Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Hoạt động ngân hàng
Trong bối cảnh lực lượng lao động suy giảm và dư địa tăng trưởng theo chiều rộng ngày càng thu hẹp, bài viết phân tích các điều kiện vĩ mô để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao giai đoạn 2026 - 2030, nhấn mạnh yêu cầu chuyển sang mô hình dựa trên tích lũy vốn và đổi mới công nghệ, với hệ thống ngân hàng tiếp tục giữ vai trò kênh dẫn vốn chủ đạo.
aa

Tóm tắt: Bài viết phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô để Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026 - 2030 trong bối cảnh lực lượng lao động suy giảm và đóng góp của lao động vào tăng trưởng ngày càng thấp. Nghiên cứu cho thấy tăng trưởng không thể tiếp tục dựa vào lao động mà cần chuyển sang mô hình dựa trên tích lũy vốn và đổi mới công nghệ. Kinh nghiệm của Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia và Thái Lan cho thấy các giai đoạn tăng trưởng nhanh đều gắn với tỉ lệ đầu tư/GDP xấp xỉ hoặc vượt 40%. Trên cơ sở đó, bài viết xây dựng các kịch bản tăng trưởng 10%/năm, ước tính nhu cầu đầu tư và tăng trưởng tín dụng tương ứng từ 17,45% đến 25,3%/năm. Kết luận cho rằng trong điều kiện thể chế và mức độ bất cân xứng thông tin hiện nay, hệ thống ngân hàng tiếp tục là kênh dẫn vốn chủ đạo, trong khi thị trường vốn chỉ đóng vai trò bổ trợ, đặc biệt đối với doanh nghiệp lớn.

Từ khóa: Tăng trưởng kinh tế, đầu tư/GDP, tín dụng ngân hàng, thị trường vốn.

THE ROLE OF THE BANKING SECTOR IN THE NEW ERA

Abstract: This article examines the macroeconomic conditions required for Vietnam to achieve high growth during 2026 - 2030 in a context of slowing labor force expansion and a declining contribution of labor to growth. It shows that economic growth can no longer continue to rely on labor alone but needs to shift toward a model based on capital accumulation and technological innovation. The experiences of China, South Korea, Malaysia, and Thailand indicate that periods of rapid growth are closely associated with investment-to-GDP ratios of around or above 40%. Based on this evidence, the article develops 10% annual growth scenarios and estimates the corresponding investment needs and credit growth at between 17.45% and 25.3% per year. It concludes that under current institutional conditions and information asymmetry, the banking system will continue to be the primary channel for capital allocation, while the capital market plays only a supporting role, particularly for large enterprises.

Keywords: Economic growth, investment-to-GDP, bank credit, capital markets.

1. Vốn - yếu tố then chốt trong các giai đoạn tăng trưởng nhanh

Năm 2026 được xem là một mốc quan trọng cho giai đoạn phát triển mới của kinh tế Việt Nam. Đây là năm khởi đầu của nhiệm kỳ 2026 - 2030, đồng thời là thời điểm đất nước tiếp tục đẩy mạnh cải cách thể chế và tổ chức, vận hành bộ máy hành chính mới dựa trên nền tảng chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Những chuyển đổi này được kỳ vọng sẽ tạo nền tảng quan trọng cho một mô hình phát triển hiệu quả hơn, bền vững hơn, qua đó từng bước hiện thực hóa khát vọng vươn mình của dân tộc.

Kể từ sau Đổi mới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa vào việc mở rộng quy mô các yếu tố đầu vào, trong đó nguồn lực quan trọng nhất là lao động. Trong giai đoạn 2000 - 2011, lực lượng lao động tăng với tốc độ bình quân khoảng 2,69%/năm. Tuy nhiên, từ sau năm 2011, tốc độ tăng của lực lượng lao động suy giảm mạnh, chỉ còn khoảng 0,2%/năm trong giai đoạn 2011 - 2024. Trước khi xảy ra đại dịch Covid-19, các dự báo cho thấy lực lượng lao động của Việt Nam sẽ đạt đỉnh vào khoảng năm 2023, với quy mô xấp xỉ 56,5 triệu người, sau đó là giai đoạn ổn định và giảm nhẹ dần dần do tỉ suất sinh giảm dưới mức tái tạo (năm 2024, tỉ suất sinh của phụ nữ Việt Nam là 1,91 con/phụ nữ). Tuy nhiên, tác động của đại dịch Covid-19 đã làm gián đoạn xu hướng này khi lực lượng lao động năm 2021 sụt giảm khoảng 4,3 triệu người so với năm trước đó, và chỉ phục hồi dần trong các năm tiếp theo. Trên cơ sở xu hướng hiện nay, tác giả ước tính lực lượng lao động sẽ tiếp tục tăng nhẹ trong thập kỷ tới, đạt khoảng 55 triệu người vào năm 2032, trước khi bước vào giai đoạn suy giảm. (Hình 1)

Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Theo kịch bản khả quan nhất, trong giai đoạn 2025 - 2030, lực lượng lao động của Việt Nam chỉ tăng bình quân khoảng 0,61%/năm. Trong khi đó, tỉ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp, khoảng 2,1 - 2,4%, cho thấy dư địa huy động thêm lao động để phục vụ tăng trưởng cao là khá hạn chế trong 5 năm tới. Đồng thời, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cũng diễn ra chậm. Đến năm 2024, tỉ lệ lao động trong độ tuổi đã qua đào tạo mới đạt khoảng 31%. Với tốc độ cải thiện hiện nay, đến năm 2030 tỉ lệ này được ước tính chỉ đạt khoảng 37,8%, đồng nghĩa với việc hơn 62% lao động chưa qua đào tạo. (Hình 2)

Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Các nghiên cứu gần đây cho thấy đóng góp của lao động vào tăng trưởng kinh tế của Việt Nam ở mức thấp và có xu hướng giảm. Theo Tran Van Trung và Le Huy Doan (2025), tỉ trọng đóng góp của lao động trong tăng trưởng của Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 chỉ đạt khoảng 13,2%, và đến năm 2023 giảm xuống còn khoảng 12,81%. Những bằng chứng này cho thấy tăng trưởng của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay khó có thể tiếp tục dựa vào nguồn lao động, mà chủ yếu phải dựa vào vốn và đổi mới công nghệ. Trong đó, đổi mới công nghệ bản chất cũng là đầu tư vốn nhập khẩu công nghệ. Do đó, để đạt được tốc độ tăng trưởng cao (trên 8%/năm), Việt Nam cần phải tăng mạnh đầu tư. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội của Việt Nam không tương đồng với các nước khác, vì vậy trong nghiên cứu này tác giả sử dụng biến tổng mức tích lũy tài sản trong năm làm biến đầu tư để so sánh giữa các quốc gia.

Kinh nghiệm từ một số nền kinh tế châu Á đã trải qua các thời kỳ tăng trưởng nhanh như Trung Quốc, Hàn Quốc, Malaysia, Thái Lan cho thấy các nước này đã tăng mạnh tỉ lệ đầu tư so với GDP, với tỉ lệ đầu tư/GDP đạt khoảng 40%.

Trong giai đoạn 1992 - 2007, Trung Quốc đạt mức tăng trưởng bình quân 10,5%/năm với tỉ lệ đầu tư/GDP thường xuyên trên 35%, và vượt 40% kể từ sau năm 2003. Hàn Quốc trong giai đoạn 1982 - 1996 cũng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 9,77%/năm, đồng thời liên tục thúc đẩy tỉ lệ đầu tư/GDP tăng dần từ 32,8% lên đến 40% vào năm 1996. Xu hướng tương tự cũng được quan sát tại Malaysia trong gia đoạn 1987 - 1997 và tại Thái Lan giai đoạn 1985 - 1995, với tốc độ tăng trưởng bình quân lần lượt đạt 9,27% và 9,25%/năm; trong cả hai trường hợp đều cho thấy, Malaysia và Thái Lan đã đẩy mạnh tỉ lệ đầu tư/GDP và vượt 40% vào nửa cuối giai đoạn tăng trưởng cao (Hình 3). Tính trung bình, tỉ trọng đầu tư so với GDP trong các giai đoạn tăng trưởng nhanh của bốn nền kinh tế này dao động trong khoảng 38,07% (Malaysia) đến 38,46% (Trung Quốc), cho thấy vai trò then chốt của tích lũy vốn đối với tăng trưởng cao và bền vững.

Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

2. Nhu cầu vốn của Việt Nam trong giai đoạn 2026 - 2030

Trong giai đoạn 2012 - 2024, kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng bình quân khoảng 6,11%/năm, với tỉ lệ vốn đầu tư so với GDP xấp xỉ 30 - 32%. Giai đoạn 2013 - 2019, Việt Nam từng bước cải thiện tốc độ tăng trưởng thông qua việc gia tăng dần tỉ lệ đầu tư/GDP. Mô hình này khá tương đồng với mô hình của Thái Lan và Malaysia trong giai đoạn 1980 - 1990, khi đó tỉ lệ vốn/GDP ở các nước này chỉ khoảng 29 - 33% và tốc độ tăng trưởng dao động trong khoảng 5 - 7%. Khi bước vào giai đoạn tăng tốc và duy trì tốc độ tăng trưởng cao trên 8% trong khoảng một thập kỷ, các nền kinh tế này đều gia tăng mạnh đầu tư, đưa tỉ lệ đầu tư/GDP lên trên 40%. Điều này hàm ý rằng để nâng tốc độ tăng trưởng của Việt Nam lên mức cao hơn trong giai đoạn 2026 - 2030, việc duy trì và gia tăng đáng kể tỉ lệ đầu tư/GDP là điều kiện cần, đặc biệt trong bối cảnh đóng góp của lao động suy giảm và dư địa mở rộng các yếu tố đầu vào khác ngày càng hạn chế.

2.1. Kịch bản tăng trưởng 10%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030

Để đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 10%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030, GDP danh nghĩa cần tăng tối thiểu khoảng 13%/năm, tương ứng với kịch bản tăng trưởng cao trong bối cảnh lạm phát được kiểm soát ở mức thấp khoảng 3 - 4%. Theo đó, đến năm 2030, quy mô GDP theo giá hiện hành ước tính đạt khoảng 23,7 triệu tỉ đồng. Để đạt được quy mô này, Việt Nam cần gia tăng đáng kể quy mô đầu tư, đồng thời cải thiện hiệu quả sử dụng vốn. Trên cơ sở đó, bài viết xây dựng ba kịch bản về tỉ lệ đầu tư/GDP như sau:

(i) Kịch bản cơ sở: Tỉ lệ đầu tư/GDP đạt khoảng 38%, tương đương với mức quan sát được tại các nền kinh tế châu Á trong các giai đoạn tăng trưởng cao kéo dài.

(ii) Kịch bản cao: Hiệu quả đầu tư của Việt Nam thấp hơn so với một số nền kinh tế châu Á đi trước, nên tỉ lệ đầu tư/GDP cần đạt khoảng 40%.

(iii) Kịch bản thấp: Giả định Việt Nam cải thiện vượt bậc về hiệu quả đầu tư, cho phép duy trì tỉ lệ đầu tư/GDP ở mức hiện nay là 32%.

Với ba kịch bản trên, tổng vốn đầu tư toàn xã hội được ước tính tăng từ khoảng 3,52 triệu tỉ đồng năm 2024 lên đến 7,6 triệu tỉ đồng vào năm 2030 theo kịch bản thấp, 9,5 triệu tỉ đồng theo kịch bản cao và khoảng 9,0 triệu tỉ đồng theo kịch bản cơ sở. (Hình 4)

Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

2.2. Vốn dựa vào tín dụng hay thị trường vốn

Thị trường tài chính thường được xem là “bộ não” của nền kinh tế thị trường, phản ánh rủi ro, thách thức, cơ hội, kỳ vọng và mức độ hiệu quả trong phân bổ nguồn lực. Những trục trặc trong vận hành của thị trường tài chính có thể nhanh chóng lan rộng và ảnh hưởng tiêu cực đến toàn bộ hoạt động kinh tế. Do đó, phát triển thị trường tài chính có ý nghĩa then chốt đối với tăng trưởng kinh tế nói chung và đối với sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân nói riêng.

Theo Stiglitz (1995), thị trường chứng khoán về bản chất chủ yếu thực hiện chức năng phân bổ và trao đổi rủi ro giữa các nhà đầu tư; mặc dù có tác động đến khả năng huy động vốn của doanh nghiệp, nhưng chủ yếu vẫn là kênh đánh cược rủi ro hơn là kênh tài trợ chủ đạo cho các dự án đầu tư mới hoặc mở rộng quy mô sản xuất. Việc truyền thông tập trung nhiều vào thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu dễ tạo ra cảm nhận rằng đây là các định chế trung tâm của hệ thống tài chính, trong khi trên thực tế, tại hầu hết các nền kinh tế, chỉ một tỉ lệ nhỏ tổng đầu tư được tài trợ trực tiếp thông qua phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu.

Stiglitz (1995) cũng chỉ ra rằng chi phí giao dịch trên thị trường vốn tương đối cao (chiếm 25% tổng các khoản đầu tư mới1) làm hạn chế vai trò của kênh này như một kênh huy động vốn hiệu quả. Trên thực tế, tại Mỹ - nền kinh tế thường được xem là dựa nhiều vào thị trường vốn hơn là tín dụng ngân hàng - thì trong giai đoạn 2000 - 2024, mức gia tăng tín dụng hằng năm trung bình vẫn cao hơn khoảng 2,1 lần so với lượng vốn huy động thông qua phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng (IPO) (Hình 5).

Những bằng chứng này cho thấy, ngay cả các nền kinh tế có thị trường vốn phát triển, hệ thống tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò trung tâm trong việc tài trợ cho đầu tư và tăng trưởng. Do đó, trong bối cảnh Việt Nam cần gia tăng mạnh đầu tư để đạt mục tiêu tăng trưởng cao trong giai đoạn tới, thì tín dụng ngân hàng vẫn là kênh chủ đạo, đóng vai trò quyết định.

Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

2.3. Tại sao tăng trưởng dựa vào ngân hàng lại phù hợp với các nước đang phát triển Đông Á

Yếu tố cốt lõi trong kinh doanh tài chính là quản trị rủi ro. Các ngân hàng thương mại nhờ lợi thế chuyên môn hóa trong thu thập, xử lý thông tin và quản trị rủi ro có khả năng giảm thiểu các vấn đề lựa chọn ngược và rủi ro đạo đức trong quan hệ tín dụng. Trong khi đó, trên thị trường vốn, nhà đầu tư phải tự sàng lọc những doanh nghiệp ít rủi ro và hoạt động có hiệu quả. Điều này đòi hỏi khả năng thu thập thông tin, phân tích thông tin năng lực phân tích tài chính, dự báo và phân tán rủi ro,... là những yêu cầu vượt quá khả năng của một nhà đầu tư cá nhân và đôi khi vượt quá khả năng của ngay cả một nhà đầu tư chuyên nghiệp.

Khi khuôn khổ pháp lý và sự phát triển của thị trường vốn chưa hoàn thiện, vấn đề bất cân xứng thông tin càng trở nên nghiêm trọng, làm gia tăng mức độ rủi ro của thị trường vốn. Trong bối cảnh đa số nhà đầu tư có mức độ ưa rủi ro thấp, mức độ rủi ro cao sẽ làm hạn chế khả năng phát triển của thị trường vốn, đồng thời tạo điều kiện để hệ thống ngân hàng giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn.

Chakraborty và Ray (2021) thông qua phân tích lý thuyết về các hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng và dựa vào thị trường vốn trong bối cảnh tăng trưởng và phát triển kinh tế cho thấy rằng, yếu tố quan trọng đối với tăng trưởng không phải là loại hình hệ thống tài chính, mà là mức độ hiệu quả của các thể chế tài chính và pháp lý của quốc gia. Tuy nhiên, xét từ góc độ quá trình chuyển đổi một nền kinh tế truyền thống sang một nền kinh tế công nghiệp hiện đại, hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng được cho là hoạt động hiệu quả hơn so với hệ thống tài chính dựa vào thị trường vốn.

Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến ngân hàng và các trung gian tài chính có xu hướng vượt trội hơn so với thị trường chứng khoán tại các nền kinh tế đang phát triển là chi phí xử lý thông tin. Với lợi thế về kinh tế theo quy mô và sự chuyên môn hóa trong hoạt động thu thập và xử lý thông tin, các trung gian tài chính có khả năng giảm đáng kể chi phí liên quan đến việc thu thập và xử lý thông tin về doanh nghiệp và đội ngũ quản lý, từ đó làm giảm chi phí đại diện thông qua việc đảm nhận vai trò “người giám sát được ủy quyền” (Boyd và Prescott, 1986; Diamond, 1984).

Boot và Thakor (1997) cho rằng cho vay ngân hàng là kênh quan trọng đối với các doanh nghiệp có mức độ rủi ro đạo đức cao (thông tin không minh bạch, không đầy đủ và hệ thống pháp lý chưa đủ phát triển để ràng buộc trách nhiệm công bố thông tin…). Ngược lại, các doanh nghiệp có hệ thống thông tin minh bạch và đầy đủ hơn, cùng với cơ chế quản trị chuẩn mực và dễ theo dõi, thường có xu hướng huy động vốn từ thị trường vốn hơn so với từ hệ thống ngân hàng.

Thêm vào đó, tại các nền kinh tế đang phát triển, khi phần lớn doanh nghiệp còn có quy mô nhỏ và tiềm lực tài chính hạn chế, họ có động cơ mạnh hơn để trục lợi từ tình trạng bất cân xứng thông tin và do đó có xu hướng tham gia thị trường vốn hơn là thị trường tín dụng ngân hàng. Việc nhiều doanh nghiệp như vậy cùng tham gia thị trường vốn làm gia tăng mức độ rủi ro đối với nhà đầu tư, đồng thời khiến các doanh nghiệp chất lượng tốt cũng gặp khó khăn trong việc huy động vốn, do chi phí để nhà đầu tư phân biệt giữa doanh nghiệp tốt và doanh nghiệp kém là quá lớn. Đây cũng là một trong những nguyên nhân khiến thị trường vốn ở các nước đang phát triển gặp nhiều khó khăn trong quá trình phát triển, và nguồn vốn của nền kinh tế chủ yếu được huy động thông qua thị trường tín dụng ngân hàng. Như Stiglitz đã nhận xét, trong bối cảnh đó, thị trường vốn có xu hướng vận hành mang tính đầu cơ cao.

Mô hình phát triển dựa vào ngân hàng được quan sát rõ rệt tại Hàn Quốc, Trung Quốc và Việt Nam (Hình 6). Các lập luận lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm đều cho thấy rằng, để đạt được tăng trưởng kinh tế nhanh trong thời gian tới, nền kinh tế vẫn cần dựa chủ yếu vào hệ thống ngân hàng, trong khi thị trường vốn đóng vai trò bổ trợ, tập trung cung ứng vốn cho các doanh nghiệp lớn có mức độ minh bạch cao và triển vọng phát triển tương đối dễ đánh giá.

Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

2.4. Tín dụng cần thiết cho các kịch bản tăng trưởng 10%

Dư nợ tín dụng là một biến điểm (stock), còn đầu tư là một biến dạng lưu lượng (flow). Do đó, để xác định mối quan hệ giữa tín dụng và đầu tư, bài nghiên cứu sử dụng giá trị trung bình cộng của dư nợ tín dụng trong hai năm liên tiếp để đại diện cho mức độ tín dụng được sử dụng trong nền kinh tế trong năm sau, cụ thể: Tt = (Crt + Crt-1)/2

Sử dụng hàm hồi quy sai phân bậc 1 của log biến tín dụng Tt và log biến đầu tư It (sau khi kiểm tra tính dừng và đồng liên kết) cho thấy mô hình giải thích tốt ở mức 85%. Dựa vào mô hình này cùng với các ước tính về nhu cầu đầu tư đã trình bày ở trên, bài nghiên cứu xây dựng kịch bản về nhu cầu tín dụng cho các năm tiếp theo tương ứng với từng kịch bản tăng trưởng.

Kết quả ước lượng cho thấy tốc độ tăng tín dụng cần thiết để đạt tăng trưởng GDP thực bình quân 10%/năm trong giai đoạn 2026 - 2030 phụ thuộc đáng kể vào hiệu quả sử dụng vốn.

Thứ nhất, trong kịch bản hiệu quả sử dụng vốn cao (tỉ lệ đầu tư/GDP duy trì ở mức khoảng 32%), tốc độ tăng tín dụng bình quân cần đạt khoảng 17,45%/năm.

Thứ hai, trong kịch bản cơ sở - giả định hiệu quả sử dụng vốn của Việt Nam tương đương với các nền kinh tế châu Á trong các giai đoạn tăng trưởng cao (tỉ lệ đầu tư/GDP khoảng 38%) - nhu cầu tăng tín dụng bình quân giai đoạn 2026 - 2030 ước tính vào khoảng 23,45%/năm.

Thứ ba, trong kịch bản hiệu quả sử dụng vốn thấp (tỉ lệ đầu tư/GDP đạt khoảng 40%), tốc độ tăng tín dụng bình quân cần đạt khoảng 25,3%/năm. (Hình 7 và Bảng 1)

Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới
Vai trò của ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

3. Kết luận

Để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng GDP tối thiểu 10% trong 5 năm tới (2026 - 2030), hệ thống ngân hàng đóng vai trò là "điểm tựa" chiến lược không thể thay thế. Trong bối cảnh Việt Nam, ngân hàng không chỉ đơn thuần là kênh dẫn vốn mà còn là định chế chuyên biệt trong việc xử lý bất đối xứng thông tin và quản trị rủi ro hệ thống. Sự cộng hưởng giữa kinh nghiệm nghiệp vụ truyền thống và các đột phá công nghệ như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn… tiếp tục nâng cao năng lực thẩm định, cho phép các ngân hàng mở rộng biên độ tín dụng hiệu quả hơn bao giờ hết. Ngược lại, kỳ vọng thị trường vốn có thể nhanh chóng thay thế vai trò của hệ thống ngân hàng trong tài trợ tăng trưởng là chưa phù hợp với điều kiện hiện nay. Một thị trường vốn vận hành hiệu quả đòi hỏi khuôn khổ pháp lý đầy đủ về thực thi hợp đồng, chuẩn mực công bố thông tin và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư, những yếu tố mà Việt Nam vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Trong bối cảnh này, việc mở rộng nhanh thị trường vốn mà không đi kèm với củng cố thể chế có thể làm gia tăng rủi ro biến động tài chính và tác động bất lợi đến ổn định vĩ mô.

Dự báo với kịch bản tăng trưởng cao và lạm phát mục tiêu đạt khoảng 3 - 4%/năm, nhu cầu tín dụng bình quân trong giai đoạn 2026 - 2030 được ước tính vào khoảng 23,45%/năm.

Theo đó, đến năm 2030, dư nợ tín dụng có thể đạt mức xấp xỉ 2,8 lần so với năm 2025, kéo theo yêu cầu gia tăng đáng kể vốn tự có của hệ thống ngân hàng (ước tính khoảng 2,5 lần) để đáp ứng các chuẩn mực an toàn vốn. Điều này vừa mở ra dư địa phát triển cho khu vực ngân hàng, vừa đặt ra yêu cầu cấp thiết về tái cấu trúc và tăng cường năng lực tài chính nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, hỗ trợ tăng trưởng bền vững, góp phần phục vụ mục tiêu phát triển thịnh vượng của quốc gia.

1 Số liệu trong bài báo của Stiglitz thuộc giai đoạn 1990s trở về trước (Stiglitz, "Role of the State in Financial Markets", Proceedings of World Bank annual conference on Development Economics 1993).

TS. Nguyễn Tú Anh
Giám đốc Nghiên cứu Chính sách, Trường Đại học VinUni

Tin bài khác

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Bài viết phân tích sự chuyển dịch của ngành Ngân hàng từ mô hình cung cấp sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái số gắn với phong cách sống, làm rõ các mô hình tiêu biểu trên thế giới và đề xuất những hàm ý chiến lược giúp ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Xem thêm
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy