Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Hoạt động ngân hàng
Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
aa
Ngành Ngân hàng tiếp tục phát huy vai trò kênh dẫn vốn quan trọng, góp phần khơi thông nguồn lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng (Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ)y
Ngành Ngân hàng tiếp tục phát huy vai trò kênh dẫn vốn quan trọng, góp phần khơi thông nguồn lực cho đầu tư sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng (Nguồn: Báo Điện tử Chính phủ)

Ngày 07/8/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành văn bản số 7125/NHNN-TD gửi các ngân hàng thương mại (NHTM) và NHNN chi nhánh tại các Khu vực về việc triển khai Chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV). Chương trình tập trung giảm lãi suất cho vay, tháo gỡ điều kiện tài sản bảo đảm và thúc đẩy các ngành công nghệ, sản xuất chiến lược nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của Chính phủ. Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, nhiều NHTM đang đẩy mạnh triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi hướng tới DNNVV, doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh trong các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế.

Thời gian qua, ngành Ngân hàng tiếp tục phát huy vai trò là một trong những kênh dẫn vốn quan trọng của nền kinh tế, góp phần khơi thông nguồn lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy các động lực phát triển. Trong bối cảnh mục tiêu tăng trưởng hai con số đặt ra yêu cầu lớn về nguồn lực, hệ thống ngân hàng cần tiếp tục chủ động triển khai đồng bộ các giải pháp về nguồn vốn, lãi suất và điều kiện tiếp cận tín dụng, nhất là đối với DNNVV. Qua đó, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn, duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế bền vững.

Thêm cơ hội tiếp cận vốn với chi phí hợp lý cho DNVVV

Theo văn bản số 7125/NHNN-TD, NHNN đề nghị các NHTM phát huy trách nhiệm xã hội của hệ thống ngân hàng, chủ động tiết giảm chi phí, cân đối, bố trí nguồn lực để xây dựng và triển khai các chương trình, sản phẩm, gói tín dụng phù hợp trên tinh thần đồng hành, chia sẻ với người dân, doanh nghiệp. Trong đó, ưu tiên xây dựng và triển khai Chương trình tín dụng hướng đến các động lực tăng trưởng kinh tế và DNNVV.

Đối tượng vay vốn gồm DNNVV; doanh nghiệp, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh trong các lĩnh vực ưu tiên và động lực tăng trưởng như nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, chế biến, chế tạo và các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh theo quy định pháp luật.

Lãi suất cho vay ưu đãi bằng đồng Việt Nam thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với mức lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn (ngắn hạn, trung hạn, dài hạn) của chính ngân hàng cho vay tại từng thời kỳ. Đồng thời, ngân hàng thực hiện miễn, giảm các loại phí dịch vụ (nếu có) đối với khách hàng, phù hợp với quy định pháp luật, quy mô và năng lực hoạt động của ngân hàng.

Trường hợp khách hàng đủ điều kiện hưởng ưu đãi từ nhiều chương trình, gói tín dụng, ngân hàng chủ động cân đối nguồn lực để áp dụng một hoặc nhiều chính sách hỗ trợ phù hợp với nhu cầu của khách hàng và điều kiện, năng lực của mình. Việc thẩm định, quyết định cho vay, phân loại nợ, trích lập dự phòng và xử lý rủi ro đối với các khoản vay được thực hiện theo quy định hiện hành.

NHNN đề nghị các NHTM nhà nước phát huy vai trò tiên phong, gương mẫu trong bố trí nguồn lực, triển khai tín dụng ưu đãi hướng tới các động lực tăng trưởng kinh tế và DNNVV; đồng thời, khuyến khích các NHTM khác chủ động tham gia, xây dựng các chương trình, sản phẩm, gói tín dụng phù hợp với điều kiện và năng lực nguồn lực, qua đó góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số và hỗ trợ phát triển DNNVV. Bên cạnh đó, các NHTM cần tăng cường công tác thông tin, truyền thông sản phẩm, dịch vụ để doanh nghiệp và người dân nắm bắt, tiếp cận và thụ hưởng chính sách; thực hiện công bố lãi suất cho vay các chương trình tín dụng, gói tín dụng và các loại lãi suất cho vay khác (nếu có) trên trang thông tin điện tử của ngân hàng, bảo đảm thông tin công khai, minh bạch, tạo điều kiện thuận lợi cho khách hàng trong quá trình tiếp cận vốn vay.

Đối với NHNN chi nhánh tại các Khu vực, NHNN yêu cầu tăng cường chỉ đạo, theo dõi việc triển khai Chương trình tín dụng của các ngân hàng trên địa bàn; phối hợp với các sở, ngành kịp thời tháo gỡ vướng mắc phát sinh, tạo điều kiện thuận lợi cho các ngân hàng thực hiện Chương trình. Những vấn đề vượt thẩm quyền cần được báo cáo kịp thời Thống đốc NHNN để xem xét, xử lý.

Thực hiện chỉ đạo của Chính phủ và NHNN, nhiều NHTM đã đẩy mạnh triển khai các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ DNNVV, doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh trong các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế.

NHTM cổ phần Công Thương Việt Nam (VietinBank) đã công bố Chương trình tín dụng quy mô lên tới 50.000 tỉ đồng, triển khai đến hết năm 2028 dành cho doanh nghiệp, đặc biệt là DNNVV, cá nhân hoạt động trong các lĩnh vực có vai trò thúc đẩy tăng trưởng như nông nghiệp, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, chế biến - chế tạo và các dự án thuộc Danh mục phân loại xanh theo quy định pháp luật. Khách hàng tham gia chương trình được hưởng lãi suất thấp hơn 1%/năm so với mức lãi suất cho vay thông thường cùng kỳ hạn; đối với các khoản vay trung và dài hạn, thời gian ưu đãi có thể lên tới 12 tháng. Cùng với đó, VietinBank thực hiện tinh gọn thủ tục, quy trình, tạo thuận lợi để khách hàng nhanh chóng tiếp cận vốn, phục vụ đầu tư và mở rộng sản xuất, kinh doanh.

Không riêng VietinBank, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cũng đã triển khai Chương trình tín dụng ưu đãi quy mô 70.000 tỉ đồng, bắt đầu từ tháng 8/2026 và kéo dài đến năm 2028. Đối tượng thụ hưởng gồm DNNVV, doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh thuộc lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế. Lãi suất ưu đãi được giảm từ 1-2%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn của Agribank. Nguồn vốn được định hướng vào các lĩnh vực như nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp hỗ trợ, công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp bán dẫn, chế biến, chế tạo và các dự án xanh (Agribank, 2026).

NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cũng đã công bố Chương trình tín dụng ưu đãi trên toàn hệ thống với quy mô lên đến 50.000 tỉ đồng, áp dụng từ tháng 8/2026 đến hết tháng 12/2028 hoặc đến khi giải ngân hết quy mô chương trình. DNNVV có tình hình tài chính lành mạnh, đáp ứng điều kiện cấp tín dụng sẽ được hưởng lãi suất thấp hơn tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay bình quân cùng kỳ hạn hiện hành tại BIDV khi vay vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh. Ngoài DNNVV, BIDV còn hướng đến các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực tạo động lực tăng trưởng như công nghệ cao, xuất khẩu, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, công nghiệp hỗ trợ, bán dẫn, chế biến, chế tạo và các dự án xanh.

Đồng hành cùng các NHTM Nhà nước, khối NHTM cổ phần cũng đang chủ động giảm chi phí vốn cho doanh nghiệp. Theo NHTM cổ phần Quốc Dân (NCB), từ ngày 11/8/2026, ngân hàng triển khai chính sách giảm 0,5%/năm lãi suất cho vay đối với toàn bộ các gói vay dành cho khách hàng cá nhân và doanh nghiệp. Đáng chú ý, các DNNVV được giảm đồng loạt 0,5%/năm lãi suất ở tất cả kỳ hạn vay, với lãi suất ngắn hạn từ 10%/năm trong 3 tháng đầu. NCB ưu tiên tài trợ vốn cho các dự án xanh, kinh tế số, doanh nghiệp xây lắp, cung ứng vật liệu xây dựng, đặc biệt là các doanh nghiệp tham gia chuỗi công trình trọng điểm quốc gia. Đối với doanh nghiệp quy mô lớn vận hành theo chuỗi, hệ sinh thái, ngân hàng cũng giảm 0,5%/năm lãi suất, với mức thấp nhất từ 10,45%/năm.

NHTM cổ phần Lộc Phát Việt Nam (LPBank) cũng dành nguồn vốn 2.000 tỉ đồng hỗ trợ các DNNVV có dòng tiền tốt, doanh thu ổn định và lịch sử tín dụng tốt. Ngân hàng ưu tiên các doanh nghiệp hoạt động trong những lĩnh vực mũi nhọn như công nghiệp hỗ trợ, chế tạo, xuất khẩu, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo. Từ ngày 11/8/2026 đến hết tháng 12/2026, gói tín dụng ưu đãi giảm lãi suất tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay thông thường. Chương trình tập trung vào ba nhu cầu thiết yếu gồm bổ sung vốn lưu động, phát hành bảo lãnh và tài trợ xuất khẩu. LPBank áp dụng chính sách lãi suất ưu đãi cho các khách hàng, cụ thể, lãi suất được giảm tối thiểu 1%/năm so với lãi suất cho vay thông thường. Mức ưu đãi cụ thể được xác định dựa trên xếp hạng tín dụng, chất lượng dòng tiền và chính sách của LPBank trong từng thời kỳ. Cách thức xác định ưu đãi theo năng lực tài chính, chất lượng tín dụng giúp chính sách được áp dụng phù hợp với từng khách hàng, đồng thời khuyến khích doanh nghiệp duy trì hoạt động tài chính lành mạnh, dòng tiền ổn định và lịch sử tín dụng tốt (LPBank, 2026).

Với doanh nghiệp, việc giảm chi phí lãi vay có thể tạo thêm dư địa để cân đối dòng tiền, duy trì hoạt động sản xuất, kinh doanh hoặc phân bổ nguồn lực cho các kế hoạch đầu tư, mở rộng đơn hàng và nâng cao năng lực vận hành.

Phối hợp đồng bộ nhiều giải pháp khơi thông dòng vốn cho tăng trưởng

Theo báo cáo của Bộ Tài chính, đến thời điểm 31/12/2025, khu vực DNNVV giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, song khả năng tiếp cận vốn tín dụng vẫn là một trong những điểm nghẽn đối với quá trình duy trì và mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh. Trong bối cảnh nền kinh tế đặt mục tiêu tăng trưởng cao, nhu cầu khơi thông dòng vốn cho nhóm doanh nghiệp này càng trở nên cấp thiết.

Trên thực tế, những hạn chế về tài chính thường khiến nhiều DNNVV ngần ngại đầu tư vào hệ thống máy móc, phần mềm quản trị, dữ liệu số hay trí tuệ nhân tạo. Do đó, việc ưu tiên dòng vốn cho các lĩnh vực này không chỉ giải quyết bài toán tài chính trước mắt, mà còn tạo dư địa để các doanh nghiệp nâng cấp hệ thống, sẵn sàng tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Theo các chuyên gia, các gói tín dụng ưu đãi mà ngành Ngân hàng triển khai có đi vào cuộc sống hay không tùy thuộc rất nhiều vào mức độ hấp thụ vốn của doanh nghiệp, bởi các ngân hàng vẫn phải đảm bảo an toàn vốn, không hạ chuẩn cho vay, tránh nguy cơ nợ xấu.

Để tiếp cận được các nguồn vốn ưu đãi thuộc Chương trình tín dụng mới nhất (áp dụng từ tháng 8/2026), các DNNVV buộc phải chủ động thay đổi tư duy quản trị và phương thức vận hành. Do hệ thống ngân hàng đang chuyển dịch mạnh mẽ sang cho vay dựa trên xếp hạng tín nhiệm dòng tiền và dữ liệu chuỗi cung ứng thay vì chỉ nhìn vào tài sản thế chấp, các DNNVV cần thực hiện ngay các thay đổi cốt lõi, trong đó có minh bạch hóa quản trị tài chính, chuẩn hóa sổ sách; chuyển đổi mô hình kinh doanh theo chuỗi giá trị, số hóa quy trình, nâng cao năng lực lập phương án kinh doanh; chủ động dịch chuyển theo xu hướng "xanh" và "số"; chuyển đổi quy trình sản xuất đáp ứng tiêu chuẩn xanh (như Cơ chế Điều chỉnh Biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu) để không bị mất đơn hàng quốc tế, đảm bảo nguồn điện ổn định, ưu tiên phát triển điện gió, điện mặt trời nhằm thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao từ các tập đoàn đa quốc gia. Các doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần tận dụng tối đa các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới để mở rộng xuất khẩu, tránh phụ thuộc vào một vài thị trường lớn.

Để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số, chính sách tiền tệ không thể "đơn độc" mà cần sự phối hợp nhịp nhàng, đồng bộ từ chính sách tài khóa. Trong đó cần các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế và phí để doanh nghiệp nuôi dưỡng nguồn thu, giảm giá thành hàng hóa, kích thích tiêu dùng nội địa trực tiếp.

Bên cạnh đó, cần đẩy mạnh đầu tư công, ưu tiên ngân sách tối đa cho các dự án giao thông trọng điểm (cao tốc, cảng biển, sân bay) và hạ tầng số. Hạ tầng hoàn thiện sẽ tự động làm giảm chi phí logistics cho doanh nghiệp. Các cơ quan, bộ, ngành cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong giải quyết thủ tục hành chính, nhằm giảm chi phí, tiết kiệm thời gian cho doanh nghiệp.

Nhà nước cần có các chính sách, chương trình nhằm đẩy mạnh xúc tiến thương mại số, qua đó hỗ trợ đưa nông sản, sản phẩm công nghiệp hỗ trợ lên các sàn thương mại điện tử toàn cầu (Amazon, Alibaba). Đồng thời, cần chú trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó tập trung ngân sách và xã hội hóa giáo dục để đào tạo kỹ sư thuộc ngành công nghiệp bán dẫn, chíp vi mạch và trí tuệ nhân tạo; khuyến khích mô hình liên kết sâu giữa trường đại học và doanh nghiệp để học viên ra trường có thể làm việc ngay.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, minh bạch hóa quy trình và nâng cao trách nhiệm của bộ máy thực thi nhằm tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, củng cố niềm tin cho doanh nghiệp, từ đó doanh nghiệp có thêm động lực để đầu tư, mở rộng sản xuất - kinh doanh và đổi mới sáng tạo.

Ngoài ra, bên cạnh nguồn vốn tín dụng, các cơ quan quản lý cũng cần tiếp tục đẩy mạnh hoàn thiện thị trường trái phiếu và các quỹ đầu tư để đa dạng hóa kênh tiếp cận tài chính cho doanh nghiệp, tránh phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống ngân hàng. Theo số liệu từ Ngân hàng Thế giới, tỉ lệ tín dụng/GDP của Việt Nam hiện đã vượt mốc 145%, khoảng 80% nguồn vốn huy động của hệ thống ngân hàng là tiền gửi ngắn hạn (dưới 12 tháng). Tuy nhiên, các ngân hàng đang cho vay tới 50% là các khoản vay trung và dài hạn để phục vụ doanh nghiệp đầu tư nhà xưởng, máy móc, hạ tầng. Khi tốc độ tăng trưởng tín dụng cao hơn tốc độ tăng trưởng huy động, cân đối nguồn vốn của các ngân hàng có thể chịu thêm áp lực. Trong bối cảnh đó, mặt bằng lãi suất cho vay trung và dài hạn có thể chưa giảm nhiều, qua đó có thể ảnh hưởng nhất định đến chi phí vốn của doanh nghiệp.

Nhìn chung, các chương trình tín dụng ưu đãi đang mở thêm cơ hội tiếp cận vốn với chi phí hợp lý cho DNNVV và các lĩnh vực động lực tăng trưởng. Tuy nhiên, để dòng vốn thực sự phát huy hiệu quả, cần sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách của Nhà nước, ngân hàng và doanh nghiệp. Cùng với việc tháo gỡ điểm nghẽn về tín dụng, doanh nghiệp cần nâng cao năng lực quản trị, minh bạch tài chính và đẩy mạnh chuyển đổi số, chuyển đổi xanh. Qua đó, nguồn vốn ngân hàng sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy sản xuất, đầu tư và mục tiêu tăng trưởng bền vững.

Tài liệu tham khảo

1. Agribank (2026), https://www.agribank.com.vn/vn/ve-agribank/tin-tuc-su-kien/tai-chinh-ngan-hang/agribank-kien-tao-dong-luc-khoi-thong-tin-dung-cho-kinh-te-nha-nuoc-va-kinh-te-tu-nhan-but-pha?utm_source=chatgpt.com

2. BIDV (2026), https://bidvinfo.com.vn/bidv-trien-khai-goi-tin-dung-uu-dai-50-000-ty-dong-cho-khach-hang-doanh-nghiep-10020213.html

3. NCB (2026), https://www.ncb-bank.vn/vi/tin-tuc/ncb-giam-0-5-lai-suat-cho-vay-tren-moi-phan-khuc-uu-tien-dong-von-cho-cac-dong-luc-tang-truong-kinh-te-n127579

4. LPBank (2026), https://lpbank.com.vn/tin-tuc/3597

5. VietinBank (2026), https://www.vietinbank.vn/tin-tuc/vietinbank-danh-50-000-ty-dong-tao-dong-luc-tang-truong-kinh-te-20260811071335-00-html

Hà Thu

Tin bài khác

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Dịch vụ ngân hàng số trong Trung tâm tài chính quốc tế: Khung năng lực vận hành và hàm ý cho Việt Nam

Sự hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đặt ra yêu cầu thiết kế thể chế mới: Dịch vụ ngân hàng số phục vụ IFC không thể được đồng nhất với các tiện ích số bán lẻ vốn đã phát triển nhanh trong thập kỷ qua. Trên cơ sở phân tích đối chứng giữa Singapore và Hồng Kông, bài viết xây dựng khung năng lực vận hành gồm bốn lớp hạ tầng (gia nhập thị trường, giao dịch, tuân thủ, niềm tin thị trường) và chỉ ra rằng sức mạnh của một IFC phụ thuộc vào độ sâu và khả năng liên thông của các lớp dịch vụ ở cấp độ tổ chức, không phải vào quy mô dịch vụ bán lẻ. Trên nền tảng đó, nghiên cứu đề xuất lộ trình ba giai đoạn cho IFC Việt Nam: (1) Chuẩn hóa định danh điện tử (eKYC) cho khách hàng phi cư trú, tài khoản đa tiền tệ và thanh toán xuyên biên giới theo chuẩn ISO 20022 trong giai đoạn 2026 - 2027; (2) Phát triển ngoại hối tổ chức, tài trợ thương mại số và lưu ký số trong giai đoạn 2027 - 2029; (3) Hoàn thiện công nghệ giám sát (SupTech), tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương (CBDC) bán buôn và cơ chế tường lửa tài chính từ năm 2029.
Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng: Nền tảng phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Việc xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính theo hướng hiện đại, an toàn, minh bạch và có khả năng kết nối quốc tế. Trong bối cảnh đó, hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số giữ vai trò then chốt; không chỉ hỗ trợ thanh toán, quản lý dòng tiền, giao dịch ngoại hối, tài trợ thương mại, mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của thị trường tài chính, cải thiện môi trường đầu tư và thúc đẩy phát triển kinh tế số.
Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Phát triển hoạt động ngân hàng trong Trung tâm tài chính quốc tế: Từ thiết kế chính sách đến khả năng triển khai thực tế

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC) là một bước đi chiến lược nhằm kết nối thị trường tài chính toàn cầu, thu hút và phân bổ hiệu quả các nguồn lực đầu tư, tận dụng cơ hội dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, qua đó thúc đẩy phát triển thị trường tài chính, đóng góp vào tăng trưởng bền vững và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Trong cấu trúc đó, hoạt động ngân hàng giữ vai trò nền tảng, vừa cung cấp dịch vụ tài chính, vừa góp phần hình thành và vận hành các dòng vốn trong nền kinh tế. Trên cơ sở phân tích định hướng chính sách tại Nghị quyết số 222/2025/QH15 ngày 27/6/2025 của Quốc hội về VIFC, Nghị định số 329/2025/NĐ-CP ngày 18/12/2025 của Chính phủ về cấp phép thành lập và hoạt động ngân hàng, quản lý ngoại hối, phòng chống rửa tiền, chống tài trợ khủng bố, chống tài trợ phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt tại VIFC và thực tiễn chuẩn bị của các ngân hàng thương mại (NHTM), cho thấy việc triển khai hoạt động ngân hàng tại VIFC đang được định hình theo cách tiếp cận thận trọng, có lộ trình.
Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của thông tin truyền thông về thị trường tài chính đến quyết định gửi tiết kiệm của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam, qua đó làm rõ vai trò của truyền thông trong định hướng hành vi tài chính và đề xuất các hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả truyền thông, củng cố niềm tin của người gửi tiền và bảo đảm ổn định hệ thống ngân hàng.
Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Một số luận điểm về áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế - IFRS 18 đối với các tổ chức tín dụng

Bài viết phân tích một số luận điểm áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) 18; trong đó, đề cập đến những hạn chế của Chuẩn mực Trình bày Báo cáo Tài chính (IAS 1) - Chuẩn mực được thay thế bởi IFRS 18, các điểm mới của IFRS 18 và một số lưu ý khi áp dụng đối với các tổ chức tín dụng.
Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Trên cơ sở phân tích thực tiễn hoạt động tín dụng số ngắn hạn tại Việt Nam, bài viết đánh giá tác động của loại hình tín dụng này đến hành vi vay và rủi ro nợ của người tiêu dùng trẻ, đồng thời đưa ra một số hàm ý đối với công tác quản trị rủi ro và xây dựng chính sách.
ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

ESG - Động lực nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng thương mại

Bài viết phân tích thực trạng triển khai tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị) tại các ngân hàng Việt Nam, làm rõ tác động của ESG đối với hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển ngân hàng bền vững và tăng cường khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
Xem thêm
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại