khó khăn về tài chính hoặc tiến hành hoạt động kinh doanh không phù hợp với pháp luật hoặc thông lệ kinh doanh hợp lý, thì theo Đạo luật, Tập đoàn có quyền kiểm soát hiệp hội tín dụng và tuyên bố đặt hiệp hội tín dụng dưới sự giám sát của Tập đoàn hoặc của một cơ quan được chỉ định. Tập đoàn có quyền cử một nhóm giám sát để quản lý và vận hành hiệp hội tín dụng. Nhóm giám sát có quyền điều tra các vấn đề của hiệp hội tín dụng, loại bỏ và thay thế thành viên hội đồng quản trị và ban điều hành, thay đổi chính sách và thủ tục, và chỉ đạo nhân viên xây dựng kế hoạch phục hồi hoạt động của hiệp hội tín dụng12.

Tại Jamaica, Điều lệ của Quỹ bình ổn cho phép Liên đoàn Tín dụng Hợp tác xã Jamaica (JCCUL) thực hiện các hoạt động cần thiết để ngăn chặn những khó khăn tài chính trong các hiệp hội tín dụng. JCCUL có quyền yêu cầu thay thế các thành viên hội đồng quản trị và nhân viên bằng các nhân viên của JCCUL hoặc cố vấn kỹ thuật theo hợp đồng để thực hiện kế hoạch phục hồi hiệp hội tín dụng. Kế hoạch phục hồi sẽ được giám sát bởi đơn vị tuân thủ và rủi ro liên minh tín dụng (RCU) của JCCUL13.

Tại Mỹ, Cơ quan Quản lý liên minh tín dụng quốc gia (NCUA) vận hành và quản lý Quỹ bảo hiểm cổ phần của liên minh tín dụng quốc gia (NCUSIF). Theo Đạo luật Liên minh tín dụng liên bang, NCUA có quyền hạn rộng rãi và đáng kể để can thiệp và hỗ trợ các hiệp hội tín dụng đang phá sản. Hành động của NCUA đối với các hiệp hội tín dụng phá sản phụ thuộc vào tình hình tài chính và tổ chức của các hiệp hội tín dụng gặp khó khăn. Có thể là thư ghi nhớ hoặc biên bản thỏa thuận (LUA), trong đó xác định chi tiết hoạt động cần thực hiện và các biện pháp hỗ trợ hoặc cao hơn nữa là đặt các hiệp hội tín dụng dưới sự bảo hộ (kiểm soát). Khi hiệp hội tín dụng bị đặt vào tình trạng bảo hộ, hội đồng quản trị sẽ được thay thế bởi một ban hành chính được chỉ định và thông qua đó người quản lý và chủ thể nhân viên cũng có thể được thay thế nếu bị đánh giá là không đủ năng lực để ổn định hiệp hội tín dụng.

Tất cả các hành động, biện pháp, công cụ can thiệp nhằm phục hồi các hiệp hội tín dụng phải chịu sự giám sát và theo dõi chặt chẽ của NCUA. Quá trình bình ổn tối đa là 2 năm. Sau đó, nếu hiệp hội tín dụng không thể tiếp tục hoạt động độc lập, NCUA sẽ hỗ trợ tìm kiếm một TCTD phù hợp để thực hiện việc sáp nhập hoặc mua bán14.

Tại Uzbekistan, Quỹ bình ổn do Hiệp hội các hiệp hội tín dụng (CUA) quản lý và sử dụng. Hoạt động hỗ trợ ổn định của Quỹ bình ổn với các hiệp hội tín dụng được giám sát chặt chẽ. Trong trường hợp một hiệp hội tín dụng có vấn đề đặc biệt, CUA có thể áp dụng hình thức can thiệp ủy thác. Tương tự như quyền bảo hộ ở Mỹ, quản lý người được ủy thác là một thủ tục trong đó CUA có thể sở hữu tài sản của hiệp hội tín dụng và nắm quyền kiểm soát, điều hành doanh nghiệp. Việc quản lý người được ủy thác vẫn có hiệu lực cho đến khi hiệp hội tín dụng có khả năng tự mình tiếp tục kiểm soát hoạt động kinh doanh hoặc cho đến khi CUA yêu cầu sáp nhập hoặc thanh lý. Theo CUA, quản lý ủy thác là một công cụ hữu ích khi hội đồng quản trị hoặc ban quản lý hiệp hội tín dụng liên tục không tuân thủ các thỏa thuận; không có khả năng đối phó với mức độ nghiêm trọng của vấn đề tài chính mà họ gặp phải; đã thực hiện các hành vi bất hợp pháp hoặc không an toàn đe dọa đến Quỹ bình ổn, che giấu hoặc từ chối cung cấp hồ sơ tài chính và hoạt động để thanh tra viên CUA kiểm tra15.

Pháp luật Việt Nam hiện không có quy định cụ thể về vấn đề kiểm tra, giám sát, đánh giá hiệu quả việc sử dụng khoản vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn cũng như xác định thẩm quyền, vai trò của NHHTX và biện pháp xử lý đối với các QTDND vay vốn hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn nhưng không thực hiện thành công phương án phục hồi. Theo quy định tại Điều 26 Thông tư số 27/2024/TT-NHNN, NHHTX xây dựng và ban hành quy chế quản lý và sử dụng quỹ bảo toàn, trong quy chế quản lý và sử dụng quỹ bảo toàn phải có nội dung: “Các biện pháp theo dõi; cơ chế kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay của QTDND được hỗ trợ”. Theo quy định tại Điều 18 Quy chế 03/QC-NHHT quy định: (i) Chi nhánh NHHTX có trách nhiệm trong việc đôn đốc, kiểm tra, giám sát sử dụng vốn vay; (ii) Quỹ bảo toàn phối hợp với chi nhánh NHHTX để theo dõi kết quả củng cố, khắc phục khó khăn của QTDND; (iii) Ban quản lý Quỹ bảo toàn xây dựng quy trình giám sát sử dụng vốn vay trình Thường trực Hội đồng quản trị NHHTX ký ban hành.

Những quy định trên chưa tạo được cơ sở pháp lý đầy đủ và vững chắc cho những hành động can thiệp của NHHTX đối với các QTDND nhận vốn vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn nhưng không thể phục hồi trở lại hoạt động bình thường. Để nâng cao hiệu quả sử dụng khoản vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn việc hoàn thiện các quy định về kiểm tra, giám sát sử dụng khoản vay theo hướng chặt chẽ hơn, trao thẩm quyền cao hơn cho NHHTX trong việc kiểm tra, giám sát, tham gia vào vấn đề nhân sự cũng như tổ chức lại, giải thể và phá sản QTDND là điều cần thiết.

5. Một số giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn

So với quy định của Thông tư số 03/2014/TT-NHNN, quy định của Luật Các TCTD năm 2024 và Thông tư số 27/2024/TT-NHNN về Quỹ bảo toàn đã hoàn thiện, phù hợp hơn. Tuy nhiên, cũng không thể phủ nhận vẫn tồn tại những hạn chế, bất cập nhất định trong các quy định của pháp luật về Quỹ bảo toàn nói chung và các quy định điều chỉnh hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn nói riêng. Từ những vấn đề đã phân tích, đánh giá ở trên, nội dung sau đây sẽ phân tích đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động cho vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn.

Thứ nhất, cần bổ sung quy định về cơ chế miễn trừ trách nhiệm pháp lý của các chủ thể có thẩm quyền trong việc đề nghị, thẩm định, quyết định cho vay trong một số trường hợp đặc biệt. Đề xuất trên xuất phát từ chính những đặc thù về trường hợp cho vay hỗ trợ, mục đích, ý nghĩa của khoản vay hỗ trợ. Như đã phân tích, Quỹ bảo toàn cho vay trong ba trường hợp là: (i) QTDND gặp khó khăn tài chính, khó khăn chi trả; (ii) Cho vay đặc biệt với các QTDND được kiểm soát đặc biệt; (iii) Cho vay đối với các QTDND trong trường hợp áp dụng biện pháp can thiệp sớm. Hoạt động cho vay của Quỹ bảo toàn không nhằm mục tiêu lợi nhuận mà hướng tới hạn chế nguy cơ đổ vỡ, bảo đảm an toàn cho hoạt động của hệ thống QTDND. Rủi ro và nguy cơ mất vốn từ hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn là rất lớn, điều đó thể hiện ngay trong quy định về các trường hợp cho vay. Lường trước được rủi ro và nguy cơ “mất vốn” nên cụm từ “có thể” đã được sử dụng trong quy định, “Cho vay QTDND gặp khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả để có thể khắc phục trở lại hoạt động bình thường”. Ngoài ra, Luật Các TCTD năm 2024 đã quy định cho phép NHHTX được hạch toán giảm quỹ bảo toàn để xử lý số tiền cho vay đặc biệt không thu hồi được, Thông tư số 37/2024/TT-NHNN cho phép chuyển đổi khoản vay của QTDND tại NHHTX được chuyển thành dư nợ gốc, lãi của khoản vay đặc biệt. Với việc dự liệu đến trường hợp khoản vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn sẽ không thể được hoàn trả, sẽ là phù hợp hơn nếu bổ sung quy định miễn trừ trách nhiệm pháp lý với các chủ thể có thẩm quyền trong việc đề nghị, thẩm định, quyết định cho vay trong hợp các chủ thể trên không có lỗi đối với những khoản cho vay không thể hoàn trả.

Thứ hai, cần xác định rõ khó khăn tài chính và khó khăn chi trả là một trường hợp hay hai trường hợp cho vay. Nếu xác định là hai trường hợp cho vay, thì cần phải giải thích và đưa ra tiêu chí để xác định và phân biệt. Như đã phân tích, tương tự Thông tư số 03/2014/TT-NHNN, Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định trường hợp cho vay QTDND gặp khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả để có thể khắc phục trở lại hoạt động bình thường. Vấn đề đặt ra đối với quy định trên là, “khó khăn về tài chính” và “khó khăn chi trả” là một trường hợp hay hai trường hợp cho vay. Thực tế quá trình thi hành pháp luật, NHHTX đang hiểu quy định trên là hai trường hợp cho vay (thể hiện tại số liệu thống kê, báo cáo về các trường hợp cho vay). Tuy nhiên, trong quy chế quản lý và sử dụng quỹ bảo toàn do NHHTX xây dựng và ban hành cũng không có quy định giải thích, phân biệt giữa hai trường hợp là “khó khăn về tài chính” và “khó khăn chi trả”. Để bảo đảm việc hiểu và áp dụng pháp luật được thống nhất, quy định về các trường hợp cho vay của Quỹ bảo toàn cần xác định rõ khó khăn tài chính và khó khăn chi trả là một trường hợp hay hai trường hợp cho vay. Nếu xác định là hai trường hợp cho vay, thì cần đưa ra tiêu chí để xác định và phân biệt các trường hợp QTDND gặp “khó khăn về tài chính” và QTDND gặp “khó khăn chi trả”.

Thứ ba, cần bổ sung quy định cho phép NHHTX có thẩm quyền loại bỏ và thay thế thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban điều hành hay bất kỳ nhân viên nào của QTDND vay vốn hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn nếu nhận thấy rằng những người này không đủ năng lực, uy tín để phục hồi hoạt động của QTDND. Kinh nghiệm từ các quốc gia như Mỹ, Canada, Jamaica… cho thấy, việc kiểm tra, giám sát sử dụng khoản vay hỗ trợ và khả năng can thiệp vào vấn đề nhân sự quản trị, điều hành của NHHTX đối với các QTDND là một trong những điều kiện để bảo đảm khoản vay hỗ trợ được sử dụng hiệu quả hơn. Thực tế tại Việt Nam, khi cho các QTDND vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn NHHTX cũng đã có những can thiệp nhất định về nhân sự quản trị, điều hành của các QTDND. Tuy nhiên, xét về cơ sở pháp lý thì chưa có một quy định nào đề cập đến vấn đề này. Từ kinh nghiệm của các quốc gia và thực tế hoạt động của NHHTX, pháp luật về Quỹ bảo toàn cần hoàn thiện theo hướng bổ sung quy định cho phép NHHTX quyết định loại bỏ và thay thế thành viên hội đồng quản trị, thành viên ban điều hành hay bất kỳ nhân viên nào của QTDND vay vốn hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn nếu nhận thấy rằng những người này không đủ năng lực, uy tín để phục hồi hoạt động của QTDND.

Ngoài ra, như đã phân tích khoản vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn không thể bảo đảm chắc chắn rằng tất cả các QTDND sẽ phục hồi hoạt động bình thường. Chính vì vậy, quy định của pháp luật về Quỹ bảo toàn cũng cần tính đến trường hợp sẽ phải giải quyết bằng các hình thức hợp nhất, sáp nhập, mua lại hoặc thậm chí là phá sản các QTDND không thể trở lại hoạt động bình thường. Trong những trường hợp đó, NHHTX với tư cách là chủ thể quản lý, sử dụng Quỹ bảo toàn và đặc biệt hơn là “ngân hàng của tất cả QTDND”, với vai trò “liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống QTDND” cần được trao thẩm quyền nhất định.

Thứ tư, NHHTX cần sớm sửa đổi, bổ sung quy chế quản lý và sử dụng quỹ bảo toàn để cập nhật các quy định mới của pháp luật về Quỹ bảo toàn, cụ thể: (i) Cập nhật, cụ thể hóa quy định “NHHTX được hạch toán giảm quỹ bảo toàn để xử lý số tiền cho vay đặc biệt không thu hồi được”; (ii) Cập nhật, cụ thể hóa quy định cho phép chuyển đổi khoản vay hỗ trợ thành khoản vay đặc biệt khi QTDND được áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt; (iii) Bổ sung quy định về trường hợp cho vay đối với các QTDND được áp dụng biện pháp can thiệp sớm; (iv) Quy định cụ thể, chi tiết hơn về thẩm quyền, trách nhiệm của các chủ thể trong việc kiểm tra, giám sát sử dụng khoản vay.

1 Khoản 4 Điều 4 Thông tư số 27/2024/TT-NHNN.

2 Luật Các TCTD năm 2024 và Thông tư số 27/2024/TT-NHNN thay thế cho Thông tư số 03/2024/TT-NHNN có hiệu lực ngày 01/7/2024.

3 Thông tư số 03/2014/TT-NHNN được sửa đổi bởi các thông tư: Thông tư số 06/2017/TT-NHNN, Thông tư số 14/2019/TT-NHNN, Thông tư số 21/2019/TT-NHNN, Thông tư số 21/2023/TT-NHNN.

4 Sau khi Luật Các TCTD năm 2024 được ban hành và có hiệu lực, Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về NHHTX, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo toàn thay thế cho Thông tư số 03/2014/TT-NHNN.

5 Khoản 1 Điều 24 Thông tư số 27/2024/TT-NHNN.

6 Điểm a khoản 1 Điều 27 Thông tư số 27/2024/TT-NHNN.

7 Thông tin trên được thu thập bằng hình thức phỏng vấn chuyên gia được thực hiện ngày 14/10/2024 đối với ông Lê Thanh Cường - Phó Giám đốc Ban quản lý quỹ bảo toàn.

8 Khoản 2 Điều 6 Thông tư số 37/2024/TT-NHNN.

9 Điểm b, c khoản 3 Điều 4 Thông tư 08/2021/TT-NHNN.

10 Khoản 2 Điều 194 Luật các TCTD năm 2024.

11 Thực tế Thông tư 03/2014/TT-NHNN chỉ quy định trường hợp “Quỹ bảo toàn được sử dụng để cho vay hỗ trợ các QTDND khi gặp khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả”, quy định về cho vay đặc biệt đối với các QTDND bị kiểm soát đặc biệt được khoản 3 Điều 4 Thông tư số 08/2021/TT-NHNN.

12 Jones, P.A. 2010. “Stabilising British Credit Unions: A Research Study into the International Rationale and Design of Credit Union Stabilisation Programmes.” Research Report published by the Faculty of Health and Applied Social Sciences, Liverpool John Moores University.

Danh mục tài liệu tham khảo:

1. Luật Các TCTD năm 2010 (sửa đổi 2017).

2. Luật Các TCTD năm 2024.

3. Thông tư số 03/2014/TT-NHNN.

4. Thông tư số 06/2017/TT-NHNN.

5. Thông tư số 14/2019/TT-NHNN.

6. Thông tư số 21/2019/TT-NHNN.

7. Thông tư số 08/2021/TT-NHNN.

8. Thông tư số 27/2024/TT-NHNN.

9. Thông tư số 37/2024/TT-NHNN.

10. Jones, P.A. 2010. “Stabilising British Credit Unions: A Research Study into the International Rationale and Design of Credit Union Stabilisation Programmes.” Research Report published by the Faculty of Health and Applied Social Sciences, Liverpool John Moores University.

11. Quy chế số 179/QC-NHHT ngày 28/3/2014 của NHHTX - Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống NNHT QTDND (Quỹ bảo toàn).

12. Quy chế 2095/QC-NHHT ngày 31/12/2019 của NHHTX - Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND.

13. Quy chế số 03/QC-NHHT ngày 23/9/2022 của NHHTX - Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND.

14. Báo cáo tình hình hoạt động và tài chính của Quỹ bảo toàn từ năm 2014 đến 2022.

TS. Đỗ Mạnh Phương
Học viện Ngân hàng

Tin bài khác

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Trên cơ sở phân tích thực tiễn hoạt động tín dụng số ngắn hạn tại Việt Nam, bài viết đánh giá tác động của loại hình tín dụng này đến hành vi vay và rủi ro nợ của người tiêu dùng trẻ, đồng thời đưa ra một số hàm ý đối với công tác quản trị rủi ro và xây dựng chính sách.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối