Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng: Khát vọng, mô hình và chiến lược thích ứng của các ngân hàng Việt Nam

Chính sách
Bài viết phân tích việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Đà Nẵng như một mô hình hệ sinh thái tài chính bậc cao, làm rõ nền tảng pháp lý đột phá, lợi thế chiến lược của Đà Nẵng và những yêu cầu thích ứng đặt ra đối với hệ thống ngân hàng trong nước trong bối cảnh hội nhập tài chính quốc tế sâu rộng.
aa

1. Nhận diện Trung tâm tài chính quốc tế: Hệ sinh thái tài chính bậc cao

Theo cách hiểu phổ quát, Trung tâm tài chính quốc tế (TTTCQT) là một địa điểm hoặc khu vực địa lý tập trung mật độ cao các định chế tài chính như ngân hàng, quỹ đầu tư, công ty dịch vụ tài chính cùng các sàn giao dịch chứng khoán, tiền tệ, hàng hóa quy mô quốc tế; đóng vai trò là đầu mối quan trọng kết nối các dòng vốn toàn cầu, được hỗ trợ bởi hạ tầng hiện đại, môi trường pháp lý minh bạch và cơ chế quản lý hiệu quả. Ở cách diễn đạt ngắn gọn hơn, TTTCQT là một hệ sinh thái đa dạng các dịch vụ tài chính tập trung trong một khu vực nhất định nhằm kết nối và luân chuyển dòng vốn quốc tế.

Với vị thế là điểm sáng về tăng trưởng kinh tế, duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và hội tụ nhiều điều kiện cần thiết để phát triển thị trường tài chính hiện đại, Việt Nam đang đứng trước cơ hội lịch sử để hình thành các TTTCQT, qua đó kết nối trực tiếp với các mạch đập tài chính toàn cầu. Việc Bộ Chính trị, Quốc hội và Chính phủ lựa chọn Thành phố Đà Nẵng là một trong hai “cứ điểm” đặt TTTCQT không chỉ xuất phát từ vị trí địa chính trị chiến lược, mà còn thể hiện khát vọng định vị lại cấu trúc kinh tế của thành phố theo hướng hiện đại, hội nhập và phát triển bền vững.

2. Thành phố Đà Nẵng - Sự lựa chọn chiến lược cho mô hình TTTCQT chuyên biệt

Tại Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã sớm xác định Đà Nẵng là một trong những cực tăng trưởng quan trọng, có tiềm năng phát triển các dịch vụ chất lượng cao, trong đó có tài chính - ngân hàng. Nghị quyết số

43-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã định hướng phát triển Đà Nẵng trở thành trung tâm kinh tế - xã hội lớn của cả nước, là hạt nhân của vùng kinh tế trọng điểm miền Trung. Trên cơ sở đó, Chính phủ tiếp tục ban hành các cơ chế, chính sách đặc thù nhằm tạo điều kiện cho Đà Nẵng phát huy lợi thế, trong đó có định hướng nghiên cứu, phát triển trung tâm tài chính gắn với đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế.

Trước hết, Thành phố Đà Nẵng sở hữu những lợi thế đặc thù để xây dựng một trung tâm tài chính “thế hệ mới”. Thành phố có vị trí địa kinh tế - chính trị quan trọng với vai trò là trung tâm của khu vực miền Trung, kết nối Hành lang Kinh tế Đông - Tây, cùng hệ thống hạ tầng đồng bộ gồm cảng biển, sân bay quốc tế, hạ tầng đô thị hiện đại và môi trường sống được xếp hạng cao trong khu vực. Bên cạnh đó, Đà Nẵng còn nổi bật với hệ sinh thái đổi mới sáng tạo phát triển mạnh, gắn với các khu công nghệ cao và công viên phần mềm. Những yếu tố này được Trung ương đánh giá là phù hợp để hình thành một trung tâm tài chính chuyên biệt, có tính bổ trợ, không cạnh tranh trực tiếp với Thành phố Hồ Chí Minh. Khác với mô hình phát triển tài chính truyền thống tại Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng định hướng xây dựng trung tâm tài chính theo hướng chuyên sâu, lấy công nghệ tài chính (Fintech), tài chính xanh và tài trợ thương mại làm trọng tâm phát triển.

Thứ hai, Đà Nẵng đặt mục tiêu chiến lược phát triển đột phá và bền vững cho Thành phố. Đây là quyết sách lớn nhằm tạo động lực tăng trưởng mới, chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ du lịch - dịch vụ truyền thống sang các lĩnh vực hàm lượng tri thức cao như tài chính hiện đại, công nghệ tài chính, tài chính xanh và quản lý tài sản.

Thứ ba, lãnh đạo chính quyền địa phương đặc biệt tâm huyết, thể hiện quyết tâm chính trị và cam kết rất cao với lãnh đạo Đảng, Nhà nước trong việc xây dựng TTTCQT tại Đà Nẵng. Không chỉ dừng lại ở quyết tâm, Đà Nẵng đã chuẩn bị từ sớm, từ xa quỹ đất sạch đắc địa (ven biển đường Võ Văn Kiệt - Võ Nguyên Giáp với tổng diện tích hàng trăm héc-ta), đào tạo nhân lực chất lượng cao, thành lập Hội đồng tư vấn và Cơ quan điều hành TTTCQT tại Đà Nẵng.

3. Mô hình TTTCQT Việt Nam và sự đột phá thể chế từ khung pháp lý

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, việc hình thành các trung tâm tài chính có tầm vóc khu vực và quốc tế được xem là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thu hút dòng vốn đầu tư, phát triển các dịch vụ tài chính chất lượng cao. Trên thế giới, mô hình xây dựng và vận hành trung tâm tài chính rất đa dạng. Tuy nhiên, có thể khái quát thành ba mô thức chủ yếu.: (1) Mô hình TTTCQT hình thành một cách tự nhiên theo chiều dài lịch sử, phát triển qua nhiều giai đoạn và từng cấp độ từ thấp đến cao, dần hội tụ đủ điều kiện để trở thành TTTCQT, tiêu biểu như London và New York; (2) Mô hình TTTCQT được hình thành thông qua quá trình cải cách và hiện đại hóa có định hướng chiến lược bài bản, phát triển theo lộ trình từng bước, từng cấp độ, điển hình là Singapore, Thượng Hải và Hồng Kông (Trung Quốc); (3) Mô hình TTTCQT mới, độc lập và chuyên biệt thông qua việc xây dựng và áp dụng các chính sách có độ mở cao, cơ chế đặc thù riêng biệt như Dubai, Abu Dhabi, Astana-Kazakhstan. Điểm đáng chú ý trong ba mô hình này là ranh giới địa lý. Mô hình 1, 2 không có ranh giới địa lý cụ thể. Mô hình 3 xác lập ranh giới địa lý rõ ràng, cụ thể. Với mô hình 3, Chính phủ sẽ thiết kế, xây dựng chính sách và khung pháp lý riêng, vượt trội, đặc thù, khuyến khích và thu hút các nhà đầu tư để cung cấp các sản phẩm/dịch vụ tài chính, phi tài chính có liên quan để vận hành TTTCQT trong khuôn khổ, phạm vi địa lý cụ thể đã được xác lập.

Qua học hỏi kinh nghiệm quốc tế, Việt Nam đã lựa chọn mô hình TTTCQT mới, độc lập và chuyên biệt. Theo đó, Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về TTTCQT tại Việt Nam đã thiết lập nền tảng pháp lý quan trọng, đặt dấu mốc đầu tiên cho việc xây dựng và hình thành TTTCQT tại Việt Nam. Tiếp đó, đến tháng 12/2025, Chính phủ đã ban hành 08 Nghị định quan trọng liên quan đến thành lập và vận hành TTTCQT tại Thành phố Hồ Chí Minh và Thành phố Đà Nẵng1.

Trong nhóm các nghị định này, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối và phòng, chống rửa tiền trong TTTCQT tại Việt Nam được các nhà đầu tư rất quan tâm. Nghị định này đưa ra cơ chế cấp phép linh hoạt hơn, nhiều chuẩn mực, thông lệ quốc tế được cho phép áp dụng theo chính sách của ngân hàng mẹ hoặc chủ sở hữu; cơ chế quản lý ngoại hối thông thoáng (như cho phép niêm yết, báo giá, định giá và giao dịch bằng ngoại tệ, thành viên 100% vốn nước ngoài được hưởng cơ chế đặc biệt thông thoáng, không cần đăng ký khoản vay, cho vay và không cần đăng ký giao dịch ngoại hối khi đầu tư ra nước ngoài) và áp dụng chế độ báo cáo phòng, chống rửa tiền theo chuẩn giao dịch quốc tế, tạo thuận lợi cho dòng vốn luân chuyển nhanh và hiệu quả.

Hoạt động ngân hàng trong TTTCQT không chỉ là sự mở rộng về quy mô mà là một sự chuyển đổi về "chất" trong phương thức vận hành, cụ thể như: (1) Sự giải phóng về quyền tự chủ chiến lược: Các ngân hàng thành viên được vận hành theo chính sách của chủ sở hữu hoặc ngân hàng mẹ, cho phép các định chế tài chính toàn cầu áp dụng nguyên vẹn những mô hình kinh doanh và quản trị rủi ro đã được chuẩn hóa trên toàn thế giới, xóa bỏ rào cản về sự khác biệt với quy định nội địa; (2) Hệ sinh thái sản phẩm tài chính bậc cao: Vượt xa các nghiệp vụ tín dụng truyền thống, ngân hàng trong TTTCQT cung ứng danh mục sản phẩm đa dạng theo xu thế quốc tế, từ các công cụ phái sinh phức tạp, nghiệp vụ ngân hàng đầu tư, quản lý tài sản đến tài chính xanh. Đây là nơi thử nghiệm các sản phẩm Fintech mới nhất trong một khung khổ pháp lý linh hoạt; (3) Tiêu chuẩn minh bạch là “Giấy thông hành” toàn cầu: Trong TTTCQT, minh bạch không còn là yêu cầu tuân thủ mà là lợi thế cạnh tranh cốt lõi. Việc áp dụng chế độ báo cáo phòng, chống rửa tiền (AML) và nhận diện khách hàng (KYC) theo chuẩn quốc tế khắt khe không chỉ giúp kiểm soát rủi ro mà còn tạo dựng niềm tin tuyệt đối cho các nhà đầu tư toàn cầu khi gia nhập thị trường.

4. Chiến lược thích ứng nào cho các ngân hàng trong nước?

Việc thành lập TTTCQT đã góp phần khẳng định cam kết mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam trong việc kiến tạo môi trường tài chính ổn định, an toàn, minh bạch và thân thiện với nhà đầu tư, đồng thời gửi đi thông điệp rõ ràng về sự sẵn sàng hợp tác và chia sẻ cơ hội phát triển với cộng đồng quốc tế. Đến cuối năm 2025, khung pháp lý cho TTTCQT Việt Nam cơ bản đã hoàn thiện, với Nghị quyết số 222/2025/QH15 và 08 nghị định hướng dẫn là nền tảng để TTTCQT chính thức đi vào vận hành. Riêng tại Thành phố Đà Nẵng, đến tháng 12/2025, TTTCQT đã thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của cộng đồng tài chính trong và ngoài nước với hơn 80 thư quan tâm đăng ký thành viên, hơn 20 biên bản hợp tác được ký kết trong nhiều lĩnh vực như đào tạo, tư vấn, truyền thông, xúc tiến đầu tư, phát triển sản phẩm tài chính và 12 tổ chức, định chế tài chính chính thức trở thành thành viên. Những kết quả này đánh dấu bước khởi đầu cho một hệ sinh thái tài chính năng động, đa dạng và có chiều sâu, là minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn về các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước.

Sự tham gia của các định chế tài chính lớn tại TTTCQT Việt Nam đặt ra yêu cầu mới đối với các ngân hàng trong nước trong việc lựa chọn chiến lược phát triển phù hợp, giữa cạnh tranh và hợp tác. Theo góc nhìn phân tích, nên coi đây là cơ hội để các ngân hàng Việt Nam từng bước thích ứng, nâng cao năng lực quản trị, trình độ chuyên môn và khả năng hội nhập quốc tế. Cụ thể:

Một là, nghiên cứu, cân nhắc thiết lập sự hiện diện trong TTTCQT. Một số ngân hàng trong nước đủ tiềm lực tài chính và nền tảng quản trị tiệm cận quốc tế nên cân nhắc thành lập ngân hàng con trong TTTCQT để trực tiếp thụ hưởng các cơ chế đột phá và tiếp cận nguồn vốn quốc tế chi phí thấp.

Hai là, xây dựng mối quan hệ cộng hưởng và cộng sinh, mô hình hợp tác đôi bên cùng có lợi:

(1) Các ngân hàng nước ngoài tại TTTCQT sở hữu dòng vốn dồi dào, xếp hạng tín nhiệm cao và hệ thống sản phẩm đa dạng, nhưng lại thiếu sự am hiểu sâu sắc về đặc tính khách hàng và mạng lưới phân phối tại thị trường Việt Nam. Ngược lại, các ngân hàng trong nước nắm giữ lợi thế về dữ liệu khách hàng, mạng lưới chi nhánh và sự thông thuộc quy định pháp lý nội địa. Việc hợp tác sẽ tạo ra một quy trình khép kín: Ngân hàng nước ngoài đóng vai trò "nguồn cấp", ngân hàng nội địa đóng vai trò "cánh tay nối dài" để đưa dòng vốn này vào các dự án kinh tế thực tế.

(2) Triển khai cơ chế ủy thác và tài chính xanh. Theo Nghị định số 329/2025/NĐ-CP, việc hợp tác khai thác nguồn vốn xanh là một dư địa khổng lồ. Ngân hàng quốc tế có nghĩa vụ và nhu cầu giải ngân gói tín dụng xanh từ các quỹ tài trợ quốc tế nhưng thường gặp khó khăn trong việc tìm kiếm dự án đạt chuẩn tại địa phương. Các ngân hàng nội địa, thông qua vai trò là đại lý quản lý tài sản hoặc đối tác hợp tác sẽ là cầu nối quan trọng để thẩm định, giám sát và giải ngân nguồn vốn này vào các dự án năng lượng tái tạo, hạ tầng bền vững trong nước.

(3) Hiệu ứng lan tỏa tiêu chuẩn quản trị. Sự hiện diện của các ngân hàng quốc tế tại TTTCQT tạo ra một "áp lực chuẩn hóa" tích cực. Để có thể trở thành đối tác chiến lược hoặc tham gia vào giao dịch hợp vốn với các định chế tại TTTCQT, các ngân hàng nội địa buộc phải nâng cấp tiêu chuẩn quản trị rủi ro, minh bạch hóa thông tin và áp dụng các chuẩn mực AML/KYC theo thông lệ quốc tế cao nhất. Đây là sự cộng hưởng về mặt trình độ, giúp thu hẹp khoảng cách về năng lực giữa ngân hàng Việt Nam và quốc tế.

Ba là, tận dụng "đòn bẩy" của Nghị định số 329/2025/NĐ-CP. Các ngân hàng nội địa cần nghiên cứu kỹ lưỡng các quy định tại Nghị định này để tính toán các phương án liên doanh hoặc liên kết chiến lược. Việc tận dụng cơ chế quản lý ngoại hối thông thoáng và khả năng tự do hóa các khoản vay nước ngoài thông qua TTTCQT sẽ giúp các ngân hàng trong nước tối ưu hóa bảng cân đối kế toán, đa dạng hóa cơ cấu doanh thu từ phí dịch vụ thay vì chỉ phụ thuộc vào tín dụng truyền thống.

Tóm lại, xây dựng TTCQT tại Thành phố Đà Nẵng là một hành trình nhiều thách thức nhằm nâng tầm vị thế tài chính của Việt Nam trong khu vực và trên thế giới. Đối với các ngân hàng trong nước, nếu biết tận dụng hiệu quả sự cộng hưởng về vốn, công nghệ, sản phẩm, dịch vụ và tiêu chuẩn quản trị từ các định chế tài chính quốc tế, áp lực cạnh tranh sẽ trở thành động lực thúc đẩy đổi mới, nâng cao năng lực và khẳng định vị thế trong chuỗi cung ứng dịch vụ tài chính toàn cầu. Với quyết tâm cao của Đảng, Nhà nước và sự đồng lòng, vào cuộc quyết liệt của chính quyền Thành phố Đà Nẵng, kỳ vọng sẽ mở ra một tương lai nơi dòng chảy tài chính toàn cầu hội tụ, tạo động lực mới cho sự phát triển nhanh, bền vững và thịnh vượng của đất nước. Với vai trò, nhiệm vụ bảo đảm ổn định tiền tệ - ngân hàng và kiến tạo môi trường tài chính an toàn, minh bạch, hệ thống ngân hàng sẽ tiếp tục đồng hành, đóng góp tích cực, hiệu quả và trách nhiệm vào quá trình phát triển TTTCQT tại Thành phố Đà Nẵng, qua đó góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ tài chính khu vực và quốc tế.y

1 Nguồn: https://baochinhphu.vn/quyet-tam-dua-trung-tam-tai-chinh-quoc-te-viet-nam-phat-trien-nhanh-ben-vung-bat-kip-voi-cac-trung-tam-tai-chinh-quoc-te-toan-cau-102251221104238383.htm

Tài liệu tham khảo:

1. Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/01/2019 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thành phố Đà Nẵng đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

2. Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về TTTCQT tại Việt Nam.

3. Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối và phòng, chống rửa tiền trong TTTCQT tại Việt Nam.

4. https://baochinhphu.vn/quyet-tam-dua-trung-tam-tai-chinh-quoc-te-viet-nam-phat-trien-nhanh-ben-vung-bat-kip-voi-cac-trung-tam-tai-chinh-quoc-te-toan-cau-102251221104238383.htm

Lê Anh Xuân, Lưu Thị Mỹ Hạnh
Ngân hàng Nhà nước Khu vực 9

Tin bài khác

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Tín dụng nông nghiệp, nông thôn góp phần thúc đẩy phát triển bền vững ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới

Bài viết phân tích những giải pháp điều hành tín dụng chủ động, linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong năm 2025 nhằm ưu tiên nguồn vốn cho nông nghiệp, nông thôn, qua đó củng cố vai trò trụ đỡ của khu vực này đối với tăng trưởng kinh tế, xây dựng nông thôn mới và bảo đảm an sinh xã hội.
Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực

Điều hành chính sách tiền tệ tiếp tục góp phần đưa kinh tế Việt Nam trở thành điểm sáng khu vực

Năm 2025 là một năm đầy khó khăn, thách thức đối với điều hành kinh tế vĩ mô nói chung và công tác điều hành chính sách tiền tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) nói riêng. Tuy nhiên, khép lại năm 2025, bức tranh kinh tế nước ta tiếp tục là điểm sáng khi tăng trưởng GDP dẫn đầu khu vực và thuộc nhóm cao trên thế giới; các cân đối lớn của nền kinh tế được bảo đảm. Đóng góp vào thành công đó có vai trò quan trọng của điều hành chính sách tiền tệ của NHNN.
Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Củng cố nền tảng tăng trưởng và sức chống chịu của nền kinh tế Việt Nam trong năm 2026

Bài viết này phân tích toàn diện những chuyển động lớn của nền kinh tế Việt Nam năm 2025, chỉ ra các kết quả đạt được, những hạn chế mang tính cơ cấu và các rủi ro tiềm ẩn, qua đó gợi mở các định hướng chính sách trọng tâm nhằm nâng cao nội lực, sức chống chịu và chất lượng tăng trưởng trong năm 2026.
Xem thêm
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành