Sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026:

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Công nghệ & ngân hàng số
Ngày 18 - 19/8/2026, sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo (AI)” đã chính thức diễn ra tại Hà Nội.
aa

Mở rộng hệ sinh thái số đến xây dựng hệ sinh thái số thông minh

Năm 2026 là năm thứ năm liên tiếp Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) tổ chức chuỗi sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời là năm tổng kết 5 năm triển khai Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Thống đốc NHNN; từ đó tiếp tục triển khai Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030 ban hành kèm theo Quyết định số 3579/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN.

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI
Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn phát biểu chỉ đạo tại Sự kiện (Ảnh: Đức Khanh)

Sau khi tham quan khu vực triển lãm - nơi giới thiệu các sản phẩm, dịch vụ, nền tảng và giải pháp công nghệ tiêu biểu của các tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán và doanh nghiệp công nghệ, phát biểu tại sự kiện, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn cho biết, sự kiện năm nay diễn ra trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về năng suất, chất lượng, tăng trưởng, sức cạnh tranh và năng lực tự chủ của nền kinh tế. Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục đặt ra yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và nguồn nhân lực chất lượng cao. Bên cạnh đó Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định: Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực thúc đẩy phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại và đổi mới phương thức quản trị quốc gia.

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI
Phó Thống đốc NHNN Phạm Tiến Dũng phát biểu tại Sự kiện (Ảnh: Đức Khanh)

Bám sát định hướng chỉ đạo của Đảng, Chính phủ, chuyển đổi số ngành Ngân hàng hướng tới chuyển đổi từ chủ trương sang hành động; từ quản lý tiến độ sang quản lý kết quả; mỗi nhiệm vụ hướng đến sản phẩm cụ thể, hiệu quả thực chất và mang lại giá trị cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế. Theo đó, chuyển đổi số ngân hàng không chỉ nhằm hiện đại hóa bản thân ngành Ngân hàng mà còn phải góp phần nâng cao năng suất, giảm chi phí xã hội, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Trên cơ sở đó, Phó Thống đốc NHNN Phạm Tiến Dũng cho biết, để tiếp nối chủ đề trong hành trình 5 năm tổ chức sự kiện Ngày Chuyển đổi số ngành Ngân hàng từ kết nối, khai thác dữ liệu dân cư, mở rộng hệ sinh thái số đến xây dựng hệ sinh thái số thông minh, NHNN lựa chọn chủ đề Sự kiện Chuyển đổi số năm 2026 là “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI” với thông điệp “Dữ liệu dẫn lối, AI đồng hành, ngân hàng kiến tạo hệ sinh thái số”.

Với chủ đề và thông điệp này, chuyển đổi số ngành Ngân hàng hướng tới việc tích hợp, chia sẻ, khai thác dữ liệu hiệu quả dựa trên ứng dụng AI có trách nhiệm để phát triển các dịch vụ ngân hàng thông minh, cho phép sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng một cách an toàn, thuận tiện, mọi nơi mọi lúc, giảm thiểu chi phí với thủ tục đơn giản, nhanh gọn, qua đó góp phần tạo động lực phát triển chung, Phó Thống đốc NHNN Phạm Tiến Dũng khẳng định.

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI
Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn cùng các đại biểu tham quan gian hàng triển lãm tại Sự kiện

Chia sẻ từ thực tiễn triển khai, ông Phạm Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Thanh toán (NHNN) khẳng định, năm qua là một hành trình mạnh mẽ, ngành Ngân hàng chuyển đổi từ số hóa quy trình, đẩy mạnh thanh toán số đến khai thác dữ liệu, ứng dụng AI, đã hướng tới cung cấp các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng ngày càng thuận tiện, thông minh và an toàn, lấy người dân, dữ liệu làm trung tâm.

Để nhìn lại hành trình đó một cách trực quan, sinh động hơn, thay cho báo cáo bằng văn bản, ông Phạm Anh Tuấn đã giới thiệu về chương trình: “Hành trình 5 năm chuyển đổi số ngành Ngân hàng” với thời lượng 25 phút, kết hợp trình chiếu phim và giới thiệu trực tiếp, bao gồm 2 phần: Phần 1 là bức tranh khái quát các thành tựu nổi bật của ngành Ngân hàng trong 5 năm chuyển đổi số; Phần 2 là các sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng tiêu biểu của 15 đơn vị trong ngành, trong đó tập trung vào 4 nội dung: Định danh số và mở tài khoản, thanh toán số, tín dụng số, dữ liệu và AI.

Kiến tạo 3 trụ cột vững chắc cho chuyển đổi số

Là một trong những ngành đầu tiên chuyển đổi số, ngành Ngân hàng luôn bám sát chủ trương của Đảng, Chính phủ về xây dựng Nhà nước kiến tạo phát triển, đẩy mạnh đổi mới mô hình quản trị quốc gia trên nền tảng số với 3 trụ cột là Chính phủ số, Kinh tế số, Xã hội số; lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Nhìn lại hành trình 5 năm qua, chuyển đổi số ngành Ngân hàng đã kiến tạo nên 3 trụ cột vững chắc là kiến tạo thể chế, nâng cấp hạ tầng dữ liệu và phát triển hệ sinh thái số.

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI
Ông Phạm Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Thanh toán (NHNN) phát biểu tại Sự kiện

Bám sát quan điểm thể chế phải đi trước một bước, NHNN đã chủ động xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trên cơ sở chủ trương của Nghị quyết Bộ Chính trị ban hành, các luật đã được Quốc hội thông qua và các nghị định được Chính phủ ban hành, NHNN đã sớm ban hành chiến lược, kế hoạch chuyển đổi số trong toàn Ngành; đồng thời nghiên cứu, ban hành nhiều văn bản để thúc đẩy chuyển đổi số, thanh toán không dùng tiền mặt, tháo gỡ kịp thời các điểm nghẽn, phục vụ hoạt động phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng. Tại các văn bản hướng dẫn đã quy định về việc kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để người dân thực hiện việc định danh điện tử, mở tài khoản thanh toán, thẻ ngân hàng, ví điện tử, bảo đảm an toàn điện tử, thực hiện các dịch vụ ngân hàng trực tuyến toàn trình.

Nhờ đó, năm 2025, giá trị thanh toán không dùng tiền mặt đạt hơn 28 lần giá trị GDP; gần 90% dân số từ 15 tuổi trở lên đã có tài khoản thanh toán. Trong 5 năm từ 2021 - 2025, thanh toán qua di động tăng hơn 8 lần về số lượng; qua Internet tăng hơn 7 lần; thanh toán qua mã QR đã bùng nổ tăng gần 20 lần. Nhiều ngân hàng đạt trên 95% giao dịch trên kênh số. Hiện nay, giá trị giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt bình quân lên tới 1,05 triệu tỉ đồng/ngày, tương đương gần 40 tỉ USD/ngày, với số lượng gần 85 triệu giao dịch/ngày.

Các đại biểu tham quan gian hàng triển lãm tại Sự kiện

Cùng với sự phát triển của dịch vụ ngân hàng trên kênh số, ngành Ngân hàng xây dựng niềm tin số trên ba tầng bảo vệ, đó là làm sạch, đối chiếu đúng thông tin sinh trắc học với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; định danh, xác minh khách hàng trong giao dịch trực tuyến và xác nhận sự đồng ý của khác; đồng thời xây dựng kho dữ liệu các tài khoản thanh toán, ví điện tử, thẻ ngân hàng, đơn vị chấp nhận thanh toán nghi ngờ gian lận, lừa đảo và cung cấp dịch vụ cảnh báo cho khách hàng khi thực hiện chuyển tiền. Nhờ đó, tính đến hết ngày 14/8/2026, đã có 5 triệu lượt khách hàng nhận cảnh báo từ hệ thống SIMO của NHNN, qua đó góp phần bảo vệ và giữ lại hơn 5,6 nghìn tỉ đồng.

Không dừng lại ở đó, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên kênh số không chỉ đưa các dịch vụ tài chính đến mọi miền đất nước, từ vùng sâu, vùng xa, biên giới hải đảo đến từng người dân, doanh nghiệp, mà còn từng bước hiện diện trong mọi hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội, đồng thời vươn ra kết nối xuyên biên giới, góp phần thúc đẩy hội nhập và phát triển kinh tế số. Theo thống kê của NHNN, 66,8% giao dịch trong thương mại điện tử đã không dùng tiền mặt; 98,7% doanh nghiệp nộp thuế điện tử; 100% cơ sở giáo dục đại học tại đô thị thu học phí qua ngân hàng. Việt Nam đã kết nối thanh toán song phương qua mã QR tới Thái Lan, Campuchia, Lào, Trung Quốc, Hàn Quốc, Singapore và sắp tới sẽ tiếp tục mở rộng tới Ấn Độ, Đài Loan (Trung Quốc).

“Trên nền tảng 3 trụ cột do NHNN kiến tạo, các tổ chức tín dụng đã chủ động đổi mới sáng tạo, phát triển các hệ sinh thái số mở, ứng dụng ngân hàng số thông minh, đưa tiện ích tài chính đến gần hơn với người dân và doanh nghiệp”, ông Phạm Anh Tuấn, Vụ trưởng Vụ Thanh toán (NHNN) khẳng định.

Định danh số - “cửa ngõ” khởi đầu của giao dịch hiện đại

Trong mô hình ngân hàng số, định danh điện tử (eKYC) giữ vai trò của một "cửa ngõ" khởi đầu của mọi giao dịch hiện đại từ mở tài khoản, phát hành thẻ đến cấp tín dụng… đều phụ thuộc vào độ chính xác và tốc độ của bước xác thực danh tính ban đầu. Bốn ngân hàng trình bày trong nhóm chủ đề này cho thấy dù cùng giải một bài toán, mỗi đơn vị lại lựa chọn một biến số ưu tiên khác nhau như tốc độ, tính an toàn, hoặc mức độ cá nhân hóa sau định danh.

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI
Các diễn giả trình bày thay luận kết hợp cùng âm thanh, ánh sáng và công nghệ

Bà Đoàn Hồng Nhung, Thành viên Ban điều hành, Giám đốc Khối Bán lẻ Ngân hàng Thương mại cổ phần (TMCP) Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) cho biết, ngân hàng chọn tốc độ làm trục chính với giải pháp "Một chạm định danh", vận hành theo ba bước: Quét mã QR VNeID để đối chiếu với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; kích hoạt đồng thời tài khoản, ứng dụng VCB Digibank và chữ ký số chỉ trong vài giây. Danh tính số của khách hàng là chìa khóa mở ra cơ hội thanh toán thuận tiện, tín dụng trực tuyến và giao dịch xuyên biên giới. Kết quả đo được là quy trình vốn mất hàng chục phút nay chỉ còn vài giây, đã phục vụ hơn 8,3 triệu khách hàng và giúp hệ thống tiết kiệm khoảng 1 triệu giờ lao động - một con số Vietcombank xem là đại diện cho hiệu quả tích lũy của cả 5 năm chuyển đổi số Ngành.

Đặt bài toán tốc độ trong trọng tâm khác, ông Từ Tiến Phát, Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB) cho biết, ngân hàng gắn tốc độ với an toàn trong thông điệp "eKYC 1 phút - An tâm hòa nhịp sống số". Hệ thống phê duyệt tự động của ACB cho phép khách hàng có ngay tài khoản và thẻ chỉ sau một lần đăng ký, dù xác thực bằng căn cước công dân (CCCD) gắn chíp hay qua VNeID, với các lớp công nghệ đạt chuẩn quốc tế như Face Search, Liveness Detection.

Trong khi đó, Ngân hàng TMCP Sài Gòn Tài Lộc (Sacombank) đặt định danh số trong mối quan hệ trực tiếp với hệ sinh thái tài chính đi kèm. Ông Nguyễn Hoàng Hải, Phó Tổng Giám đốc Sacombank cho biết, với Sacombank Pay, khách hàng hoàn tất định danh điện tử, xác thực CCCD gắn chíp và kết nối VNeID chỉ trong 5 giây, để ngay sau đó truy cập một nền tảng thống nhất cho thanh toán, chuyển tiền, mở thẻ, tiết kiệm và đầu tư. Cách thiết kế "định danh một lần, sử dụng toàn hệ sinh thái" này đã giúp Sacombank Pay tiếp cận hơn 6 triệu khách hàng, đồng thời gián tiếp thúc đẩy mục tiêu thanh toán không dùng tiền mặt của nền kinh tế số quốc gia.

Khi được khai thác đúng cách, định số trở thành cơ sở để ngân hàng cá nhân hóa sản phẩm. Ông Trần Nhất Minh, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc Khối công nghệ ngân hàng, Ngân hàng TMCP Quốc tế (VIB) cho biết, dòng thẻ tín dụng Max Card của VIB tiên phong áp dụng mô hình Subscription Banking, cho phép khách hàng tự chọn hạng quyền lợi, số thẻ và ngày sao kê theo nhu cầu riêng thay vì các gói cố định. Chỉ sau 3 tháng (ra mắt ngày 26/3/2026), Max Card đã có gần 200.000 chủ thẻ mới, đóng góp doanh số chi tiêu dự kiến hơn 150 nghìn tỉ đồng - minh chứng rằng khi định danh số được kết nối với dữ liệu hành vi, ngân hàng có thể chuyển từ phục vụ số đông sang phục vụ theo từng cá thể.

Thanh toán số chạm tới mọi “nhịp đập” của đời sống

Nếu định danh số là điều kiện kỹ thuật, thì thanh toán số trở thành nơi giá trị của chuyển đổi số ngành Ngân hàng được trải nghiệm thực tế từ hàng chục triệu lượt người dùng mỗi ngày. Năm câu chuyện trong nhóm chủ đề này không đi theo một mô-típ chung, mà mỗi ngân hàng chọn khai thác một điểm chạm khác nhau trong đời sống từ tiêu dùng thiết yếu, y tế, kinh doanh nhỏ lẻ, đến các giao dịch xuyên biên giới. Điều này cho thấy độ phủ ngày càng sâu của thanh toán số vào mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.

Ở nhóm nhu cầu tiêu dùng thiết yếu, Ngân hàng TMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) lựa chọn thị trường xăng dầu - một lĩnh vực có tần suất giao dịch cao nhưng vốn gắn liền với tiền mặt. Ông Đàm Thế Thái, Phó Tổng Giám đốc HDBank chia sẻ, từ khi chính thức ra mắt vào ngày 16/9/2022, siêu thẻ HDBank Petrolimex 4in1 tích hợp 3 nguồn tiền (thẻ tín dụng, ghi nợ, trả trước) trong một thẻ duy nhất, mở thẻ 100% online trong 1 phút và hỗ trợ thanh toán không tiếp xúc qua Apple Pay, Google Pay. Chính sách nhân 3 điểm thưởng cho giao dịch xăng dầu, có thể quy đổi thành vé máy bay hoặc ưu đãi từ hơn 1.200 thương hiệu, đã giúp thay đổi thói quen thanh toán xăng dầu của hơn 2 triệu khách hàng, đưa doanh số thanh toán không tiền mặt tại hệ thống Petrolimex lên hơn 45 nghìn tỉ đồng và giảm hơn 60% lượng giấy sử dụng nhờ hóa đơn điện tử.

Trong khi HDBank giải quyết bài toán tần suất, Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà Nội (SHB) lại chọn một lĩnh vực có mức độ nhạy cảm cao hơn là dịch vụ y tế, nơi thời gian chờ đợi thường tỷ lệ thuận với áp lực tâm lý của người bệnh. Ông Đinh Ngọc Dũng, Phó Tổng Giám đốc SHB thông tin, giải pháp SHB Health Connect số hóa toàn bộ hành trình khám chữa bệnh từ đặt lịch, định danh, theo dõi khám, thanh toán đến bảo lãnh viện phí qua một điểm chạm duy nhất, phục vụ hơn 1 triệu khách hàng và hỗ trợ hơn 100 bệnh viện tối ưu quy trình vận hành. Đây là ví dụ cho thấy thanh toán số, khi kết hợp với định danh và dữ liệu, có thể mở rộng vai trò của ngân hàng ra ngoài phạm vi tài chính thuần túy, trở thành hạ tầng vận hành cho các ngành dịch vụ công.

Rời khỏi các giao dịch tiêu dùng cá nhân, Ngân hàng TMCP Lộc Phát Việt Nam (LPBank) hướng đến nhóm khách hàng đôi khi bị bỏ sót trong các chiến lược số hóa là hộ kinh doanh và tiểu thương. Ông Đặng Công Hoàn, Phó Tổng Giám đốc LPBank cho biết, giải pháp Lộc Phát Shop kết hợp thanh toán QR với công nghệ thông báo giao dịch bằng giọng nói qua Loa Lộc Phát, xác nhận giao dịch chỉ trong 1 giây, giúp chủ hộ kinh doanh vừa quản lý dòng tiền hiệu quả vừa minh bạch hóa doanh thu - một yếu tố quan trọng khi nhóm khách hàng này đang dần chuyển sang kê khai thuế điện tử. Lũy kế đến nay, giải pháp đã phục vụ hơn 30 nghìn khách hàng với trên 33 triệu giao dịch, tổng giá trị gần 16 nghìn tỉ đồng.

Và khi ranh giới thanh toán trong nước dần được xóa nhòa, ngân hàng đưa câu chuyện thanh toán số của Việt Nam vượt ra khỏi biên giới quốc gia. Ông Nguyễn Vĩnh Tuyên, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Nam Á (Nam A Bank) cho biết, giải pháp QR Global, vận hành trên nền tảng Open Banking, cho phép khách hàng thanh toán bằng một lần quét QR tại Thái Lan, Lào, Campuchia, Trung Quốc, Hàn Quốc và Singapore, và ngược lại. Tính đến tháng 8/2026, hệ thống đã ghi nhận hơn 810 nghìn giao dịch outbound với tổng giá trị vượt 760 tỉ đồng, cùng hơn 111 nghìn giao dịch inbound trị giá hơn 232 tỉ đồng - một tín hiệu cho thấy hạ tầng thanh toán số của Việt Nam đang từng bước kết nối với khu vực, phục vụ cả nhu cầu của khách du lịch trong nước lẫn quốc tế.

Tín dụng số - dữ liệu thay thế tài sản đảm bảo

Nếu thanh toán số giải quyết bài toán giao dịch hằng ngày, thì tín dụng số lại chạm đến một bài toán khó hơn là làm sao rút ngắn thời gian thẩm định, mở rộng khả năng tiếp cận vốn, mà vẫn kiểm soát được rủi ro tín dụng khi không có đủ tài sản đảm bảo truyền thống. Điểm chung của 4 câu chuyện trong nhóm chủ đề này là việc lấy dữ liệu thay vì hồ sơ giấy hay tài sản thế chấp làm căn cứ chính để ra quyết định cho vay.

Ở phân khúc tín dụng cá nhân, ông Lê Huy Hoàng, Phó Tổng Giám đốc, Thành viên Ban điều hành phụ trách Khối Khách hàng doanh nghiệp nhỏ và vừa, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) cho biết, ngân hàng chọn giải quyết một trong những nhu cầu tài chính lớn nhất của mỗi gia đình như mua nhà, mua xe. Nền tảng BIDV Home số hóa toàn bộ quy trình vay từ tìm kiếm, đăng ký, theo dõi hồ sơ giải ngân đến ký số; đồng thời tích hợp công nghệ AI Search, bản đồ giá và bản đồ quy hoạch để hỗ trợ khách hàng ra quyết định. Đến tháng 8/2026, nền tảng đã thu hút hơn 500 nghìn người dùng, thực hiện hơn 100 nghìn khoản vay với tổng quy mô hơn 150 nghìn tỉ đồng.

Chuyển sang phân khúc doanh nghiệp, bà Trần Thị Bảo Quế, Thành viên Ban điều hành Ngân hàng TMCP Quân đội (MB) cho biết, MB đặt ra tiêu chuẩn vận hành mới cho tín dụng doanh nghiệp với nguyên tắc "Không giấy tờ - Không quầy giao dịch - Không chờ đợi". Trên nền tảng BIZ MBBank, AI và dữ liệu lớn (Big Data) được ứng dụng xuyên suốt từ thẩm định, phê duyệt hạn mức trong ngày, ký hợp đồng điện tử đến giải ngân và phát hành bảo lãnh, L/C. Tính đến tháng 6/2026, mô hình đã đưa hơn 300 nghìn tỉ đồng vốn tới hơn 25 nghìn doanh nghiệp, đồng thời giúp MB nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro nhờ vận hành 24/7 thay vì phụ thuộc vào giờ hành chính.

Trong khi MB tối ưu quy trình nội bộ, ông Nguyễn Anh Tuấn, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Kỹ Thương Việt Nam (Techcombank) lại cho thấy quy mô dữ liệu là điều kiện tiên quyết để tín dụng số vận hành chính xác. Hệ thống Data Brain của Techcombank xử lý 8 tỉ điểm dữ liệu mỗi ngày cùng 12.500 thuộc tính cho mỗi khách hàng, làm nền tảng thẩm định tín dụng. Trên cơ sở đó, giải pháp MISA Lending kết hợp dữ liệu hóa đơn thuế, báo cáo tài chính và giao dịch từ hệ sinh thái MISA giúp doanh nghiệp tiếp cận hạn mức tín dụng tới 48 tỉ đồng, tín chấp đến 22 tỉ đồng, với thời gian phê duyệt tự động chỉ 5 phút. Đến tháng 8/2026, giải pháp đã hỗ trợ hơn 4.000 doanh nghiệp với tổng hạn mức được cấp đạt 22 nghìn tỉ đồng.

Chính sự hợp tác giữa Techcombank và MISA cũng cho thấy vai trò của bên thứ ba công nghệ trong chuỗi giá trị tín dụng số. Bà Nguyễn Thị Ngoan, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn MISA cho biết, nền tảng MISA Lending như một lớp trung gian dữ liệu, giúp doanh nghiệp và hộ kinh doanh chuyển thông tin kế toán, hóa đơn, dòng tiền trực tiếp đến ngân hàng để phục vụ xét duyệt cho vay theo mô hình "5 phút lập hồ sơ - 1 ngày phê duyệt - 0 tài sản đảm bảo". Đây được xem là một hướng đi góp phần hạn chế tình trạng tín dụng đen.

Đến nay, MISA Lending đã kết nối 16 ngân hàng, tổ chức tín dụng - bao gồm Standard Chartered Bank, Cake by VPBank, VietCredit, EVN Finance, TNEX, ABBank, PVcomBank, Chailease, Lotte Finance... - phục vụ 400.000 doanh nghiệp và hộ kinh doanh, với tổng hạn mức 23.860 tỉ đồng và tổng giải ngân đạt 40.090 tỉ đồng; riêng năm 2025, hạn mức cấp mới đạt 10.675 tỉ đồng và giải ngân đạt 18.725 tỉ đồng. Theo bà Nguyễn Thị Ngoan, MISA mong muốn tiếp tục mở rộng hợp tác với các ngân hàng thương mại, tổ chức tín dụng để đưa dòng vốn đến doanh nghiệp nhanh hơn, góp phần vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số của Chính phủ.

Tương lai số đến từ AI, dữ liệu và an toàn bảo mật

Để các sản phẩm của hành trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng vận hành ổn định với hàng triệu người dùng, ngành Ngân hàng cần một lớp hạ tầng phía sau, gồm năng lực khai thác dữ liệu, ứng dụng AI trong vận hành và giám sát rủi ro, cùng cơ chế bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong tiến trình số hóa. Ba câu chuyện cuối cùng đại diện cho ba khía cạnh khác nhau của lớp nền tảng này.

Ở khía cạnh công bằng tiếp cận, ông Đỗ Đức Thành, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) đưa ra một góc nhìn khác biệt so với phần lớn các ngân hàng thương mại: Thay vì lấy tốc độ hay lợi nhuận làm thước đo, Agribank đặt trọng tâm vào độ phủ dịch vụ tới khu vực nông thôn và nhóm yếu thế. Ngân hàng hiện quản lý hơn 12 triệu tài khoản và 14 triệu thẻ tại nông thôn, phục vụ hơn nửa triệu người yếu thế và 2 triệu người dân nhận trợ cấp an sinh, bảo hiểm qua tài khoản. Mạng lưới hơn 200 Kiosk thông minh cùng hàng trăm Trạm dịch vụ số tích hợp AI, đi kèm tổng đài AI hỗ trợ 15 triệu khách hàng, cho thấy hạ tầng số không chỉ được đo bằng tốc độ xử lý mà còn bằng khả năng vươn tới những nơi hạ tầng tài chính truyền thống khó tiếp cận.

Ở khía cạnh giám sát rủi ro, ông Đinh Văn Chiến, Phó Tổng Giám đốc kiêm Giám đốc Khối Ngân hàng cá nhân, Ngân hàng TMCP Tiên Phong (TPBank) đã dẫn chứng vai trò của AI như một tuyến phòng thủ chủ động thay vì bị động phản ứng sau sự cố. Hàng chục Autobot của TPBank hoạt động 24/7, xử lý gần 5.000 trường hợp vi phạm quy tắc mỗi ngày với tốc độ 3-4 cảnh báo mỗi phút, đồng thời các mô hình máy học AI có khả năng nhận diện các hành vi gian lận tinh vi như dùng CCCD giả mạo hay đăng nhập nhiều mã khách hàng trên cùng một thiết bị. Tính đến tháng 6/2026, khi kết hợp kho dữ liệu sinh trắc học của gần 6,5 triệu khách hàng với dữ liệu cảnh báo từ Cục An ninh mạng và phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao (A05) qua hệ thống SIMO, TPBank đã đồng bộ cảnh báo hơn 52.000 giao dịch đáng ngờ, ngăn chặn kịp thời gần 300 tỉ đồng giao dịch gian lận.

Trong quá trình vận hành nội bộ, ông Trần Công Quỳnh Lân, Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) cho biết, AI không chỉ phục vụ khách hàng bên ngoài mà còn đang thay đổi cách cán bộ ngân hàng làm việc mỗi ngày. Thay vì mất nhiều giờ tra cứu báo cáo, cán bộ VietinBank hiện chỉ cần vài chục giây để trợ lý AI phác họa chân dung khách hàng, gợi ý sản phẩm và xây dựng kịch bản chăm sóc phù hợp. Đây là minh chứng cho một xu hướng rộng hơn: AI trong ngân hàng không còn là công cụ tập trung ở một vài bộ phận công nghệ, mà đang được phân quyền sử dụng tới từng cán bộ nghiệp vụ.

Tuy nhiên, Vụ trưởng Vụ Thanh toán (NHNN) cho biết, việc xuất hiện liên tục các mô hình, giải pháp mới đã đặt ra yêu cầu phải kịp thời hoàn thiện khuôn khổ pháp lý để phù hợp với thực tiễn. Trong đó nhiều vấn đề phát sinh không chỉ nằm trong phạm vi quản lý của ngành Ngân hàng mà còn đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các bộ, ngành và các cơ quan liên quan như mô hình đầu tư cho hạ tầng công nghệ và nhân lực cho chuyển đổi số; bảo vệ người dân và niềm tin khách hàng trên các kênh số. “Chuyển đổi số là một hành trình dài, tiếp bước phát huy những thành quả đã đạt được và vượt qua những thách thức”, ông Phạm Anh Tuấn khẳng định.

Trong thời gian tới, ngành Ngân hàng sẽ tập trung vào các nhiệm vụ sau:

Một là, tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách, khuôn khổ pháp lý.

Hai là, tiếp tục nâng cấp, phát triển hạ tầng công nghệ phục vụ thanh toán không dùng tiền mặt; nâng cấp, mở rộng kết nối hệ sinh thái số ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác.

Ba là, quy hoạch kho dữ liệu dùng chung, đẩy mạnh kết nối dữ liệu quốc gia, bảo vệ dữ liệu cá nhân, tiến tới ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Bốn là, ứng dụng AI có trách nhiệm, phòng chống gian lận, Deepfake, giám sát mô hình AI trong ngân hàng.

Năm là, tiếp tục tăng cường công tác đào tạo và tuyên truyền giáo dục tài chính cho người dân, bố trí nguồn lực phục vụ cho chuyển đổi số, phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo.

Sáu là, tăng cường phối hợp với các bộ, ngành, nâng cấp hạ tầng kỹ thuật, chuẩn hóa cơ sở dữ liệu trong từng ngành, lĩnh vực nhằm tạo thuận lợi cho việc tích hợp, kết nối chia sẻ thông tin với ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để mở rộng hệ sinh thái số và phát triển dịch vụ ngân hàng số, thanh toán số. Trong đó, chú trọng phối hợp với Bộ Công an làm sạch dữ liệu khách hàng, kết nối truy vết dòng tiền để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dùng.

Hợp tác để tạo thêm lớp bảo vệ cho khách hàng

Sự hợp tác này đã được đặt nền móng bền vững trong thời gian qua. Thiếu tướng Vũ Văn Tấn, Cục trưởng Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06), Bộ Công an cho biết, ngay từ năm 2020, khi Bộ Công an triển khai Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, ngành Ngân hàng đã sớm tham gia nghiên cứu, khai thác nguồn dữ liệu này phục vụ hoạt động nghiệp vụ. Khi đó, việc khai thác dữ liệu dân cư cho hoạt động ngân hàng còn là một hướng đi rất mới. Cùng với các ngân hàng thương mại nhà nước, các giải pháp ứng dụng CCCD vào giao dịch ngân hàng đã sớm được nghiên cứu, trong đó có các kiosk sử dụng căn cước để thực hiện giao dịch rút, nộp tiền. Đây là một trong những bước thử nghiệm ban đầu cho thấy khả năng đưa dữ liệu định danh vào các quy trình nghiệp vụ ngân hàng.

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI
Thiếu tướng Vũ Văn Tấn, Cục trưởng Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội (C06), Bộ Công an phát biểu tại Sự kiện

Từ nền tảng đó, khi VNeID được hình thành và phát triển, phạm vi ứng dụng tiếp tục được mở rộng. VNeID từng bước được sử dụng trong mở tài khoản ngân hàng và đặc biệt được khai thác phục vụ chấm điểm, qua đó mở rộng giá trị của dữ liệu định danh đối với hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính. Đây là một quyết tâm và bước đột phá rất lớn của ngành Ngân hàng trong ứng dụng công nghệ, đặc biệt là khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Thiếu tướng Vũ Văn Tấn đánh giá.

Nếu việc đưa dữ liệu dân cư và định danh điện tử vào hoạt động ngân hàng là bước đi ban đầu thì theo Thiếu tướng Vũ Văn Tấn, làm sạch, chuẩn hóa và kết nối dữ liệu là bước tiến quan trọng tiếp theo. Sự phối hợp giữa ngành Ngân hàng, Bộ Công an và các doanh nghiệp viễn thông đã giúp dữ liệu ngân hàng được đối soát với dữ liệu thuê bao di động, nâng cao khả năng xác minh khách hàng và bảo đảm an toàn giao dịch. Việc tăng cường các biện pháp xác thực đã mang lại hiệu quả rõ nét trong phòng, chống tội phạm, góp phần giảm 62% tình hình tội phạm lừa đảo. Kết quả này cho thấy chuyển đổi số không chỉ nâng cao sự thuận tiện của dịch vụ mà còn tạo thêm lớp bảo vệ cho khách hàng, hạn chế các hành vi lừa đảo.

Tuy nhiên, khi các giải pháp công nghệ ngày càng được củng cố, một thách thức khác nổi lên là tình trạng người dân tự bán hoặc cung cấp dữ liệu cá nhân. Vì vậy, bên cạnh tiếp tục hoàn thiện công nghệ, Thiếu tướng Vũ Văn Tấn cho rằng, ngành Ngân hàng cần đẩy mạnh trang bị kỹ năng số, giúp người dân nâng cao ý thức và khả năng bảo vệ dữ liệu của chính mình.

Không chỉ vậy, theo Thiếu tướng Vũ Văn Tấn, chuyển đổi số cũng đang làm thay đổi đáng kể vị trí và vai trò của ngân hàng đối với khách hàng và nền kinh tế. Từ vị trí chủ yếu cung cấp vốn, ngân hàng đã chuyển sang chủ động đồng hành, chăm sóc khách hàng và hiện ngày càng trở thành mắt xích kết nối trong hệ sinh thái tài chính số. Thông qua dữ liệu và các dịch vụ số, ngân hàng không chỉ hỗ trợ người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn mà còn tạo thêm điều kiện để phát triển hoạt động sản xuất, kinh doanh. Sự chuyển dịch này cho thấy vai trò ngày càng quan trọng của dữ liệu. Khi được chuẩn hóa, kết nối và khai thác hiệu quả, dữ liệu không chỉ giúp ngân hàng nâng cao chất lượng dịch vụ, quản trị rủi ro mà còn mở rộng khả năng kết nối tài chính với các lĩnh vực khác của nền kinh tế. Theo Thiếu tướng Vũ Văn Tấn, đây cũng là lĩnh vực mà ngành Ngân hàng đang thể hiện vai trò tiên phong.

Để tiếp tục phát huy vai trò tiên phong đó, Thiếu tướng Vũ Văn Tấn đề xuất, trước hết cần hoàn thiện hành lang pháp lý trên cơ sở những kết quả đã được kiểm chứng từ các mô hình thí điểm chuyển đổi số, đặc biệt là các giải pháp xác thực; đồng thời tăng cường giám sát thực thi để chính sách thực sự đi vào cuộc sống; cần chuyển từ các cơ sở dữ liệu đơn lẻ sang xây dựng hệ sinh thái dữ liệu có khả năng kết nối, chia sẻ. Mục tiêu không chỉ phục vụ khai thác dữ liệu trong nội bộ ngành Ngân hàng mà còn mở rộng chia sẻ với các ngành, lĩnh vực khác trên cơ sở bảo đảm an ninh, an toàn. Qua đó, dữ liệu có thể được khai thác hiệu quả hơn trong xác thực, đánh giá khách hàng, cung ứng dịch vụ và hỗ trợ tiếp cận vốn.

Một nhiệm vụ quan trọng khác là xây dựng bộ quy chuẩn thống nhất về định danh khách hàng điện tử (eKYC) cho Việt Nam. Theo Thiếu tướng Vũ Văn Tấn, Bộ Công an sẽ phối hợp với NHNN, Bộ Khoa học và Công nghệ hướng tới xây dựng bộ quy chuẩn chung, vừa phù hợp với đặc thù trong nước, vừa tiếp cận các chuẩn mực của thế giới. Đây sẽ là nền tảng để hoạt động định danh, xác thực trên môi trường số được triển khai đồng bộ hơn. Song song với hoàn thiện pháp lý, dữ liệu và tiêu chuẩn kỹ thuật, ngành Ngân hàng và Bộ Công an cần tiếp tục tăng cường phối hợp trong phòng, chống tội phạm; đồng thời mở rộng tới chuyển đổi số cho hộ gia đình và doanh nghiệp nhỏ và vừa. Việc ứng dụng dữ liệu hiệu quả có thể tạo thêm điều kiện để người dân, doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn, qua đó góp phần phát triển kinh tế tư nhân cũng như các khu vực kinh tế theo định hướng của Chính phủ.

Theo Thiếu tướng Vũ Văn Tấn, một đặc thù quan trọng của chuyển đổi số ngành Ngân hàng là gắn trực tiếp với dòng tiền và những giao dịch thực tế. Do đó, hiệu quả chuyển đổi số được phản ánh cụ thể qua từng giao dịch và những giá trị thực tế mang lại cho người dân, doanh nghiệp. Từ việc sớm tham gia khai thác dữ liệu dân cư, ứng dụng VNeID, đến làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu, tăng cường xác thực và hướng tới hình thành hệ sinh thái dữ liệu liên thông, ngành Ngân hàng đang từng bước đưa chuyển đổi số đi vào chiều sâu. Đây cũng là nền tảng để mở rộng vai trò kết nối của ngân hàng trong nền kinh tế số, đồng thời nâng cao năng lực bảo vệ khách hàng và phòng, chống tội phạm.

“Tôi tin tưởng rằng ngành Ngân hàng luôn tiên phong và sánh vai với các ngân hàng trên thế giới trong công tác chuyển đổi số”, Thiếu tướng Vũ Văn Tấn khẳng định.

Xác thực chính chủ, thêm nền tảng an toàn cho ngân hàng số

Dưới góc độ công nghệ, ông Nguyễn Anh Cương, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông, Bộ Khoa học và Công nghệ cho biết, thực hiện định hướng, chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, thời gian qua hạ tầng viễn thông Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ, chuyển dịch sang hạ tầng số hiện đại, dung lượng lớn, tốc độ cao, an toàn và ngày càng phổ cập. Đáng chú ý, chỉ sau một năm thương mại hóa 5G, các doanh nghiệp viễn thông đã triển khai hơn 40.000 trạm, đưa vùng phủ sóng tới 92% dân số. Tốc độ Internet băng rộng di động đạt 210 Mbps, đưa Việt Nam lên vị trí thứ 9 toàn cầu. Trong khi đó, mạng 4G tiếp tục duy trì độ phủ trên 99,8% dân số. Hạ tầng băng rộng cố định cũng tiếp tục được mở rộng với hơn 1,3 triệu km cáp quang đã được triển khai tới 100% xã, phường trên toàn quốc; tốc độ Internet băng rộng cố định của Việt Nam xếp thứ 11 thế giới. Bên cạnh các hạ tầng truyền thống, những phương thức kết nối mới cũng đang được bổ sung khi dịch vụ vệ tinh quỹ đạo tầm thấp Starlink đã hoàn tất những điều kiện kỹ thuật cuối cùng để chính thức cung cấp dịch vụ.

Ông Nguyễn Anh Cương, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông, Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu tại sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026
Ông Nguyễn Anh Cương, Phó Cục trưởng Cục Viễn thông, Bộ Khoa học và Công nghệ phát biểu tại Sự kiện

“Quy mô kết nối hàng trăm triệu thuê bao cùng hạ tầng siêu băng rộng ngày càng phổ cập không chỉ là nền tảng cốt lõi thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia mà còn tạo cơ sở để ngành Ngân hàng triển khai các dịch vụ tài chính số thế hệ mới, phục vụ hàng chục triệu giao dịch tức thời mỗi ngày” ông Nguyễn Anh Cương nhấn mạnh.

Tuy nhiên, sự phát triển nhanh của hạ tầng số cũng kéo theo những vấn đề phức tạp như sim rác, sử dụng thuê bao di động để phát tán tin nhắn rác, cuộc gọi rác và các cuộc gọi có dấu hiệu lừa đảo. Điều này đặt ra yêu cầu phát triển hạ tầng số không chỉ cần nhanh và rộng mà còn phải bảo đảm mỗi kết nối ngày càng minh bạch, có khả năng xác thực và gắn với đúng người sử dụng. Để xử lý vấn đề này, ông Nguyễn Anh Cương cho biết, thời gian qua Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với Bộ Công an và các đơn vị liên quan triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, trước hết tập trung làm sạch cơ sở dữ liệu thông tin thuê bao.

Về hành lang pháp lý, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các bộ, ngành tham mưu Quốc hội, Chính phủ ban hành Luật Viễn thông năm 2023 và Nghị định số 163/2024/NĐ-CP ngày 24/12/2024 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Viễn thông, bổ sung các yêu cầu chặt chẽ hơn đối với việc xác thực thông tin thuê bao trước khi kích hoạt sim. Theo đó, thông tin thuê bao di động phải được đối soát với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư; áp dụng cuộc gọi ghi hình để thu thập, kiểm tra, xác minh thông tin nhận biết khách hàng; đồng thời xác thực bằng tin nhắn OTP đối với sim thứ hai trở đi. Nghị định số 163/2024/NĐ-CP cũng làm rõ trách nhiệm của nhà mạng trong quản lý, lưu trữ, xác thực thông tin, xử lý sim có thông tin không chính xác và nghĩa vụ pháp lý của chủ thuê bao khi giao kết hợp đồng sử dụng.

Song song với hoàn thiện quy định, công tác làm sạch dữ liệu được triển khai trên diện rộng. Trong giai đoạn 2022 - 2023, sau khi Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư được đưa vào khai thác, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Công an, đặc biệt là Cục C06, chỉ đạo các doanh nghiệp viễn thông di động rà soát, làm sạch 125 triệu thông tin thuê bao. Qua đó, 17 triệu số có thông tin thuê bao không hợp lệ đã được xử lý, tạo nền tảng để bảo đảm các thuê bao đang hoạt động có thông tin hợp pháp, gắn với giấy tờ chính xác và trùng khớp với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Trên nền tảng này, giai đoạn 2023 - 2025, Bộ Khoa học và Công nghệ cùng các địa phương tiếp tục triển khai thanh tra, kiểm tra hoạt động quản lý thông tin thuê bao đối với các doanh nghiệp viễn thông trên cả nước, xử lý nghiêm các vi phạm, trong đó ba doanh nghiệp đã bị đình chỉ phát triển thuê bao mới. Qua quá trình rà soát, về cơ bản các thuê bao đang hoạt động đã có thông tin chính xác, hợp pháp. Tuy nhiên, tình trạng sim không chính chủ vẫn còn tồn tại do người dùng chuyển quyền sử dụng nhưng không cập nhật thông tin, mua sim kích hoạt sẵn hoặc làm thất lạc sim nhưng không đăng ký hủy dịch vụ, tạo kẽ hở để các đối tượng lợi dụng vào hoạt động vi phạm pháp luật.

Bước sang năm 2026, quá trình chuẩn hóa thuê bao được chuyển sang một giai đoạn mới với trọng tâm xác nhận chính chủ người sử dụng. Với sự phối hợp của Bộ Công an, đặc biệt là C06, Bộ Khoa học và Công nghệ đã ban hành Thông tư số 08/2026/TT-BKHCN ngày 31/3/2026 hướng dẫn việc xác thực thông tin thuê bao di động mặt đất đã bổ sung các giải pháp mới nhằm xử lý tình trạng sim không chính chủ. Theo đó, thông qua ứng dụng VNeID, người dân có thể tra cứu toàn bộ số thuê bao đứng tên mình tại các nhà mạng, xác nhận những số đang sử dụng và từ chối những số không thuộc quyền sử dụng. Đây là cơ sở để triển khai rà soát, xác thực chính chủ đối với hơn 115 triệu thuê bao di động đang hoạt động. Để duy trì tính chính chủ, Thông tư số 08/2026/TT-BKHCN cũng bổ sung yêu cầu xác thực lại sinh trắc học người sử dụng khi thay đổi thiết bị đầu cuối.

Sau hơn 4 tháng triển khai Thông tư, các doanh nghiệp viễn thông đã hoàn thành việc rà soát toàn bộ hơn 115 triệu thuê bao đang hoạt động. Theo ông Nguyễn Anh Cương, tính đến tháng 8/2026, đã có 102 triệu số thuê bao được chuẩn hóa, xác nhận chính chủ sử dụng và tích hợp vào ví giấy tờ của công dân trên ứng dụng VNeID; xấp xỉ 13 triệu số đã bị dừng dịch vụ do chưa hoàn thành việc chuẩn hóa, xác nhận, xác thực chính chủ theo quy định. Cùng với các giải pháp kỹ thuật, chế tài đối với hành vi vi phạm cũng được tăng cường. Theo Nghị định số 174/2026/NĐ-CP ngày 15/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin, doanh nghiệp viễn thông có thể chịu mức xử phạt cao nhất tới 200 triệu đồng và có thể bị đình chỉ phát triển thuê bao mới trong 7 tháng. Đối với cá nhân, mức xử phạt lên tới 500.000 đồng đối với mỗi số thuê bao vi phạm các quy định về sử dụng sim không chính chủ.

Đáng chú ý, kết quả làm sạch và định danh thuê bao không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý viễn thông mà còn tạo nền tảng hỗ trợ quá trình chuyển đổi số của ngành Ngân hàng. Theo ông Nguyễn Anh Cương, việc chuẩn hóa thuê bao sẽ giúp các tổ chức tài chính, ngân hàng giảm thời gian và chi phí xác minh trung gian. Thông qua VNeID, ngân hàng có thể kết nối, xác thực tính chính chủ của số điện thoại khách hàng sử dụng khi đăng ký mở tài khoản hoặc thực hiện giao dịch một cách nhanh chóng, bảo mật hơn. Qua đó, việc bảo đảm thuê bao gắn với đúng người sử dụng góp phần xây dựng môi trường giao dịch điện tử an toàn, minh bạch, đồng thời tạo thêm nền tảng thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và phát triển tài chính số.

“Thời gian tới, Cục Viễn thông, Bộ Khoa học và Công nghệ sẽ tiếp tục phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Công an, NHNN và các cơ quan liên quan tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện quy định pháp luật tại các doanh nghiệp viễn thông; kịp thời chấn chỉnh, xử lý các trường hợp vi phạm. Qua đó, duy trì dữ liệu thuê bao di động “đúng, đủ, sạch, sống”, bảo đảm chính chủ, tạo nền tảng tin cậy đồng hành cùng quá trình chuyển đổi số của ngành Ngân hàng” ông Nguyễn Anh Cương nhấn mạnh.

Mỗi nhiệm vụ rõ mục tiêu, rõ sản phẩm, rõ người chịu trách nhiệm, rõ nguồn lực

Lắng nghe tất cả những chia sẻ từ các đơn vị, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn khẳng định 5 năm qua, chuyển đổi số ngành Ngân hàng đã đạt nhiều kết quả tích cực. Trong đó, thể chế cho hoạt động ngân hàng trên môi trường số từng bước được hoàn thiện; hạ tầng thanh toán và hạ tầng số tiếp tục được đầu tư, nâng cấp; kết nối với các cơ sở dữ liệu quốc gia được mở rộng. Dịch vụ ngân hàng số phát triển nhanh và ngày càng đi sâu vào mọi mặt đời sống xã hội.

“Có được kết quả nêu trên không chỉ là sự nỗ lực của các đơn vị trong toàn ngành Ngân hàng mà còn có sự đồng hành, phối hợp của các ban, bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và sự hưởng ứng của người dân”, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn khẳng định.

Tuy nhiên, kết quả đạt được mới chỉ là bước đầu. Thống đốc nêu thực tế, chuyển đổi số càng sâu thì những vấn đề mới về thể chế, dữ liệu, an ninh mạng, gian lận số, bảo vệ quyền riêng tư và quản trị AI càng phải xuất hiện nhanh hơn; đòi hỏi tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, có trọng tâm, có kiểm soát và lấy hiệu quả thực chất làm thước đo.

Trên cơ sở đó, Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn đề nghị các đơn vị thuộc NHNN, các tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán tập trung thực hiện 6 nhóm nhiệm vụ trọng tâm.

Trong đó, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện khuôn khổ pháp lý vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa kiểm soát hiệu quả rủi ro; tập trung vào các hoạt động ngân hàng trên môi trường số; kịp thời nhận diện các vấn đề mới từ AI, dữ liệu, ngân hàng mở (Open Banking) và các mô hình ngân hàng số mới; nâng cấp hạ tầng số và phát triển dữ liệu, tiếp tục hiện đại hóa hạ tầng thanh toán quốc gia theo hướng an toàn, liên tục, có khả năng xử lý giá trị lớn và mở rộng kết nối; xây dựng kiến trúc dữ liệu ngành Ngân hàng thống nhất, nâng cao chất lượng dữ liệu theo hướng đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất và có khả năng chia sẻ; đẩy mạnh kết nối với Trung tâm Dữ liệu quốc gia và các cơ sở dữ liệu quốc gia chuyên ngành; phấn đấu ngành Ngân hàng đi đầu trong quản lý, giám sát, ra quyết định điều hành dựa trên dữ liệu, nâng cao năng lực dự báo và cảnh báo sớm.

Bên cạnh đó, thúc đẩy ứng dụng AI thực chất, có trách nhiệm. Các ngân hàng cần nghiên cứu, phát triển ứng dụng AI trong phân tích dữ liệu, quản trị rủi ro, phát hiện gian lận, tối ưu hóa quy trình, chăm sóc khách hàng và phát triển sản phẩm. Các ứng dụng AI phải làm rõ: Giải quyết vấn đề gì, tạo ra giá trị gì và rủi ro được kiểm soát như thế nào. Cùng với thúc đẩy ứng dụng, cần sớm hình thành các nguyên tắc quản trị AI phù hợp, đảm bảo khả năng kiểm soát, trách nhiệm giải trình, bảo vệ dữ liệu và quyền lợi hợp pháp của khách hàng. Bảo đảm an ninh, an toàn và xây dựng niềm tin số. Chuyển mạnh từ ứng phó sự cố sang chủ động phòng ngừa “từ sớm, từ xa”. Đầu tư tương xứng cho an ninh mạng, an ninh dữ liệu và phòng, chống gian lận trong bối cảnh tội phạm sử dụng AI, Deepfake và các thủ đoạn công nghệ ngày càng tinh vi. Không chỉ có trách nhiệm bảo vệ hệ thống mà còn phải góp phần bảo vệ khách hàng; không đánh đổi an toàn, quyền riêng tư và niềm tin của người dùng để tăng trưởng về chuyển đổi số.

Đồng thời, thúc đẩy tài chính toàn diện. Chuyển đổi số ngành Ngân hàng phải trực tiếp phục vụ người dân, doanh nghiệp, thúc đẩy tài chính toàn diện. Cần khai thác dữ liệu tốt hơn để đổi mới phương thức đánh giá khách hàng, quản trị tín dụng, phát triển sản phẩm phù hợp với doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh, hợp tác xã, người lao động và khu vực nông thôn; tạo điều kiện để khách hàng có phương án kinh doanh khả thi, dòng tiền minh bạch tiếp cận vốn thuận lợi hơn với chi phí hợp lý hơn. Đồng thời quan tâm đến người cao tuổi, người yếu thế, người dân vùng sâu, vùng xa để đảm bảo mọi người đều có khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính cơ bản một cách thuận tiện và an toàn.

Không dừng lại ở đó, cần phát triển nguồn nhân lực và nâng cao trách nhiệm người đứng đầu. Chú trọng phát triển nguồn nhân lực có năng lực về dữ liệu, AI, công nghệ và an ninh mạng. Người đứng đầu các đơn vị phải trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo và chịu trách nhiệm về kết quả chuyển đổi số. Mỗi nhiệm vụ phải rõ mục tiêu, rõ sản phẩm, rõ người chịu trách nhiệm, rõ nguồn lực, rõ thời hạn và có chỉ tiêu đo lường được. Không làm dàn trải, không làm theo phong trào; phải đánh giá bằng những vấn đề đã được giải quyết và những giá trị thực tế đã tạo ra.

Hương Giang - Trà Giang - Hoàng Giáp

Tin bài khác

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Ứng dụng Geo-Tagging trong minh bạch hóa dữ liệu thanh toán số tại khu vực nông thôn Việt Nam

Ứng dụng Geo-Tagging trong minh bạch hóa dữ liệu thanh toán số tại khu vực nông thôn Việt Nam

Bài viết đề xuất ứng dụng công nghệ Geo-Tagging trong quản trị dữ liệu thanh toán số tại khu vực nông thôn, góp phần minh bạch hóa dòng tiền, nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tài chính toàn diện, đồng thời tạo nền tảng phát triển hệ sinh thái thanh toán số an toàn, hiện đại và bền vững tại Việt Nam.
Trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Cơ hội, ứng dụng, triển khai và thách thức

Trí tuệ nhân tạo tạo sinh trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Cơ hội, ứng dụng, triển khai và thách thức

Từ một xu hướng công nghệ mới, trí tuệ nhân tạo (AI) tạo sinh (Generative AI) đang nhanh chóng trở thành động lực đổi mới của ngành tài chính, ngân hàng, mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít thách thức trong quá trình triển khai và quản trị.
Tiếp nhận tiền mã hóa và nhân tố tác động: Góc nhìn từ chỉ số sẵn sàng mạng lưới

Tiếp nhận tiền mã hóa và nhân tố tác động: Góc nhìn từ chỉ số sẵn sàng mạng lưới

Sự phát triển nhanh của tiền mã hóa đang làm thay đổi bức tranh tài chính số, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện các điều kiện nền tảng và khuôn khổ quản trị để thúc đẩy sự phát triển an toàn, bền vững.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Đảm bảo an toàn hệ sinh thái số: Bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng

Đảm bảo an toàn hệ sinh thái số: Bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng

Để bảo đảm an toàn dữ liệu và tài khoản của khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng trên môi trường mạng, bên cạnh nỗ lực của ngành Ngân hàng trong việc nâng cấp hạ tầng công nghệ bảo mật, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành liên quan trong công tác phòng, chống lừa đảo trực tuyến. Bởi lẽ, nếu các mắt xích trong hệ sinh thái số không được bảo vệ đồng bộ, thì ngay cả lớp xác thực sinh trắc học, dù hiện đại đến đâu, cũng khó phát huy hiệu quả tuyệt đối.
Đánh giá trải nghiệm người dùng ứng dụng di động của Tổ chức tài chính vi mô CEP: Bằng chứng từ phân tích dữ liệu trực tuyến

Đánh giá trải nghiệm người dùng ứng dụng di động của Tổ chức tài chính vi mô CEP: Bằng chứng từ phân tích dữ liệu trực tuyến

Bài viết tiến hành đánh giá trải nghiệm người dùng ứng dụng di động của Tổ chức tài chính vi mô CEP, qua đó làm rõ vai trò của việc nâng cao trải nghiệm người dùng, đồng thời đưa ra một số hạn chế và đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tài chính vi mô trong bối cảnh chuyển đổi số.
Xem thêm
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại