Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo - Động lực phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Hoạt động ngân hàng
Ngày 18/5 là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam, tôn vinh trí thức và khẳng định vai trò của khoa học, công nghệ trong phát triển bền vững. Với ngành Ngân hàng, đây là ngày có ý nghĩa quan trọng, tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số và xây dựng hệ sinh thái tài chính số hiện đại, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm.
aa

Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam là một dấu mốc có ý nghĩa đặc biệt nhằm tôn vinh đội ngũ trí thức, nhà khoa học và cán bộ nghiên cứu; đồng thời khẳng định vai trò then chốt của khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đối với sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Đây cũng là dịp để các ngành, các cấp nhìn lại những thành tựu đã đạt được, khơi dậy tinh thần sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số và tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Đối với ngành Ngân hàng Việt Nam, ngày này càng có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh toàn Ngành đang đẩy mạnh chuyển đổi số, hiện đại hóa hoạt động ngân hàng, hướng tới xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, thông minh, lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm phục vụ.

Phát triển Khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh (Nguồn ảnh: Inetrnet)
Phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng, tạo bứt phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh (Nguồn ảnh: Internet)

Sôi nổi các hoạt động chào mừng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo

Ngày 18/5 hằng năm được chọn là Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam theo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025. Mốc thời gian này gắn với sự kiện Chủ tịch Hồ Chí Minh gặp mặt giới trí thức vào ngày 18/5/1963 tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ nhất của Hội Phổ biến khoa học và kỹ thuật Việt Nam (tiền thân của Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam).

Đến năm 2013, Quốc hội thông qua Luật Khoa học và Công nghệ, thống nhất chọn ngày 18/5 là Ngày Khoa học và Công nghệ Việt Nam. Theo Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có hiệu lực từ tháng 10/2025, sự kiện này được đổi tên thành Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam.

Hưởng ứng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam năm 2026, các bộ, ngành và địa phương trên cả nước tổ chức nhiều hoạt động thiết thực từ ngày 12 - 18/5. Đây là chuỗi sự kiện nhằm tôn vinh đội ngũ trí thức, nhà khoa học, cán bộ quản lý, doanh nghiệp cùng các tổ chức, cá nhân hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến và ứng dụng các thành tựu nổi bật. Qua đó, góp phần khẳng định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nền tảng, động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng mới.

Chuỗi sự kiện góp phần đẩy mạnh phong trào thi đua, nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo; tăng cường kết nối hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, thu hút nguồn lực chất lượng cao. Đây cũng là dịp phát hiện, bồi dưỡng và tôn vinh các tập thể, cá nhân tiêu biểu, qua đó tạo động lực mới thúc đẩy phát triển khoa học và công nghệ, đóng góp thiết thực vào phát triển kinh tế - xã hội trong kỷ nguyên mới. Các hoạt động này cũng góp phần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến và ứng dụng những thành tựu nổi bật; qua đó khẳng định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là nền tảng, động lực chủ yếu của mô hình tăng trưởng mới.

Năm 2026 với chủ đề: “Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số - Động lực chính của mô hình tăng trưởng mới”, các cơ quan, đơn vị triển khai nhiều hoạt động hưởng ứng Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam như treo băng rôn, khẩu hiệu tại trụ sở; tổ chức lễ phát động; sản xuất, phát sóng phóng sự, phim tài liệu; đăng tải tin, bài giới thiệu về thành tựu khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trên phương tiện thông tin đại chúng, cổng thông tin điện tử, nền tảng số và mạng xã hội. Các phong trào thi đua và hoạt động tôn vinh các tổ chức, cá nhân có đóng góp tiêu biểu trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cũng được phát động và triển khai.

Chuyển đổi số ngành Ngân hàng - Dấu ấn nổi bật của ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo

Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo của Đảng, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), ngành Ngân hàng luôn đi đầu trong ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Với quan điểm lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, coi sự thuận tiện và trải nghiệm của khách hàng là thước đo, ngành Ngân hàng đã triển khai nhiều giải pháp nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, khuyến khích đổi mới sáng tạo và đẩy mạnh chuyển đổi số trong giai đoạn mới, qua đó đạt được nhiều kết quả tích cực.

Về xây dựng và hoàn thiện thể chế, NHNN đã chủ động nghiên cứu, tham mưu trình các cấp có thẩm quyền ban hành, đồng thời ban hành theo thẩm quyền nhiều văn bản quy phạm pháp luật nhằm thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số và phát triển thanh toán không dùng tiền mặt. Bên cạnh đó, NHNN cũng ban hành nhiều thông tư hướng dẫn và các quy định về bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng; từng bước tháo gỡ các vướng mắc pháp lý, tạo điều kiện cho việc ứng dụng mạnh mẽ các công nghệ mới như xác thực qua ứng dụng định danh điện tử (VNeID) và chuẩn hóa an toàn hệ thống thông tin.

Thống đốc NHNN đã chỉ đạo kiện toàn Ban Chỉ đạo và Tổ giúp việc của Ngành tập trung vào 5 trụ cột: Phát triển khoa học, công nghệ; đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; dữ liệu và Đề án 06 (theo Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án về phát triển ứng dụng dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030).

Theo Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, NHNN đã ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng nhằm triển khai Nghị quyết, với 105 nhiệm vụ trọng tâm. Những chỉ đạo này đã định hướng rõ ràng cho toàn Ngành trong việc nghiên cứu và triển khai các nhiệm vụ về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Bên cạnh đó, hạ tầng phục vụ chuyển đổi số của ngành Ngân hàng luôn được chú trọng đầu tư, nâng cấp và phát triển. Hệ thống Thanh toán điện tử liên ngân hàng vận hành thông suốt, an toàn, hiệu quả. Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử được tích hợp, kết nối với các sản phẩm, dịch vụ và nền tảng của nhiều ngành, lĩnh vực khác. NHNN cũng đã triển khai hợp tác thanh toán bán lẻ song phương qua mã QR giữa Việt Nam và một số quốc gia như Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Hàn Quốc; đồng thời tiếp tục mở rộng hợp tác với các quốc gia khác trong thời gian tới.

Công tác bảo đảm an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán và các hệ thống thông tin phục vụ nghiệp vụ ngân hàng luôn được đặc biệt chú trọng. NHNN đã triển khai Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro cho khách hàng (SIMO). Hệ thống này cho phép các tổ chức thành viên báo cáo các tài khoản có dấu hiệu đáng ngờ, đồng thời chia sẻ thông tin tới các đơn vị khác trong hệ thống. Trên cơ sở nguồn dữ liệu tập trung từ SIMO, các tổ chức tín dụng (TCTD) có thể kịp thời đưa ra quyết định ngăn chặn giao dịch hoặc yêu cầu xác thực, định danh tài khoản trước khi thực hiện giao dịch trực tuyến; qua đó, góp phần giảm thiểu gian lận, lừa đảo và bảo vệ an toàn tài khoản khách hàng.

Theo Vụ Thanh toán (NHNN), tính đến ngày 27/4/2026, Hệ thống SIMO đã phát cảnh báo tới hơn 3,8 triệu lượt khách hàng; trong đó, hơn 1,2 triệu lượt đã chủ động tạm dừng hoặc hủy giao dịch sau khi nhận cảnh báo, với tổng giá trị giao dịch liên quan trên 4,3 nghìn tỉ đồng. Đây là minh chứng rõ nét cho thấy chuyển đổi số không chỉ nâng cao tiện ích mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng và tăng cường an toàn trong hoạt động ngân hàng.

Công tác cải cách hành chính gắn với số hóa toàn trình tiếp tục được đẩy mạnh, góp phần tiết giảm chi phí cho người dân và doanh nghiệp. Nhiều năm liên tiếp, NHNN nằm trong nhóm dẫn đầu các bộ, ngành về chỉ số cải cách hành chính.

NHNN đã chủ động, quyết liệt đề xuất cắt giảm, đơn giản hóa 269/298 thủ tục hành chính (đạt 90,3%), đồng thời cắt giảm 255 điều kiện kinh doanh. Năm 2025, NHNN chính thức cung cấp thêm 32 dịch vụ công trực tuyến toàn trình, nâng tổng số lên 57 dịch vụ; qua đó hoàn thành mục tiêu 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện liên quan đến doanh nghiệp được nâng cấp lên dịch vụ công toàn trình.

Ngoài ra, hưởng ứng phong trào “Bình dân học vụ số”, ngày 27/5/2025, NHNN đã tổ chức Hội nghị phát động các phong trào “Cả nước thi đua đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” và “Bình dân học vụ số” trong ngành Ngân hàng, gắn với việc triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW. Các phong trào này nhằm phổ cập tri thức, kỹ năng số, đồng thời khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo trong mỗi cán bộ, TCTD và toàn hệ thống ngân hàng. Tinh thần chủ động cải tiến quy trình, ứng dụng công nghệ số đã lan tỏa rộng khắp, giúp toàn Ngành ghi nhận 1.484 sáng kiến, trong đó có 37 sáng kiến số được đăng ký trên Cổng Sáng kiến Khoa học và Công nghệ của Bộ Khoa học và Công nghệ. Ngành cũng đã xây dựng đội ngũ hơn 2.600 “Đại sứ số” và “Hạt nhân số” tại các đơn vị, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số từ cơ sở.

Về phía các TCTD, trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo chính là động lực then chốt để nâng cao năng suất lao động, quản trị rủi ro hiệu quả và phát triển bền vững.

Ngành Ngân hàng đã chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ từ mô hình ngân hàng truyền thống sang ngân hàng số, ngân hàng thông minh và tài chính mở. Hàng loạt công nghệ hiện đại như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), công nghệ chuỗi khối (Blockchain), sinh trắc học, tự động hóa quy trình bằng robot (RPA)… được nghiên cứu, ứng dụng sâu rộng trong hoạt động ngân hàng. Nếu như trước đây, các giao dịch tài chính chủ yếu thực hiện trực tiếp tại quầy, thì nay, chỉ với một chiếc điện thoại thông minh, người dân có thể mở tài khoản trực tuyến bằng quy trình định danh khách hàng điện tử (eKYC), chuyển tiền tức thời 24/7, thanh toán mã QR, gửi tiết kiệm online, vay vốn số hay sử dụng nhiều dịch vụ tài chính hiện đại khác. Các TCTD tích cực nghiên cứu và triển khai ngân hàng số, ứng dụng AI trong chăm sóc khách hàng, phân tích dữ liệu để cá thể hóa dịch vụ, tăng cường bảo mật bằng sinh trắc học và xác thực đa lớp. Nhiều quy trình nội bộ được tự động hóa, giúp giảm thời gian xử lý hồ sơ, nâng cao hiệu quả hoạt động. Những bước tiến ấy là minh chứng rõ nét cho vai trò của khoa học, công nghệ trong việc thay đổi phương thức cung ứng dịch vụ ngân hàng.

Tinh thần đổi mới sáng tạo còn được thể hiện ở việc các ngân hàng chủ động hợp tác với doanh nghiệp công nghệ tài chính (Fintech), thúc đẩy xây dựng hệ sinh thái số toàn diện, gia tăng tiện ích cho người dân và doanh nghiệp. Những sáng kiến đổi mới không chỉ giúp tiết giảm chi phí vận hành mà còn mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính đến vùng sâu, vùng xa, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện.

Đến nay, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số của ngành Ngân hàng đã phát triển đa dạng, với nhiều phương thức thanh toán hiện đại, tiện lợi, được kết nối liên thông và tích hợp liền mạch với các ngành, lĩnh vực khác, đáp ứng tốt nhu cầu ngày càng đa dạng của khách hàng. Nhiều nghiệp vụ cơ bản đã được số hóa hoàn toàn.

Tính đến hết quý I/2026, nhiều TCTD tại Việt Nam ghi nhận trên 90% giao dịch được thực hiện qua kênh số. Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tiếp tục tăng trưởng mạnh; trong năm 2025, tổng giá trị giao dịch đạt khoảng 28 lần GDP, cho thấy sự thay đổi rõ nét trong thói quen thanh toán của người dân. Trong kết nối và liên thông dữ liệu, ngành Ngân hàng tiếp tục chú trọng đầu tư, nâng cấp hạ tầng dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả quản lý và phát triển sản phẩm, dịch vụ, bảo đảm dữ liệu được cập nhật “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung”.

Ngành đã đạt nhiều kết quả quan trọng trong khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, hệ thống định danh và xác thực điện tử VNeID, cũng như căn cước công dân gắn chíp để làm sạch dữ liệu khách hàng và định danh chính xác người sử dụng dịch vụ. Tính đến hết ngày 24/4/2026, đã có hơn 156,6 triệu hồ sơ khách hàng (trong đó hơn 154,5 triệu hồ sơ cá nhân và hơn 2,13 triệu hồ sơ tổ chức) được đối chiếu thông tin sinh trắc học qua căn cước công dân gắn chíp hoặc ứng dụng VNeID. Kết quả này góp phần loại bỏ tài khoản ảo, nâng cao tính minh bạch và an toàn cho toàn hệ thống.

Những kết quả đạt được không chỉ khẳng định vai trò tiên phong của ngành Ngân hàng trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, mà còn đóng góp quan trọng vào tăng trưởng kinh tế, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của người dân, doanh nghiệp. Tuy nhiên, ngành Ngân hàng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức mới. Tội phạm công nghệ ngày càng gia tăng với thủ đoạn tinh vi, khó lường, làm gia tăng rủi ro an ninh mạng. Trong khi đó, dữ liệu vẫn còn phân tán, thiếu đồng bộ, chất lượng chưa đồng đều; việc chuẩn hóa, chia sẻ và liên thông dữ liệu giữa các ngành, lĩnh vực chưa thực sự thông suốt. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực chất lượng cao, am hiểu cả nghiệp vụ và công nghệ phục vụ chuyển đổi số vẫn còn thiếu hụt.

Tiếp tục phát huy trí tuệ và khơi dậy khát vọng đổi mới sáng tạo trong ngành Ngân hàng

Để tiếp tục thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, thời gian tới, ngành Ngân hàng sẽ tập trung triển khai các giải pháp trọng tâm như: Hoàn thiện cơ chế, chính sách và hành lang pháp lý; chuẩn hóa, khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu chuyên ngành; phát huy vai trò của dữ liệu trong hỗ trợ điều hành của NHNN; tăng cường phối hợp với các bộ, ngành trong triển khai Đề án 06 và Nghị quyết 57-NQ/TW. Đồng thời, bảo đảm an ninh mạng, an ninh dữ liệu và an toàn thông tin được xác định là yêu cầu xuyên suốt, không tách rời quá trình chuyển đổi số. Việc phát triển sản phẩm, dịch vụ số phải gắn với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm vận hành liên tục các hệ thống thông tin quan trọng và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của khách hàng.

Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng tiếp tục chú trọng phát triển nguồn nhân lực số thông qua đào tạo, phổ cập kỹ năng và thu hút nhân lực chất lượng cao; đồng thời đẩy mạnh công tác truyền thông nhằm nâng cao nhận thức, hiểu biết của khách hàng về ứng dụng công nghệ, cũng như các cảnh báo cần thiết để phòng, tránh rủi ro khi giao dịch trên môi trường điện tử.

Ngày Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo Việt Nam là dịp để mỗi cán bộ ngành Ngân hàng nhận thức sâu sắc hơn về vai trò của tri thức, công nghệ và tinh thần đổi mới trong thực hiện nhiệm vụ chuyên môn. Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, mỗi cán bộ cần không ngừng học tập, nâng cao trình độ công nghệ, chủ động thích ứng với phương thức làm việc mới, tích cực nghiên cứu và đề xuất sáng kiến nhằm nâng cao hiệu quả công tác. Cùng với đó, các cơ quan, đơn vị trong ngành cần tiếp tục xây dựng môi trường làm việc khuyến khích sáng tạo, thúc đẩy nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ mới và phát triển nguồn nhân lực số chất lượng cao; coi đổi mới sáng tạo là động lực quan trọng để nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành và chất lượng phục vụ.

Phát huy truyền thống đổi mới, đoàn kết và sáng tạo, ngành Ngân hàng Việt Nam sẽ tiếp tục tiên phong trong chuyển đổi số, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại, hướng tới xây dựng hệ thống ngân hàng an toàn, minh bạch, hiện đại và bền vững; qua đó góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế số, xã hội số và xây dựng đất nước hùng cường trong kỷ nguyên mới.

Hà Trang (NHNN)

Tin bài khác

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Trên cơ sở phân tích thực tiễn hoạt động tín dụng số ngắn hạn tại Việt Nam, bài viết đánh giá tác động của loại hình tín dụng này đến hành vi vay và rủi ro nợ của người tiêu dùng trẻ, đồng thời đưa ra một số hàm ý đối với công tác quản trị rủi ro và xây dựng chính sách.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Xem thêm
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại