Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ
Tóm tắt: Quỹ bảo toàn đóng vai trò là “tấm khiên” tài chính quan trọng, góp phần ngăn chặn rủi ro đổ vỡ dây chuyền thông qua hoạt động cho vay hỗ trợ. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp phân tích số liệu thống kê thực tiễn, bài viết đánh giá toàn diện kết quả tích cực và hiệu quả phục hồi của các QTDND sau khi tiếp cận nguồn vốn của Quỹ bảo toàn. Bên cạnh đó, tác giả nhận diện những điểm sáng cùng một số bất cập trong khung pháp lý hiện hành, đặc biệt là rào cản từ tâm lý e ngại rủi ro pháp lý của Ban quản lý Quỹ bảo toàn khi thẩm định điều kiện vay. Qua đó, bài viết đề xuất các giải pháp nhằm triển khai hiệu quả quy định mới, giúp Quỹ bảo toàn phát huy tối đa vai trò bảo vệ an toàn hệ thống trong bối cảnh hiện nay.
Từ khóa: Quỹ bảo toàn, QTDND, cho vay hỗ trợ, bảo đảm khả năng chi trả.
THE ROLE OF PEOPLE’S CREDIT FUND SYSTEM SAFETY FUND
THROUGH SUPPORT LENDING PRACTICES
Abstract: People’s Credit Fund system Safety Fund serves as a critical financial "shield", contributing to the mitigation of systemic contagion risks through its supportive lending operations. Utilizing a qualitative research methodology coupled with the analysis of empirical statistical data, this article comprehensively evaluates the positive outcomes and recovery efficiency of People's Credit Funds following their access to the Safety Fund's capital. Concurrently, the author identifies key achievements alongside existing deficiencies within the current legal framework, particularly the barriers arising from the legal liability aversion of Safety Fund’s management board during the credit appraisal process. On that basis, the article proposes strategic solutions to effectively implement newly enacted regulations, thereby enabling the Preservation Fund to maximize its institutional role in safeguarding systemic stability in the contemporary context.
Keywords: Safety Fund, People's Credit Fund, supportive lending, ensuring solvency.
1. Đặt vấn đề
Hệ thống QTDND được xem là một kênh dẫn vốn quan trọng đến với nông dân ở khu vực nông thôn và người dân nghèo ở thành thị, đóng góp quan trọng trong công tác xóa đói, giảm nghèo, hạn chế tệ nạn tín dụng đen1. Tuy nhiên, do đặc thù quy mô nhỏ, năng lực quản trị còn hạn chế và tính liên kết hệ thống chặt chẽ, các QTDND luôn đối mặt với rủi ro thanh khoản và nguy cơ đổ vỡ dây chuyền khi có diễn biến bất lợi2. Để đối phó với thách thức này, bên cạnh các công cụ quản lý rủi ro như bảo hiểm tiền gửi hay cơ chế can thiệp sớm, kiểm soát đặc biệt và điều hòa vốn nội bộ, Quỹ bảo toàn được thành lập và phát huy vai trò là một trong những biện pháp can thiệp tài chính cốt lõi của toàn hệ thống.
Trong số các công cụ can thiệp của Quỹ bảo toàn, hoạt động cho vay hỗ trợ được xem là phương thức trực tiếp và hiệu quả nhất nhằm hỗ trợ thanh khoản kịp thời cho các QTDND gặp khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả3. Nhìn lại chặng đường hơn 10 năm từ thời điểm Quỹ bảo toàn được chính thức thành lập (2014 - 2026), thực tiễn triển khai hoạt động cho vay hỗ trợ đã ghi nhận nhiều dấu ấn tích cực trong việc ứng cứu các quỹ thành viên, song cũng bộc lộ các vướng mắc từ quy định pháp luật đến khâu thẩm định và quyết định cho vay. Bài viết tập trung phân tích, đánh giá thực trạng vận hành dòng vốn này dựa trên chuỗi dữ liệu thống kê; từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm khơi thông nguồn vốn, giúp Quỹ phát huy tối đa vai trò là chốt chặn an toàn tài chính cho toàn hệ thống.
2. Khung pháp lý về vị trí, chức năng và hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn
2.1. Vị trí pháp lý và chức năng của Quỹ bảo toàn
Quỹ bảo toàn là một quỹ tài chính đặc thù, đóng vai trò như một mạng lưới an toàn nội bộ thiết yếu của hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) là hợp tác xã.
Về mặt vị trí pháp lý và cơ chế sở hữu, Quỹ bảo toàn không phải là một pháp nhân độc lập hoạt động như một doanh nghiệp hay TCTD thông thường. Quỹ được thiết lập trên cơ sở sự đóng góp bắt buộc từ các tổ chức thành viên. Cụ thể, pháp luật quy định rõ một trong những trách nhiệm cốt lõi của các QTDND là phải “Tham gia bảo hiểm tiền gửi, quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND theo quy định của pháp luật”4. Nguồn vốn của Quỹ hình thành chủ yếu từ phí trích nộp định kỳ của các QTDND thành viên và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (NHHTX). Là một quỹ tài chính không có tư cách pháp nhân, Quỹ bảo toàn được đặt tại NHHTX và do cơ quan này trực tiếp quản lý, điều hành5. Việc giao trách nhiệm quản lý Quỹ bảo toàn cho NHHTX là hoàn toàn phù hợp với tôn chỉ hoạt động của tổ chức này, bởi lẽ pháp luật đã quy định NHHTX có “mục tiêu chủ yếu là liên kết, bảo đảm an toàn của hệ thống thông qua việc hỗ trợ tài chính và kiểm tra, giám sát hoạt động trong hệ thống QTDND”6.
Về nguyên tắc vận hành, hoạt động của Quỹ bảo toàn được duy trì dựa trên các nguyên tắc “cho vay có hoàn trả, không vì mục tiêu lợi nhuận, tự chủ, tự chịu trách nhiệm”7. Sự ra đời của Quỹ bảo toàn không nhằm mục đích kinh doanh sinh lời từ nguồn vốn nhàn rỗi của hệ thống, mà thực chất là sự thể chế hóa nguyên tắc tương trợ và cơ chế chia sẻ rủi ro những giá trị cốt lõi của mô hình kinh tế hợp tác.
Từ bản chất pháp lý đặc thù nêu trên, Quỹ bảo toàn có chức năng là một “tấm khiên” phòng vệ từ xa và là “người cho vay cứu cánh” trong nội bộ hệ thống. Thông qua cơ chế tương trợ hệ thống, Quỹ thực hiện nhiệm vụ cung ứng nguồn lực tài chính khẩn cấp, sẵn sàng can thiệp bằng nguồn vốn trực tiếp thông qua hình thức cho vay hỗ trợ đối với các QTDND đang “gặp khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả” hoặc bị đặt vào diện “kiểm soát đặc biệt”. Sự can thiệp này giúp khoanh vùng rủi ro thanh khoản ngay từ cơ sở, ngăn chặn nguy cơ đổ vỡ dây chuyền (hiệu ứng domino) lây lan sang các QTDND và TCTD khác, qua đó củng cố vững chắc niềm tin của người gửi tiền và duy trì an ninh tiền tệ quốc gia8.
2.2. Khung pháp lý hiện hành đối với hoạt động cho vay hỗ trợ
Hoạt động cho vay hỗ trợ được xác định là nghiệp vụ lõi và là công cụ can thiệp quan trọng nhất của Quỹ bảo toàn. Luật Các TCTD năm 2024 và các văn bản hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã thiết lập một hành lang pháp lý mang tính nguyên tắc, định hướng, đồng thời giao NHHTX ban hành quy chế nội bộ để cụ thể hóa các nghiệp vụ. Khung pháp lý này hiện tập trung vào các trụ cột cơ bản sau:
Thứ nhất, về nguyên tắc cho vay và cơ chế xử lý rủi ro. Theo quy định của pháp luật, Quỹ bảo toàn được sử dụng theo nguyên tắc cho vay có hoàn trả. Tuy nhiên, trên cơ sở các quy định có liên quan và thực tiễn hoạt động của Quỹ bảo toàn chỉ ra rằng, nguyên tắc này cần được hiểu một cách linh hoạt, phù hợp với bản chất của nghiệp vụ can thiệp khẩn cấp. Việc yêu cầu “có hoàn trả” nhằm duy trì kỷ luật tài chính và nâng cao trách nhiệm của tổ chức đi vay, nhưng không đồng nghĩa với việc tuyệt đối hóa các điều kiện về tài sản bảo đảm đến mức tước đi cơ hội tiếp cận vốn của các QTDND đang bên bờ vực sụp đổ. Thực tế cho thấy, rủi ro không thu hồi được vốn là hoàn toàn có thể xảy ra. Dự liệu cho trường hợp Quỹ bảo toàn phải đối mặt với rủi ro mất vốn, khoản 2 Điều 194 Luật Các TCTD năm 2024 đã quy định: “NHHTX được hạch toán giảm Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND để xử lý số tiền cho vay đặc biệt không thu hồi được”. Cụ thể hóa quy định của Luật Các TCTD năm 2024, Thông tư số 10/2026/TT-NHNN ngày 19/5/2026 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về NHHTX, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN quy định9, “NHHTX được hạch toán giảm Quỹ bảo toàn để xử lý số tiền cho vay đặc biệt không thu hồi được theo quy định của Luật Các TCTD” và giao nhiệm vụ cho NHHTX xây dựng Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ bảo toàn, trong đó quy định chi tiết về: “Nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền xử lý rủi ro đối với các khoản cho vay hỗ trợ không thu hồi được vốn; cơ chế hạch toán giảm Quỹ bảo toàn đối với khoản cho vay đặc biệt không thu hồi được theo quy định của pháp luật”.
Thứ hai, về các trường hợp cho vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn. Theo quy định tại Điều 27 Thông tư số 27/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về NHHTX, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND, nguồn vốn của Quỹ bảo toàn được kích hoạt trong ba tình huống cụ thể: (i) Cho vay hỗ trợ đối với QTDND gặp khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả; (ii) Cho vay QTDND áp dụng can thiệp sớm; và (iii) Cho vay đặc biệt đối với QTDND bị kiểm soát đặc biệt.
Đáng chú ý, khung pháp lý điều chỉnh các trường hợp cho vay đã ghi nhận một sự thay đổi quan trọng tại Thông tư số 10/2026/TT-NHNN. Cụ thể, trước khi Thông tư số 10/2026/TT-NHNN được ban hành, theo quy định tại Thông tư số 27/2024/TT-NHNN (trước đó là Thông tư số 03/2014/TT-NHNN ngày 23/01/2014 của Thống đốc NHNN quy định về Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND), trường hợp cho vay đối với QTDND gặp khó khăn về tài chính, khó khăn chi trả luôn được gắn liền với cụm từ “để có thể khắc phục trở lại hoạt động bình thường”.
Để làm rõ nghĩa và tránh các cách hiểu không thống nhất trong thực tiễn áp dụng, Thông tư số 10/2026/TT-NHNN đã chính thức loại bỏ cụm từ “có thể khắc phục trở lại hoạt động bình thường” và thay thế bằng cụm từ trực diện hơn là “để bảo đảm khả năng chi trả”. Sự điều chỉnh kỹ thuật này không làm thay đổi mục đích cốt lõi của hoạt động cho vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn, nhưng có ý nghĩa lớn trong việc định hình lại một cách tường minh, rõ ràng ranh giới giữa mục đích cứu trợ và điều kiện xét duyệt ở tầm văn bản quy phạm pháp luật, tạo cơ sở thực thi đồng bộ trong toàn hệ thống.
3. Thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn
3.1. Thực trạng cấp vốn và hiệu quả bảo đảm an toàn hệ thống
Sau hơn 10 năm được chính thức thành lập, hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn đã chứng minh được vai trò vô cùng quan trọng của Quỹ trong việc bảo đảm an toàn hệ thống. Tổng hợp dữ liệu từ các báo cáo tình hình hoạt động và tài chính của Quỹ bảo toàn qua các năm cho thấy bức tranh can thiệp toàn diện trên các khía cạnh sau:
Tăng trưởng quy mô giải ngân, kịp thời đáp ứng nhu cầu vay hỗ trợ của các QTDND: Số lượng QTDND được tiếp cận nguồn vốn và tổng doanh số cho vay hỗ trợ từ Quỹ bảo toàn có xu hướng gia tăng qua các năm là minh chứng cho sự phản ứng chủ động và kịp thời của Ban quản lý Quỹ bảo toàn, đáp ứng nhu cầu cấp bách của các QTDND. Thống kê cho thấy, từ thời điểm Quỹ bảo toàn được thành lập chính thức (năm 2014) đến hết ngày 31/5/2026, tổng doanh số cho vay lũy kế của Quỹ đạt 243.821 triệu đồng với 37 QTDND được hỗ trợ10. Cơ cấu dòng vốn này được phân định rõ ràng theo từng diện can thiệp cụ thể, bao gồm 23 QTDND vay vốn để xử lý khó khăn tài chính, 10 QTDND vay vốn để xử lý khó chi trả và 4 QTDND thuộc diện cho vay đặc biệt. Số lượt QTDND vay vốn và số tiền cho vay lũy kế từ Quỹ bảo toàn được minh họa tại Hình 1.
![]() |
Nâng cao chất lượng thu hồi nợ và hỗ trợ các QTDND phục hồi trở lại hoạt động bình thường: Thước đo thành công cốt lõi của Quỹ bảo toàn được định lượng rõ nhất qua bức tranh thu hồi nợ và sự phục hồi của các QTDND vay vốn. Dữ liệu thực tiễn đã và đang ghi nhận những tín hiệu tích cực trên cả hai bình diện:
(i) Sự sụt giảm của dư nợ lũy kế: Báo cáo tài chính cho thấy dư nợ đã liên tục giảm tốc từ mức 110,51 tỉ đồng (năm 2020) xuống còn 53,3 tỉ đồng vào năm 2025 (Hình 2). Cùng với đó, doanh số thu nợ tăng mạnh mẽ, đạt 179,5 tỉ đồng vào giữa năm 2025. Sự đối lập giữa việc tổng vốn giải ngân tăng nhưng dư nợ lại giảm cho thấy dòng tiền hỗ trợ không bị mất đi, mà đã giúp các QTDND vay vốn phục hồi, sinh lời và trả được nợ11.
(ii) Số lượng các QTDND vay hỗ trợ phục hồi trở lại hoạt động bình thường: Thống kê từ năm 2021 đến nay cho thấy, trong số 8 QTDND được vay vốn từ Quỹ bảo toàn, đã có 3 quỹ chính thức vượt qua khủng hoảng, trở lại hoạt động bình thường và tất toán toàn bộ khoản vay. Đối với 5 quỹ còn lại, nguồn vốn từ Quỹ bảo toàn đã đóng vai trò là phao cứu sinh kịp thời, giúp các quỹ không bị đổ vỡ, hiện vẫn duy trì được khả năng chi trả và đang trong lộ trình sử dụng vốn vay để tiếp tục khắc phục khó khăn.
![]() |
3.2. Một số bất cập và điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai
Mặc dù nguồn vốn của Quỹ bảo toàn liên tục được tích lũy và mở rộng qua các năm, song số lượng các QTDND yếu kém tiếp cận được với nguồn vốn của Quỹ lại có xu hướng giảm trong những năm gần đây. Nghịch lý này được thể hiện qua số liệu về quy mô nguồn vốn nhàn rỗi của Quỹ bảo toàn và dư nợ cho vay hỗ trợ hệ thống. Tính đến năm 2025, tổng dư nợ cho vay hỗ trợ các QTDND gặp khó khăn chỉ đạt 53,3 tỉ đồng, chiếm khoảng 5,89% trên tổng lượng vốn nhàn rỗi tạm thời chưa sử dụng của Quỹ là 905 tỉ đồng. Cụ thể, trong giai đoạn 2021 - 2025, bất chấp bối cảnh kinh tế vĩ mô đối mặt với nhiều thách thức hậu đại dịch Covid-19, hoạt động cho vay từ Quỹ bảo toàn diễn ra tương đối dè dặt, mỗi năm Quỹ chỉ giải ngân cho từ một đến 3 QTDND vay vốn với doanh số dao động từ 3 tỉ đến 15 tỉ đồng/năm. Thực trạng nghẽn dòng vốn cứu trợ này bắt nguồn từ một số nguyên nhân:
(i) Rào cản tâm lý từ sự nhầm lẫn giữa mục đích cho vay và điều kiện cho vay
Như đã đề cập ở mục 2.2, cụm từ “để có thể khắc phục trở lại hoạt động bình thường” tại Thông tư số 27/2024/TT-NHNN là quy định về mục đích của khoản vay. Tuy nhiên, trên thực tiễn áp dụng, nội dung này lại bị diễn giải và thực thi như một điều kiện khi thẩm định và quyết định cho vay12. Sự nhầm lẫn mang tính chủ quan này là nguyên nhân dẫn đến một số trường hợp quyết định cho vay được đưa ra muộn, không đáp ứng được yêu cầu cấp bách của khoản vay; hoặc thậm chí dẫn đến những quyết định không cho vay từ phía Ban quản lý Quỹ do lo sợ khó thu hồi vốn khi QTDND chưa chứng minh được khả năng phục hồi. Trong khi đó, hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn mang bản chất của một công cụ quản trị khủng hoảng, đặt mục tiêu ổn định chính trị - xã hội và an toàn hệ thống lên trên mục tiêu hiệu quả kinh tế thuần túy. Trên thực tế, có những tình huống khẩn cấp mà cơ quan quản lý ý thức rõ việc giải ngân cứu trợ đối với một QTDND yếu kém có nguy cơ tổn thất, mất vốn rất cao; tuy nhiên, để ngăn chặn hiệu ứng domino rút tiền hàng loạt, bảo vệ quyền lợi người gửi tiền và giữ vững an ninh trật tự tại địa phương, việc cho vay hỗ trợ vẫn là mệnh lệnh bắt buộc. Do đó, việc xem tiêu chí phục hồi như một điều kiện cứng nhắc trước đây đã tạo ra tâm lý e ngại, thận trọng quá mức bao trùm lên quy trình phê duyệt, làm khâu thẩm định bị kéo dài và bỏ lỡ “thời điểm vàng” để can thiệp ứng cứu. Nút thắt về mặt nhận thức này hiện đã được hóa giải một cách triệt để nhờ việc chuẩn hóa lại thuật ngữ “để bảo đảm khả năng chi trả” tại Thông tư số 10/2026/TT-NHNN.
(ii) Vướng mắc trong việc cụ thể hóa cơ chế xử lý rủi ro đối với các khoản cho vay hỗ trợ hệ thống
Theo Luật Các TCTD năm 2024, “NHHTX được hạch toán giảm Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND để xử lý số tiền cho vay đặc biệt không thu hồi được”13. Tuy nhiên, các văn bản hướng dẫn về Quỹ bảo toàn là Thông tư số 27/2024/TT-NHNN, Thông tư số 28/2025/TT-NHNN lại không quy định cụ thể về vấn đề trên. Thực tế này không chỉ phản ánh sự thiếu đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật mà còn gây khó khăn nhất định cho người điều hành. Một mặt, pháp luật bắt buộc khoản vay hỗ trợ phải tuân thủ nguyên tắc có hoàn trả, mặt khác, khi rủi ro mất vốn khách quan xảy ra, quy trình và thẩm quyền xử lý rủi ro lại chưa được luật hóa rõ ràng để bảo vệ người ra quyết định. Nguy cơ phải đối mặt với trách nhiệm hành chính, thậm chí có thể là hình sự nếu khoản vay bị mất vốn khiến cho những người có thẩm quyền thẩm định, xét duyệt và quyết định cho vay e ngại, dẫn đến xu hướng tất yếu trên thực tế là: Không cho vay để bảo toàn vốn, còn hơn là cho vay để đối mặt với rủi ro pháp lý. Đây chính là một trong những nguyên nhân khiến dòng vốn của Quỹ bảo toàn bị ứ đọng dù thực tế có các QTDND đang gặp khó khăn và rất cần vốn.
Nút thắt mang tính lịch sử này hiện đã được tháo gỡ bởi Thông tư số 10/2026/TT-NHNN. Thông qua việc quy định cụ thể: “NHHTX được hạch toán giảm Quỹ bảo toàn để xử lý số tiền cho vay đặc biệt không thu hồi được theo quy định của Luật Các TCTD”; đồng thời giao cho NHHTX xây dựng, ban hành Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ bảo toàn, trong đó quy định rõ về “Nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền xử lý rủi ro đối với các khoản cho vay hỗ trợ không thu hồi được vốn; cơ chế hạch toán giảm Quỹ bảo toàn đối với khoản cho vay đặc biệt không thu hồi được theo quy định của pháp luật”, Thông tư số 10/2026/TT-NHNN không chỉ hoàn thiện hành lang pháp lý, mà quan trọng hơn là đã thiết lập tấm khiên bảo vệ pháp lý chính đáng cho bộ phận xét duyệt và quyết định cho vay. Sự rõ ràng về thẩm quyền và điều kiện xử lý rủi ro mất vốn khách quan đã tháo gỡ rào cản tâm lý e ngại trách nhiệm, tạo cơ sở pháp lý vững chắc để khơi thông mạnh mẽ tiến độ giải ngân nguồn vốn cứu trợ của Quỹ bảo toàn.
4. Giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ bảo toàn
Từ những phân tích về thực trạng quy định và thực tiễn thi hành, có thể thấy những quy định về Quỹ bảo toàn tại Thông tư số 10/2026/TT-NHNN đã cởi bỏ các nút thắt trong hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn. Tuy nhiên, để các quy định của Thông tư số 10/2026/TT-NHNN thực sự đi vào cuộc sống, khơi thông hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi của Quỹ bảo toàn đến các QTDND đang gặp khó khăn, tác giả đề xuất một số giải pháp sau:
Thứ nhất, NHHTX cần khẩn trương xây dựng, ban hành Quy chế nội bộ về quản lý và sử dụng Quỹ bảo toàn nhằm cụ thể hóa các quy định của Thông tư số 10/2026/TT-NHNN
Quy chế quản lý và sử dụng Quỹ bảo toàn cần quy định cụ thể các nội dung liên quan đến: (i) Nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền xử lý rủi ro đối với các khoản cho vay hỗ trợ không thu hồi được vốn; (ii) Cơ chế hạch toán giảm Quỹ bảo toàn đối với khoản cho vay đặc biệt không thu hồi được theo quy định của pháp luật. Việc quy định cụ thể, minh bạch nguyên tắc, điều kiện, thẩm quyền xử lý rủi ro đối với các khoản cho vay hỗ trợ không thu hồi được vốn và quy trình hạch toán giảm Quỹ bảo toàn theo đúng tinh thần của Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sẽ chính là tấm khiên bảo vệ, giúp giải phóng hoàn toàn tâm lý e ngại trách nhiệm của bộ phận thẩm định và quyết định cho vay.
Thứ hai, kết hợp hỗ trợ tài chính với nâng cao năng lực quản trị, điều hành tại QTDND
Bản chất hoạt động của Quỹ bảo toàn là một quỹ tài chính, do đó, việc tập trung cung ứng nguồn lực vốn và thanh khoản là nhiệm vụ quan trọng nhất. Tuy nhiên, để nguồn vốn hỗ trợ phát huy hiệu quả tối đa và hạn chế nguy cơ mất vốn, cần có cơ chế phối hợp đồng bộ giữa hỗ trợ tài chính và nâng cao năng lực quản trị đối với các QTDND.
Khi Quỹ bảo toàn giải ngân nguồn vốn hỗ trợ chi trả cho một QTDND yếu kém, NHHTX có thể đồng thời điều động các đoàn chuyên gia, nhân sự từ NHHTX hoặc từ các QTDND khác trực tiếp hỗ trợ, giám sát dòng tiền. Sự can thiệp về nhân sự sẽ đảm bảo dòng vốn cứu trợ của Quỹ bảo toàn được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, giúp QTDND đang gặp khó khăn không chỉ giải quyết được những khó khăn tài chính, khó khăn chi trả trước mắt, mà còn từng bước khắc phục được các lỗ hổng về quản trị, điều hành hay sai phạm về nhân sự14.
Thứ ba, tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến về vai trò của Quỹ bảo toàn
Trong hoạt động ngân hàng nói chung và hệ thống QTDND nói riêng, niềm tin của người gửi tiền là tài sản vô giá nhưng cũng dễ bị tổn thương nhất trước các tin đồn thất thiệt. Hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn mang bản chất của một công cụ quản trị khủng hoảng, do đó, hiệu quả của công cụ này phụ thuộc rất lớn vào công tác truyền thông chính sách. Nhằm tối ưu hóa vai trò của Quỹ, NHHTX và các cơ quan quản lý cần tập trung vào hai định hướng tuyên truyền cốt lõi:
Đối với công chúng và người gửi tiền: Cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến rộng rãi về sự hiện diện, quy mô và năng lực ứng cứu kịp thời của Quỹ bảo toàn. Việc minh bạch hóa thông tin này giúp người dân hiểu rõ rằng luôn có một “bảo hiểm thứ hai” đứng sau hệ thống QTDND, từ đó giữ vững tâm lý ổn định, triệt tiêu nguy cơ rút tiền hàng loạt do hiệu ứng domino khi một QTDND trên địa bàn gặp sự cố.
Đối với nội bộ hệ thống các QTDND: Cần xóa bỏ tâm lý e ngại bị dán nhãn yếu kém hoặc sợ bị thanh tra, kiểm tra khi tiếp cận nguồn vốn của Quỹ bảo toàn. Công tác tuyên truyền, phổ biến cần làm rõ tinh thần đổi mới của Thông tư số 10/2026/TT-NHNN, khẳng định việc hỗ trợ dòng vốn bảo đảm khả năng chi trả là quyền lợi chính đáng và là cơ chế ứng cứu bình thường của hệ thống. Qua đó, khuyến khích các QTDND chủ động báo cáo và tiếp cận nguồn lực của Quỹ ngay từ khi xuất hiện các dấu hiệu mất cân đối thanh khoản tạm thời, tránh tình trạng giấu giếm sai phạm dẫn đến khủng hoảng trầm trọng không thể cứu vãn.
5. Kết luận
Quỹ bảo toàn đã và đang hoàn thành tốt sứ mệnh là “bà đỡ” tài chính, góp phần duy trì sự ổn định của hệ thống TCTD là hợp tác xã. Những thành quả từ việc cứu trợ thành công nhiều QTDND vượt qua nguy cơ mất khả năng chi trả đã minh chứng cho vai trò quan trọng của Quỹ. Cùng với điểm tựa pháp lý mới từ Thông tư số 10/2026/TT-NHNN, việc tiếp tục linh hoạt hóa quy trình cho vay, đa dạng hóa các hình thức hỗ trợ và tháo gỡ rào cản trách nhiệm cho Ban quản lý sẽ giúp Quỹ bảo toàn phát huy mạnh mẽ hơn nữa chức năng bảo đảm an toàn hệ thống trong bối cảnh kinh tế nhiều biến động.y
1Lê Hà Diễm Chi, Trịnh Thị Thu Dung (2022), Những khuyến nghị nhằm phát triển bền vững hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân Việt Nam, Tạp chí Ngân hàng. https://tapchinganhang.gov.vn/nhung-khuyen-nghi-nham-phat-trien-ben-vung-he-thong-quy-tin-dung-nhan-dan-viet-nam-11069.html
2 Đỗ Mạnh Phương (2020), Pháp luật về TCTD là hợp tác xã, Luận án Tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 46
3 Đỗ Mạnh Phương (2024), Thực tiễn thi hành về sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND và một số đề xuất, Tạp chí Ngân hàng, số 8 tháng 4/2024 tr. 36-41.
4 Khoản 1 Điều 10 Luật Các TCTD năm 2024.
5 Đỗ Mạnh Phương (2026), Hoàn thiện và thực thi pháp luật về Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND, Đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ, NHNN, tr. 93-95.
6 Điều 3 Thông tư số 27/2024/TT-NHNN.
7 Điều 24 Thông tư số 27/2024/TT-NHNN (được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN và Thông tư số 10/2026/TT-NHNN).
8 Xem thêm: Lê Hà Diễm Chi (2022), Quỹ bảo toàn hỗ trợ QTDND - Thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ, NHNN, tr. 25-26.
9 Thông tư số 10/2026/TT-NHNN ngày 19/5/2026 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về NHHTX, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN, có hiệu lực từ ngày 03/7/2026.
10 Các số liệu về hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo toàn trong bài viết được tổng hợp từ các báo cáo của NHHTX về tình hình hoạt động và tình hình tài chính của Quỹ bảo toàn từ năm 2015 đến năm 2025 và 6 tháng đầu năm 2026 gửi NHNN.
11 Xem thêm: Đỗ Mạnh Phương (2024), Thực tiễn thi hành về sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND và một số đề xuất, Tạp chí Ngân hàng, số 8 tháng 4/2024, tr. 39.
12 Xem thêm: Đỗ Mạnh Phương (2025), Quy định về hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND trong Luật Các TCTD năm 2024, Tạp chí Ngân hàng,, https://tapchinganhang.gov.vn/quy-dinh-ve-hoat-dong-cho-vay-ho-tro-cua-quy-bao-dam-an-toan-he-thong-quy-tin-dung-nhan-dan-trong-luat-cac-to-chuc-tin-dung-nam-2024-16063.htm
13 Khoản 2 Điều 194 Luật Các TCTD
14 Xem thêm: Đỗ Mạnh Phương (2024), Quy định về hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND trong Luật Các TCTD năm 2024, tlđd.
Tài liệu tham khảo:
1. Đỗ Mạnh Phương (2024), Thực tiễn thi hành về sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND và một số đề xuất, Tạp chí Ngân hàng, số 8 tháng 4/2024.
2. Đỗ Mạnh Phương (2026), Hoàn thiện và thực thi pháp luật về Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND, Đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ, NHNN.
3. Lê Hà Diễm Chi (2022), Quỹ bảo toàn hỗ trợ QTDND - Thực trạng và giải pháp, Đề tài khoa học và công nghệ cấp bộ, NHNN.
4. Lê Hà Diễm Chi, Trịnh Thị Thu Dung (2022), Những khuyến nghị nhằm phát triển bền vững hệ thống QTDND, Tạp chí Ngân hàng. https://tapchinganhang.gov.vn/nhung-khuyen-nghi-nham-phat-trien-ben-vung-he-thong-quy-tin-dung-nhan-dan-viet-nam-11069.html
5. Luật Các TCTD năm 2024.
6. NHHTX, Báo cáo tình hình hoạt động và tình hình tài chính của Quỹ bảo toàn các năm từ 2015 đến 2025 và 6 tháng đầu năm 2026.
7. Quyết định số 175/2025QĐ-NHHT ngày 17/4/2025 của NHHTX ban hành Quy chế Quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND.
8. Thông tư số 27/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND.
9. Thông tư số 28/2025/TT-NHNN ngày 30/9/2025 của Thống đốc NHNN, sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND.
10. Thông tư số 10/2026/TT-NHNN ngày 19/5/2026 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống QTDND được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.
Tin bài khác
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

