Chính sách tài khóa, tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025: Những điểm sáng và định hướng năm 2026

Chính sách
Bài viết phân tích toàn diện những điểm sáng trong điều hành chính sách tài khóa và tiền tệ của Việt Nam năm 2025, qua đó làm rõ vai trò phối hợp chính sách vĩ mô trong thúc đẩy tăng trưởng, ổn định kinh tế và đề xuất định hướng trọng tâm cho năm bản lề 2026.
aa

1. Mở đầu

Năm 2025 đánh dấu cột mốc đặc biệt quan trọng, không chỉ khép lại Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm (2021 - 2025) mà còn kiến tạo nền tảng chiến lược vững chắc cho giai đoạn 2026 - 2030. Trước những tác động phức tạp và khó lường từ cục diện địa chính trị cũng như kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện bản lĩnh vững vàng và khả năng chống chịu ấn tượng. Nhờ quyết tâm của cả hệ thống chính trị và Nhân dân, cùng cộng đồng doanh nghiệp, thông qua các biện pháp điều hành đồng bộ, kịp thời, quyết liệt, kinh tế Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

Năm 2025, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, lạm phát được kiểm soát, các cân đối lớn được bảo đảm. Theo số liệu của Cục Thống kê, tăng trưởng cả năm 2025 đạt 8,02% đưa Việt Nam vào nhóm dẫn đầu thế giới và khu vực. Quy mô GDP ước đạt 514 tỉ USD, tăng 5 bậc, lên vị trí 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm quốc gia có thu nhập trung bình cao. Thành quả mang tính bước ngoặt này là minh chứng rõ nét về sự phối hợp đồng bộ, chặt chẽ, nhịp nhàng của các chính sách vĩ mô, đặc biệt là vai trò quan trọng của hai “trụ cột” gồm chính sách tài khóa và tiền tệ.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

2. Chính sách tài khóa được triển khai theo hướng chủ động, mở rộng hợp lý bảo đảm hiệu quả và có trọng tâm, trọng điểm

Chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất - kinh doanh, ổn định đời sống là một trong những công cụ quan trọng trợ lực cho nền kinh tế, kích thích tổng cầu, tăng đầu tư

Trong năm 2025, nhằm hỗ trợ người dân và doanh nghiệp phục hồi sản xuất - kinh doanh, Nhà nước tiếp tục triển khai các chính sách gia hạn, giảm thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất. Trong đó, đáng chú ý là việc giảm thuế suất thuế giá trị gia tăng từ 10% xuống 8% đối với các nhóm hàng hóa, dịch vụ đang áp dụng mức thuế suất 10%; đồng thời tiếp tục ưu đãi lệ phí trước bạ đối với ô tô điện chạy pin.

Tổng số miễn, giảm, gia hạn thuế, phí, lệ phí và tiền thuê đất đạt khoảng 250,9 nghìn tỉ đồng. Trong đó, gia hạn khoảng 122 nghìn tỉ đồng, còn miễn, giảm khoảng 128,9 nghìn tỉ đồng. Các chính sách được triển khai với quy mô lớn, phạm vi rộng, hỗ trợ kịp thời hoạt động sản xuất - kinh doanh, nhất là trước những tác động tiêu cực từ chính sách thuế quan của Hoa Kỳ. Đồng thời, các giải pháp góp phần tạo việc làm, kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an sinh xã hội.

Thu ngân sách nhà nước (NSNN) đạt kết quả tích cực, đảm bảo nguồn lực cho đầu tư phát triển và ổn định kinh tế

Hệ thống chính sách thuế tiếp tục được rà soát, sửa đổi đồng bộ nhằm hiện đại hóa, minh bạch hóa, đơn giản thủ tục hành chính, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đáp ứng các chủ trương lớn của Đảng về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân và hoàn thiện khung pháp lý quản lý các mô hình kinh tế mới, kinh doanh nền tảng số và khuyến khích hộ kinh doanh chuyển sang mô hình doanh nghiệp, qua đó góp phần mở rộng cơ sở thuế, thúc đẩy khu vực chính thức và chuyển đổi số nền kinh tế.

Lũy kế 12 tháng, thu ngân sách đạt khoảng 2.650,1 nghìn tỉ đồng, bằng 134,74% dự toán, tăng 30,3% so với cùng kỳ năm 2024. Trong đó, thu nội địa (không kể dầu thô) đạt 2.279,9 nghìn tỉ đồng, bằng 136,66% dự toán; thu từ dầu thô đạt 90,13% dự toán; thu cân đối từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt 136,1% dự toán. Tỉ lệ động viên vào ngân sách đạt 20,7% GDP, qua đó tạo thêm nguồn lực cho cải cách tiền lương, xử lý nhiệm vụ cấp bách và tăng chi đầu tư phát triển.

Chi NSNN được quản lý chặt chẽ, tiết kiệm, hiệu quả đảm bảo nguồn lực an sinh xã hội

Song hành cùng các chính sách thuế hỗ trợ sản xuất, hoạt động kinh doanh, các chính sách chi NSNN tiếp tục được điều chỉnh ưu tiên nguồn lực thúc đẩy đầu tư các công trình trọng điểm, đầu tư vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số... hướng đến việc triển khai các nghị quyết trụ cột để phát triển đất nước trong thời gian tới. Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ yêu cầu cắt giảm các khoản chi thường xuyên chưa phân bổ đến ngày 30/6/2025; đồng thời tiết kiệm thêm 10% chi thường xuyên 7 tháng cuối năm để bổ sung nguồn lực đầu tư xây dựng 248 trường nội trú, bán trú vùng sâu, vùng xa. Tổng số tiết kiệm đạt khoảng 5,4 nghìn tỉ đồng.

Lũy kế chi 12 tháng (tính đến hết ngày 31/12/2025) đạt khoảng 2.424,6 nghìn tỉ đồng, bằng 94,1% dự toán; bảo đảm kịp thời nguồn kinh phí thực hiện phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (đảm bảo mức 3% tổng chi NSNN, tương đương 76 nghìn tỉ đồng), các chính sách, chế độ khi thực hiện tổ chức, sắp xếp bộ máy và chính quyền địa phương 2 cấp (khoảng 170 nghìn tỉ đồng), các nhiệm vụ quan trọng, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh, chi phòng chống khắc phục hậu quả thiên tai, dịch bệnh và các chính sách an sinh xã hội.

Hình 1: Tình hình thu, chi NSNN giai đoạn 2015 - 2025

Chính sách tài khóa, tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế năm 2025: Những điểm sáng và định hướng năm 2026

Nguồn: Bộ Tài chính

Cân đối NSNN được đảm bảo. Bội chi NSNN năm 2025 đạt khoảng 3,6% GDP, bình quân 5 năm giảm từ 3,53% GDP giai đoạn 2016 - 2020 xuống 3,1 - 3,2% GDP giai đoạn 2021 - 2025. Năm 2025, đã thực hiện phát hành khoảng 350 nghìn tỉ đồng trái phiếu chính phủ với kỳ hạn bình quân 9,78 năm. Lãi suất bình quân giảm từ 4,51%/năm (năm 2019) xuống còn 3,21%/năm (năm 2025) giúp giảm chi phí trả lãi của ngân sách trung ương.

Nợ công năm 2025 khoảng 35 - 36% GDP, thấp hơn nhiều ngưỡng cảnh báo 60% Quốc hội đề ra giai đoạn 2021 - 2025, tạo dư địa trong huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển đẩy mạnh hoàn thiện cơ sở hạ tầng, trọng tâm trong tăng trưởng. Nhờ những kết quả tích cực này, Năm 2025, Tổ chức xếp hạng tín nhiệm S&P và Fitch tiếp tục giữ hạng tín nhiệm của Việt Nam mức BB+; Moody’s đánh giá ở mức Ba2, triển vọng ổn định. Điều này tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực và là cơ hội cho Chính phủ đa dạng hóa kênh huy động vốn cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu phục vụ phát triển kinh tế - xã hội.

Cải cách thủ tục hành chính thuế, hải quan, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp, người dân, đảm bảo môi trường kinh doanh minh bạch, lành mạnh

Nhiều dịch vụ thuế điện tử được mở rộng như khai thuế điện tử, hoàn thuế điện tử, thông báo nợ thuế, cảnh báo nợ thuế; nộp thuế điện tử qua eTax Mobile và cổng thông tin điện tử dành cho hộ, cá nhân kinh doanh thương mại điện tử. Đến nay, 100% doanh nghiệp đang hoạt động đã sử dụng hóa đơn điện tử với gần 20,9 tỉ hóa đơn điện tử được tiếp nhận và xử lý; hệ thống thuế điện tử (eTax) và eTax Mobile đã được hoàn thiện; hơn 1 triệu doanh nghiệp, đạt 99,3% doanh nghiệp sử dụng dịch vụ thuế điện tử; 8,8 triệu lượt tải eTax Moibile, nộp thành công trên 28.000 tỉ; cổng tiếp nhận thông tin thương mại điện tử cũng đã tiếp nhận dữ liệu từ 478 sàn thương mại điện tử gửi đến cơ quan thuế. Cổng thông tin điện tử dành cho hộ, cá nhân kinh doanh thương mại điện tử đăng ký, kê khai, nộp thuế có 184.745 hộ, cá nhân đăng ký sử dụng với tổng số tiền đã nộp là trên 2.556 tỉ đồng; đẩy manh triển khai hoàn thuế thu nhập cá nhân tự động, với hơn 900.000 người nộp thuế đã nộp tờ khai với số tiền hoàn tự động đạt 1.212 tỉ đồng.

Đẩy mạnh nguồn lực đầu tư công tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế

Năm 2025 là năm có lượng vốn đầu tư công lớn nhất từ trước đến nay, cao hơn cùng kỳ năm 2024 trên 305 nghìn tỉ đồng. Trong đó, riêng số vốn kế hoạch năm 2025 được Quốc hội phê duyệt và được Thủ tướng Chính phủ phân bổ cho các bộ, cơ quan trung ương và địa phương là 902 nghìn tỉ đồng (nếu cộng thêm kế hoạch vốn cân đối địa phương giao tăng và kế hoạch các năm trước trước chuyển sang thì tổng số vốn năm 2025 là 1.166,5 nghìn tỉ đồng), chưa kể số vốn chuyển nguồn từ năm trước sang và vốn bổ sung từ nguồn tăng thu 2024.

Công tác giải ngân vốn đầu tư công được Chính phủ và các tổ công tác thúc đẩy giải ngân của Thủ tướng Chính phủ quan tâm, theo dõi sát sao, nhằm kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong thực hiện dự án đầu tư, tăng hiệu quả sử dụng vốn đầu tư công. Năm 2025, Thường trực Chính phủ đã tổ chức 4 hội nghị; Chính phủ đã có 11 nghị quyết, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 8 chỉ thị, công điện và nhiều văn bản chỉ đạo đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công. Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ tướng Chính phủ, các thành viên Chính phủ đã tổ chức nhiều chuyến công tác làm việc trực tiếp với các địa phương để kiểm tra thực tế địa bàn; đôn đốc triển khai thực hiện các dự án, công trình.

Đến hết tháng 12/2025, giải ngân vốn đầu tư công năm 2025 đạt trên 755 nghìn tỉ đồng, đạt 83,7% kế hoạch vốn Thủ tướng Chính phủ giao, cao hơn 3,4% về tỉ lệ và 206,6 nghìn tỉ đồng về số tuyệt đối so với cùng kỳ năm 2024. Đến hết năm 2025, đã hoàn thành 3.345 km đường bộ cao tốc (nếu tính cả đường dẫn, nút giao là 3.803 km, vượt 803 km so với mục tiêu) và trên 1.711 km đường ven biển (mục tiêu là 1.700 km).

Giai đoạn 2021 - 2025, cả nước đã hoàn thành thêm 2.082 km đường bộ cao tốc, tăng gần 1,8 lần so với các giai đoạn trước; cơ bản hoàn thành Cảng hàng không quốc tế Long Thành giai đoạn 1 tiêu chuẩn 4F đầu tiên tại Việt Nam (tiêu chuẩn 4F là cấp độ cao nhất trong phân loại sân bay theo Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (ICAO); đưa vào hoạt động các tuyến vành đai, đường sắt đô thị, gồm: Tuyến Cát Linh - Hà Đông, đoạn trên cao tuyến Nhổn - ga Hà Nội (Hà Nội); tuyến Bến Thành - Suối Tiên (Thành phố Hồ Chí Minh). Các công trình cảng hàng không quan trọng được nâng cấp như: Cảng hàng không quốc tế Nội Bài và Tân Sơn Nhất, Cảng hàng không Điện Biên, Cảng hàng không quốc tế Phú Bài; hoàn thành xây dựng nhà ga T3 Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất, Cảng hàng không Điện Biên, Cảng hàng không quốc tế Phú Bài...

Đầu tư công trực tiếp làm tăng tổng cầu, là công cụ hữu hiệu để điều tiết và ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vững các cân đối lớn của nền kinh tế. Đầu tư là một trong những động lực tăng trưởng, trong đó đầu tư công có vai trò dẫn dắt, kích hoạt đầu tư tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ, thúc đẩy sản xuất - kinh doanh, tạo việc làm và sinh kế cho người dân, qua đó nâng cao tổng vốn đầu tư toàn xã hội, thúc đẩy tăng trưởng nhanh, bền vững. Đầu tư công tạo nền tảng hạ tầng chiến lược, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, mở ra không gian phát triển mới, giảm chi phí cho sản xuất - kinh doanh, giảm thời gian, tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm, hàng hóa.

Thị trường vốn tiếp tục được chú trọng phát triển theo hướng an toàn, minh bạch và bền vững, từng bước trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho nền kinh tế

Đặc biệt, năm 2025, thị trường chứng khoán Việt Nam đã được nâng hạng từ thị trường cận biên lên thị trường mới nổi, qua đó góp phần nâng cao vị thế của thị trường tài chính Việt Nam và mở ra cơ hội thu hút mạnh mẽ hơn các dòng vốn đầu tư trong và ngoài nước. Đến cuối năm 2025, quy mô thị trường trái phiếu đạt khoảng 3,93 triệu tỉ đồng, tương đương 30,7% GDP, tăng 7,6% so với cuối năm 2024; vốn hóa thị trường chứng khoán đạt gần 10 triệu tỉ đồng, tương đương 77,9% GDP, tăng 37,6% so với cuối năm trước; giá trị giao dịch bình quân đạt gần 29,5 nghìn tỉ đồng/phiên, tăng 40,2% so với bình quân năm trước.

2. Chính sách tiền tệ được điều hành chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả

Năm 2025, chính sách tiền tệ của Việt Nam được điều hành trong bối cảnh kinh tế trong nước phục hồi tích cực nhưng vẫn chịu tác động đan xen từ những bất ổn của kinh tế và thị trường tài chính - tiền tệ quốc tế, bao gồm xu hướng thắt chặt, nới lỏng chính sách không đồng đều giữa các nền kinh tế lớn, rủi ro địa chính trị và biến động dòng vốn toàn cầu. Trong bối cảnh đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt, thận trọng và phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa, nhằm đạt được mục tiêu kép: hỗ trợ tăng trưởng kinh tế hợp lý đi đôi với kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, ngân hàng.

Điều hành chính sách tiền tệ năm 2025 tiếp tục chuyển từ trạng thái ứng phó khẩn cấp sang điều hành ổn định trung hạn, với trọng tâm là duy trì mặt bằng lãi suất và thanh khoản phù hợp, tạo dư địa cho phục hồi và mở rộng sản xuất - kinh doanh, đồng thời hạn chế các cú sốc gây bất ổn thị trường. NHNN đã sử dụng linh hoạt các công cụ điều hành như nghiệp vụ thị trường mở (OMO), tái cấp vốn, điều tiết tăng trưởng tín dụng và quản lý tỉ giá, qua đó góp phần ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát kỳ vọng lạm phát và củng cố niềm tin của doanh nghiệp, nhà đầu tư và người dân.

Chính sách tín dụng được điều hành theo hướng phù hợp với diễn biến vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế

Trên cơ sở kết quả kiểm soát lạm phát phù hợp với mục tiêu của Quốc hội và Chính phủ, NHNN đã điều chỉnh tăng chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2025 (ngày 31/7/2025) đối với các tổ chức tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn thực tế của sản xuất - kinh doanh và tiêu dùng, tạo điều kiện cho tổ chức tín dụng tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế mà không cần đề nghị riêng lẻ từ từng ngân hàng, đảm bảo minh bạch và công khai trong phân bổ hạn mức tín dụng. Tính đến cuối năm 2025, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đạt 18,58 triệu tỉ đồng, tăng 19,01% so với cuối năm 2024. Cơ cấu tín dụng tiếp tục tập trung vốn cho lĩnh vực sản xuất - kinh doanh, nhất là các lĩnh vực ưu tiên, hỗ trợ tích cực quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phát triển nông thôn, công nghiệp hỗ trợ; hỗ trợ cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao.

Chính sách lãi suất được duy trì ở mặt bằng thấp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn

NHNN duy trì khung lãi suất điều hành ở mức thấp, tạo điều kiện cho các tổ chức tín dụng tiếp tục giảm lãi suất cho vay. Lãi suất cho vay ngắn hạn bằng VND đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức khoảng 3,9%/năm, thấp hơn mức trần 4,0%/năm theo quy định. Lãi suất cho vay bình quân chung ở mức 6,6% - 8,9%/năm. Chính sách lãi suất thấp, ổn định đã góp phần giảm đáng kể chi phí vốn, khuyến khích doanh nghiệp đầu tư mở rộng sản xuất, người dân vay vốn tiêu dùng và mua nhà, từ đó thúc đẩy tổng cầu nội địa.

OMO được điều hành linh hoạt, bám sát với diễn biến thị trường

Việc chào mua giấy tờ có giá trên OMO được duy trì với tần suất thường xuyên, khối lượng, kỳ hạn phù hợp, sẵn sàng cung ứng thanh khoản khi cần thiết, qua đó hạn chế biến động lãi suất ngắn hạn và bảo đảm khả năng thanh toán của hệ thống ngân hàng. Việc bơm ròng mạnh trong tháng 10/2025, với khối lượng bơm ròng đạt 40,2 nghìn tỉ đồng và riêng phiên ngày 22/10/2025 lên tới gần 55 nghìn tỉ đồng, đã đưa tổng lượng OMO lưu hành vượt 208 nghìn tỉ đồng, cho thấy NHNN kịp thời hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống trong bối cảnh nhu cầu vốn tăng cao và áp lực thị trường gia tăng.

Tuy nhiên, đến cuối năm 2025, khi khối lượng vốn đáo hạn lớn và thanh khoản hệ thống cải thiện, NHNN chủ động chuyển sang hút ròng, làm quy mô lưu hành trên kênh mua kỳ hạn giảm xuống khoảng 404.287 tỉ đồng (tính đến ngày 22/12/2025), qua đó tránh dư thừa thanh khoản và hạn chế áp lực lên lạm phát. Đáng chú ý, việc mở rộng kỳ hạn chào thầu lên tới 105 ngày với lãi suất 4%/năm cho thấy sự hiện đại hóa trong cơ chế điều tiết vốn của NHNN, giúp tăng tính linh hoạt, kéo dài tầm điều hành thanh khoản và nâng cao khả năng thích ứng của chính sách tiền tệ trước các biến động ngắn hạn và trung hạn của thị trường.

Chính sách tỉ giá được điều hành linh hoạt, bám sát diễn biến trên thị trường và biến động quốc tế

Các biện pháp quản lý được áp dụng linh hoạt, gồm duy trì cơ chế tỉ giá trung tâm tiếp tục được vận hành, kết hợp biên độ tỉ giá ±5%; bán ngoại tệ kỳ hạn có hủy ngang 180 ngày; sử dụng công cụ giao dịch hoán đổi ngoại tệ với các tổ chức tín dụng để đáp ứng nhu cầu thanh khoản, vừa góp phần ổn định thị trường tiền tệ, ngoại tệ, vừa hỗ trợ ổn định tỉ giá (từ ngày 04/12/2025).

Đến ngày 31/12/2025, tỉ giá trung tâm USD/VND ở mức 25.121 đồng, tăng 3,23% so với cuối 2024, mức tăng có kiểm soát, phù hợp với biến động thị trường vào lạm phát mục tiêu. Việc giữ tỉ giá ổn định, không gây cú sốc đã góp phần hỗ trợ xuất khẩu, hạn chế lạm phát nhập khẩu, đồng thời củng cố niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài và kiều bào vào sự ổn định của đồng tiền Việt Nam.

Tích cực triển khai các chương trình tín dụng hỗ trợ sản xuất - kinh doanh, tiêu dùng và đầu tư các dự án và tín dụng chính sách

Ngay từ đầu năm 2025, hàng loạt chương trình tín dụng ưu đãi hỗ trợ sản xuất và người dân gắn với đảm bảo an sinh xã hội và phát triển trọng tâm đã được thúc đẩy như Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản được mở rộng đối tượng, tăng quy mô lên 4 lần, chương trình cho vay liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long... (Bảng 1).

Bảng 1. Một số chương trình tín dụng ưu đãi trong năm 2025

Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Công tác kiểm soát rủi ro, bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng ghi nhận nhiều điểm sáng

Việc Thống đốc NHNN ban hành Thông tư số 21/2025/TT-NHNN ngày 31/07/2025 quy định xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cho thấy bước tiến trong thiết kế bộ chỉ tiêu giám sát tiệm cận Basel III, giúp phát hiện sớm các rủi ro về vốn, nợ xấu và thanh khoản, đồng thời tăng tính minh bạch và trách nhiệm quản trị của tổ chức tín dụng. Cùng với đó, hệ thống pháp luật về hoạt động ngân hàng tiếp tục được củng cố; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2025 được thông qua và các quy định mới nâng cao an toàn vốn, từ đó củng cố nền tảng an toàn tài chính trong dài hạn. Tình hình nợ xấu vẫn được kiểm soát trong bối cảnh nhiều doanh nghiệp gặp khó khăn về hoạt động sản xuất, ảnh hưởng đến khả năng trả nợ.

3. Định hướng một số giải pháp tài khóa, tiền tệ thúc đẩy tăng trưởng trong năm 2026

Bước vào năm 2026, năm đầu tiên triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, đồng thời là năm bản lề mở đầu kỷ nguyên phát triển mới của đất nước với các quyết tâm mạnh mẽ thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước năm 2026 phấn đấu từ 10% trở lên gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn. Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đứng trước các thách thức từ kinh tế thế giới phục hồi chậm, phân hóa mạnh, thương mại toàn cầu chịu tác động gia tăng của bảo hộ, xung đột địa chính trị và các chuẩn mực phát triển xanh, số, việc phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tiếp tục được coi là chìa khóa để giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong dài hạn. Việc cụ thể hóa định hướng phối hợp chính sách tài khóa - tiền tệ ngay từ năm 2026 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, vừa để chủ động ứng phó với các cú sốc từ bên ngoài, vừa tạo dư địa hỗ trợ tăng trưởng trong nước một cách bền vững. Trên cơ sở đó, trọng tâm điều hành chính sách cần tập trung vào một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu sau:

Thứ nhất, tiếp tục theo dõi sát diễn biến tình hình quốc tế, khu vực, những thay đổi và điều chỉnh chính sách tài chính, tiền tệ của các nền kinh tế lớn để đánh giá, phân tích, có phản ứng chính sách kịp thời, hiệu quả. Điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả, phối hợp chặt chẽ, hài hòa với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách vĩ mô khác, bảo đảm ưu tiên thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng gắn với ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn.

Thứ hai, tăng cường kỷ luật, kỷ cương tài chính - NSNN, bảo đảm kịp thời nguồn lực cho tăng trưởng. Phấn đấu thu NSNN năm 2026 tăng ít nhất 10% so với ước thực hiện năm 2025. Tiếp tục cải cách hệ thống chính sách thuế theo hướng hiện đại, công bằng và trung lập, phù hợp thông lệ quốc tế. Trọng tâm là mở rộng cơ sở thuế và bảo đảm cơ cấu nguồn thu bền vững. Hoàn thiện quy định về chính sách thuế đối với các mô hình kinh tế mới, kinh doanh dựa trên công nghệ và nền tảng số, đặc biệt là tài sản mã hóa, tiền mã hóa, thương mại điện tử và các nguồn thu phát sinh từ giao dịch xuyên biên giới. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý thu như trí tuệ nhân tạo, học máy, xây dựng cơ sở dữ liệu lớn, hướng tới chuyển đổi số toàn diện trong quản lý thuế, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế số và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, đột phá đầu tư hạ tầng chiến lược và khơi thông nguồn vốn dài hạn. Tiếp tục thực hiện cơ cấu chi ngân sách theo hướng tập trung, trọng tâm, trọng điểm, không dàn trải, manh mún, gắn chi tiêu với kết quả, hiệu quả thực hiện thực hiện mục tiêu kinh tế - xã hội. Đẩy mạnh giải ngân vốn đầu tư công, thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia ngay từ đầu năm; phấn đấu tỉ lệ giải ngân vốn đầu tư công đạt 100% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao. Quyết liệt tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về giải phóng mặt bằng, cung ứng vật liệu thi công; kịp thời điều chỉnh vốn từ dự án giải ngân chậm sang dự án giải ngân tốt. Sử dụng hiệu quả dư địa về nợ công, bội chi trong giới hạn an toàn để huy động nguồn lực cho đầu tư, trọng tâm là phát hành trái phiếu chính phủ cho các công trình trọng điểm, quan trọng quốc gia, các lĩnh vực ưu tiên như khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số... Điều hành khối lượng và kỳ hạn phát hành phải linh hoạt, vừa đáp ứng nhu cầu vốn, vừa đảm bảo thanh khoản thị trường và an toàn nợ công. Đồng thời, thực hiện quyết liệt các giải pháp phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu doanh nghiệp ổn định, an toàn, lành mạnh, trở thành kênh huy động vốn trung và dài hạn hiệu quả phục vụ tăng trưởng hai con số.

Thứ tư, điều hành tăng trưởng tín dụng hợp lý, triển khai các giải pháp tín dụng linh hoạt, phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và mục tiêu lạm phát. Ưu tiên hàng đầu vẫn là kiểm soát lạm phát ở mức mục tiêu (lạm phát bình quân khoảng 4,5%); tập trung vào chất lượng tăng trưởng tín dụng, định hướng tín dụng vào các lĩnh vực ưu tiên, các dự án hiệu quả, công nghệ cao, xanh, bền vững, kiểm soát chặt tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi cao. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp về quản lý ngoại hối và quản lý dự trữ ngoại hối nhằm góp phần ổn định thị trường ngoại tệ, hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ; điều hành tỉ giá linh hoạt, can thiệp kịp thời khi cần, tăng cường dự trữ ngoại hối. Chuẩn bị các kịch bản ứng phó với biến động thị trường tài chính toàn cầu để ổn định thị trường tiền tệ, ngoại hối trong nước.

Tiếp tục triển khai các giải pháp đẩy mạnh chuyển đổi số, chuẩn hóa các cơ sở dữ liệu chuyên ngành, thanh toán không dùng tiền mặt và bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán. Nghiên cứu triển khai các mô hình, công nghệ thanh toán mới, thanh toán xuyên biên giới. Tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp để kiểm soát và xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng, duy trì tỉ lệ nợ xấu ở mức an toàn, đồng thời tăng cường quản trị rủi ro và hạn chế phát sinh mới nợ xấu, góp phần bảo đảm an toàn và ổn định hoạt động hệ thống các tổ chức tín dụng.

Tài liệu tham khảo

1. Anh Minh (2025), Bộ Tài chính điều hành tài khóa chủ động, tập trung nguồn lực cho phát triển, https://baochinhphu.vn/bo-tai-chinh-dieu-hanh-tai-khoa-chu-dong-tap-trung-nguon-luc-cho-phat-trien-102260106155939982.htm

2. Bộ Tài chính (2026), Hội nghị tổng kết công tác năm 2025 và triển khai nhiệm vụ năm 2026.

3. Cục Thống kê (2025a), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025, https://www.gso.gov.vn

4. Hà Văn (2025), Thủ tướng: Đẩy mạnh giải ngân gần 1 triệu tỷ đồng vốn đầu tư công ngay từ đầu năm 2026, https://baochinhphu.vn/thu-tuong-day-manh-giai-ngan-gan-1-trieu-ty-dong-von-dau-tu-cong-ngay-tu-dau-nam-2026-102260109150146113.htm

5. Nhật Trung (2025), https://tapchinganhang.gov.vn/kinh-te-viet-nam-2025-thanh-tuu-but-pha-tren-nen-tang-dieu-hanh-chinh-sach-tien-te-linh-hoat-nhay-ben-16891.html

6. NHNN (2025), Hội nghị tổng kết năm 2025 và triển khai nhiệm vụ ngành Ngân hàng năm 2026.

TS. Nguyễn Như Quỳnh
Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính

Tin bài khác

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xem thêm
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam