Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Chính sách
Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
aa

Tóm tắt: Thanh toán bằng thẻ ngân hàng ngày càng phổ biến, góp phần thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) và chuyển đổi số ngành Ngân hàng. Tuy nhiên, thực tiễn phát triển hoạt động thẻ cũng đặt ra một số vấn đề pháp lý liên quan đến điều kiện sử dụng thẻ, trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép, bảo vệ chủ thẻ trong quan hệ hợp đồng và phòng ngừa gian lận trong thanh toán bằng thẻ ngân hàng. Trên cơ sở phân tích các quy định hiện hành, bài viết chỉ ra một số bất cập và đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật, tăng cường bảo vệ quyền lợi chủ thẻ, bảo đảm hoạt động thanh toán bằng thẻ an toàn, minh bạch.

Từ khóa: Thẻ ngân hàng; thanh toán bằng thẻ; pháp luật ngân hàng; bảo vệ chủ thẻ; hợp đồng, gian lận.

SOME LEGAL ISSUES CONCERNING BANK CARD PAYMENTS IN VIETNAM

Abstract: Bank card payments have become increasingly prevalent in Vietnam, contributing to the promotion of cashless payments and the digital transformation of the banking sector. However, the development of card payment activities has also raised several legal issues concerning conditions for card use, liability for unauthorized transactions, protection of cardholders in contractual relationships, and prevention of fraud in bank card payments. Based on an analysis of the current legal framework, this article identifies several shortcomings and proposes recommendations for improving relevant regulations, strengthening the protection of cardholders’ rights and interests, and ensuring safe and transparent bank card payment activities.

Keywords: Bank cards; card payments; banking law; cardholder protection; contracts; fraud.

Ảnh minh họa (Nguồn: baochinhphu.vn/)
Ảnh minh họa (Nguồn: baochinhphu.vn/)

Trong bối cảnh Việt Nam đang hội nhập và nắm bắt những cơ hội từ cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0), sự kết hợp của công nghệ số vào các lĩnh vực đã tạo ra nhiều chuyển biến tích cực trên mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 theo Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ đặt ra mục tiêu hiện đại hóa hệ thống công nghệ, đẩy mạnh TTKDTM và bảo đảm an toàn giao dịch. Thời gian gần đây, hoạt động thanh toán qua thẻ ngân hàng đã và đang trở thành một phương thức thanh toán phổ biến, góp phần quan trọng vào việc hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng, nâng cao tính minh bạch trong giao dịch, đồng thời thúc đẩy tiêu dùng và lưu thông hàng hóa, dịch vụ. Tuy nhiên, trên thực tế, quy định pháp luật Việt Nam về thanh toán bằng thẻ ngân hàng vẫn còn một số bất cập cần kịp thời khắc phục và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật để đảm bảo tính khả thi trên thực tế.

1. Khái quát về thẻ ngân hàng và thanh toán bằng thẻ ngân hàng

1.1. Khái niệm thẻ ngân hàng

Tại Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm thẻ ngân hàng xuất hiện trong Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng (ban hành kèm theo Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19/10/1999 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN), theo đó, thẻ ngân hàng “là công cụ thanh toán do ngân hàng phát hành thẻ cấp cho khách hàng sử dụng theo hợp đồng ký kết giữa ngân hàng phát hành thẻ và chủ thẻ”. Ngày 15/5/2007, Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN về việc ban hành Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng. Theo khoản 1 Điều 2 Quy chế này, “thẻ ngân hàng” được định nghĩa là “phương tiện do tổ chức phát hành thẻ (TCPHT) phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận”. Lúc này pháp luật bắt đầu làm rõ khái niệm cụ thể về thẻ tín dụng, thẻ ghi nợ và bổ sung thêm thẻ trả trước. Tiếp đó, Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Thống đốc NHNN về hoạt động thẻ ngân hàng, được sửa đổi, bổ sung trong các năm 2016, 2017, 2018, 2019, 2020 và 2021 tiếp tục ghi nhận thẻ ngân hàng là “phương tiện thanh toán do TCPHT phát hành để thực hiện giao dịch thẻ theo các điều kiện và điều khoản được các bên thỏa thuận”.

Hiện nay, khái niệm thẻ ngân hàng được quy định trong Thông tư số 18/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 45/2025/TT-NHNN ngày 19/11/2025, nội dung hiện hành được hợp nhất tại Văn bản số 30/VBHN-NHNN ngày 19/12/2025 quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (sau đây gọi tắt là Thông tư số 18/2024/TT-NHNN), vẫn giữ nguyên cách định nghĩa về thẻ ngân hàng. Trong đó, thẻ ngân hàng được chia thành 3 loại thẻ chính, bao gồm: Thẻ ghi nợ (debit card), thẻ tín dụng (credit card), thẻ trả trước (prepaid card). Ở đây, giao dịch thẻ là việc sử dụng thẻ để thực hiện giao dịch thanh toán, rút tiền mặt và các dịch vụ khác do TCPHT, tổ chức thanh toán thẻ (TCTTT) cung ứng theo quy định của pháp luật.

1.2. Khái niệm, đặc điểm thanh toán bằng thẻ ngân hàng

Thanh toán bằng thẻ ngân hàng là quá trình chủ thẻ sử dụng hình thái vật lý hoặc dạng điện tử của thẻ (bao gồm thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước) để thực hiện một giao dịch thanh toán thông qua việc chuyển tiền từ tài khoản liên kết với thẻ trong phạm vi số dư của thẻ (đối với thẻ ghi nợ), hoặc trong phạm vi số tiền đã nạp trước vào thẻ (đối với thẻ trả trước) hay hạn mức tín dụng của thẻ (đối với thẻ tín dụng) đến đơn vị chấp nhận thẻ (ĐVCNT).

Hoạt động thanh toán bằng thẻ ngân hàng có 4 đặc điểm sau: (i) Các giao dịch không có sự xuất hiện của tiền mặt. Trên cơ sở chuyển dịch giá trị thông qua tổ chức trung gian thanh toán (TCTGTT), bên có nghĩa vụ thanh toán và bên được thanh toán sử dụng công cụ thanh toán là thẻ ngân hàng để chuyển giao một khoản tiền phát sinh trong giao dịch mua bán hàng hóa, dịch vụ; (ii) Với sự ứng dụng của công nghệ số, hoạt động thanh toán bằng thẻ ngân hàng phụ thuộc vào hạ tầng công nghệ thông tin, viễn thông và hệ thống thanh toán điện tử. Thanh toán bằng thẻ ngân hàng không phải là một hành vi riêng lẻ mà là một phần của hệ thống tài chính toàn cầu, đòi hỏi pháp luật quốc gia phải hài hòa với các cam kết quốc tế. Vì vậy, phương thức thanh toán này giúp tối ưu hóa tốc độ lưu chuyển vốn trong nền kinh tế, đồng thời độ an toàn phụ thuộc chặt chẽ vào tính bảo mật của công nghệ và sự ổn định của hệ thống mạng lưới thanh toán quốc gia và quốc tế; (iii) Thanh toán bằng thẻ ngân hàng là một phương thức TTKDTM, các bên tham gia bao gồm chủ thẻ, ĐVCNT, TCPHT và TCTTT. Giao dịch thanh toán bằng thẻ ngân hàng mang tính hệ thống, đây không chỉ là quan hệ giữa người mua và người bán, mà đằng sau đó là cả một mạng lưới các hợp đồng giữa các chủ thể tham gia; (iv) Thanh toán bằng thẻ ngân hàng vẫn có những rủi ro như mất thẻ, gian lận điện tử hay lỗi kỹ thuật. Khi công nghệ càng hiện đại thì cách thức mà tội phạm công nghệ cao sử dụng càng tinh vi và có xu hướng gia tăng.

2. Một số bất cập của pháp luật về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Mặc dù khuôn khổ pháp luật về hoạt động thẻ ngân hàng thời gian qua đã từng bước được hoàn thiện, sự phát triển nhanh của công nghệ thanh toán cũng như các phương thức gian lận mới đang đặt ra những vấn đề pháp lý cần tiếp tục xem xét. Khoảng trống không chỉ ở một số tình huống mới chưa được điều chỉnh đầy đủ, mà còn ở khả năng phân định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm giữa các chủ thể khi rủi ro phát sinh. Trên cơ sở đối chiếu quy định hiện hành với đặc điểm của hoạt động thanh toán bằng thẻ, có thể nhận diện một số vấn đề sau:

2.1. Về đối tượng được sử dụng thẻ ngân hàng

Hiện nay, trong quan hệ thanh toán bằng thẻ ngân hàng, cơ bản có sự tham gia chặt chẽ của bốn bên: Chủ thẻ, TCPHT, TCTTT và ĐVCNT. Ngoài ra, đối với những giao dịch thanh toán sử dụng thẻ quốc tế thì tổ chức thẻ quốc tế (TCTQT) cũng tham gia vào quan hệ thanh toán thẻ với vai trò là trung tâm.

Đối với chủ thẻ, đây là cá nhân hoặc tổ chức được TCPHT cung cấp thẻ để sử dụng, bao gồm chủ thẻ chính và chủ thẻ phụ. Điều 15 Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định, với chủ thẻ là cá nhân, cụ thể chủ thẻ chính hay chủ thẻ phụ là người từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật, được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước; người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự được sử dụng thẻ ghi nợ, thẻ tín dụng, thẻ trả trước. Ngoài ra, người từ đủ 6 tuổi đến chưa đủ 15 tuổi không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự được người đại diện theo pháp luật của người đó là chủ thẻ chính đồng ý bằng văn bản về việc sử dụng thẻ được sử dụng thẻ ghi nợ và thẻ trả trước với tư cách là chủ thẻ phụ. Bên cạnh đó, đối với chủ thẻ phụ, chủ thẻ chính cam kết bằng văn bản thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ phát sinh liên quan đến việc sử dụng thẻ của chủ thẻ phụ theo hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ.

Pháp luật hiện hành đã đặt ra yêu cầu đối với tổ chức tín dụng trong việc thu thập thông tin về khả năng tài chính của khách hàng khi cấp tín dụng, song chưa thiết kế các tiêu chí riêng về đánh giá khả năng trả nợ, hạn mức tín dụng và biện pháp kiểm soát phù hợp với đặc thù của người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi. Tuy nhiên, khác với người trưởng thành có thu nhập và khả năng tài chính tương đối ổn định, người trong độ tuổi này phần lớn chưa có nguồn thu nhập độc lập, kinh nghiệm quản lý tài chính còn hạn chế, trong khi việc sử dụng thẻ tín dụng về bản chất làm phát sinh nghĩa vụ hoàn trả khoản tín dụng đã sử dụng, vì vậy khả năng tự trả nợ của nhóm tuổi này hầu như không được đảm bảo. Việc cho phép chủ thẻ chính chưa đủ 18 tuổi sử dụng thẻ tín dụng mà không có quy định bắt buộc về bảo lãnh của người đại diện theo pháp luật, hạn mức tín dụng tối đa thấp hơn hoặc yêu cầu giám sát đặc biệt sẽ gây ra những bất cập nhất định.

2.2. Phân định trách nhiệm chịu rủi ro trong thanh toán bằng thẻ ngân hàng

Điều 8 Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định TCPHT là tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thực hiện phát hành thẻ theo quy định, bao gồm Ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được phát hành thẻ khi hoạt động cung ứng dịch vụ thẻ được ghi trong Giấy phép do NHNN cấp; Ngân hàng chính sách phát hành thẻ theo quy định của Chính phủ và quy định tại Thông tư này; Công ty tài chính tổng hợp và công ty tài chính tín dụng tiêu dùng được phát hành thẻ tín dụng khi hoạt động phát hành thẻ tín dụng được ghi trong Giấy phép do NHNN cấp. TCPHT trong cấu trúc giao dịch có vai trò phát hành, quản lý thẻ và cấp tín dụng cho chủ thẻ, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp của thẻ ngân hàng để phê duyệt hoặc từ chối giao dịch trong giai đoạn ủy quyền thanh toán.

Theo Điều 20 Thông tư số 18/2024/TT-NHNN, TCTTT bao gồm Ngân hàng thương mại, ngân hàng hợp tác xã, chi nhánh ngân hàng nước ngoài được thanh toán thẻ khi hoạt động cung ứng dịch vụ thẻ được ghi trong Giấy phép do NHNN cấp; Ngân hàng chính sách được thực hiện thanh toán thẻ theo quy định. Trong quan hệ thanh toán bằng thẻ ngân hàng, TCTTT chịu trách nhiệm xử lý, chuyển mạch, bù trừ và quyết toán giao dịch thẻ, đồng thời ký hợp đồng với ĐVCNT.

Trong cấu trúc giao dịch thanh toán bằng thẻ ngân hàng, TCTTT ghi có vào tài khoản của ĐVCNT và chuyển hóa đơn giao dịch đến TCPHT. Lúc này, TCTTT đã thay mặt khách hàng thanh toán trước hóa đơn mua hàng hóa, dịch vụ cho ĐVCNT. TCPHT trích tiền từ tài khoản của chủ thẻ (đối với thẻ ghi nợ) hoặc ghi nợ vào hạn mức tín dụng (đối với thẻ tín dụng) để hoàn trả tiền hàng hóa, dịch vụ cho TCTTT. Trong nhiều trường hợp, TCTTT và TCPHT có thể cùng một ngân hàng. Lúc này, một ngân hàng vừa phát hành thẻ vừa thanh toán thẻ trong cùng một giao dịch dẫn đến tình trạng chồng chéo trách nhiệm hoặc khó phân biệt rõ ràng khi xảy ra tranh chấp, tra soát. Hơn nữa, theo Thông tư số 18/2024/TT-NHNN, TCPHT chịu trách nhiệm chính trong việc bồi hoàn cho chủ thẻ đối với các giao dịch gian lận không do lỗi của chủ thẻ; việc quản lý, giám sát ĐVCNT và xử lý tra soát, bồi hoàn ban đầu là trách nhiệm của TCTTT. Trong khi đó, ĐVCNT phải chịu trách nhiệm về thiệt hại nếu không thực hiện đúng quy trình kiểm tra thẻ, chứng từ và quy định của TCTTT.

2.3. Hợp đồng trong thanh toán bằng thẻ ngân hàng

Điều 3 Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định, Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ là thỏa thuận bằng văn bản giữa TCPHT với chủ thẻ về việc phát hành và sử dụng thẻ. Hợp đồng thanh toán thẻ là thỏa thuận bằng văn bản giữa TCTTT với ĐVCNT hoặc với TCTQT, TCTGTT (nếu có) về việc chấp nhận thanh toán hàng hóa, dịch vụ bằng thẻ. Nhìn chung, cả hai loại hợp đồng đều có một bên chủ thể là TCPHT hoặc TCTTT thường đưa ra đề nghị giao kết hợp đồng, bên còn lại là khách hàng là chủ thẻ hoặc ĐVCNT có nhu cầu sử dụng dịch vụ.

Điều 12 Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định nội dung tối thiểu trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ. Theo đó, ngoài thông tin liên quan đến hợp đồng như số hợp đồng và thời điểm (ngày, tháng, năm) lập hợp đồng; thông tin cá nhân như tên TCPHT; họ, tên chủ thẻ đối với khách hàng cá nhân; tên tổ chức, họ, tên người đại diện hợp pháp và họ, tên chủ thẻ phụ đối với khách hàng tổ chức; hợp đồng còn quy định các nội dung về quyền và nghĩa vụ của các bên; quy định về phí (các loại phí, các thay đổi về phí); thỏa thuận về việc cấp tín dụng cho chủ thẻ, bao gồm các hạn mức và sự thay đổi hạn mức; phạm vi, hạn mức sử dụng, thời hạn hiệu lực của thẻ; các trường hợp tạm khóa, từ chối thanh toán thẻ, tạm dừng giao dịch thẻ; các trường hợp thu hồi thẻ hoặc hủy hiệu lực của thẻ trong quá trình sử dụng; các trường hợp hoàn trả lại số tiền trên thẻ chưa sử dụng hết; các phương thức tiếp nhận khiếu nại; các trường hợp bất khả kháng và những điều khoản khác được pháp luật về hoạt động thẻ ngân hàng quy định.

Trên thực tế, hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ thường được thiết kế dưới dạng hợp đồng theo mẫu nhằm đáp ứng yêu cầu cung ứng dịch vụ với số lượng lớn và bảo đảm tính thống nhất trong hoạt động ngân hàng. Chủ thẻ chủ yếu xem xét và quyết định chấp nhận hoặc không chấp nhận các điều khoản đã được soạn thảo trước, nên khả năng thương lượng, sửa đổi từng điều khoản riêng lẻ thường hạn chế.

Mặt khác, hoạt động thẻ ngày càng được thực hiện trên môi trường số, trong đó việc giao kết hợp đồng, xác nhận điều khoản và thông báo thay đổi có thể được thực hiện bằng phương thức điện tử. Nếu thông tin về quyền, nghĩa vụ, phí, lãi hoặc trách nhiệm của chủ thẻ được thể hiện phức tạp, phân tán hoặc khó tiếp cận thì khách hàng có thể chấp nhận hợp đồng mà chưa nhận thức đầy đủ các hệ quả pháp lý phát sinh. Vì vậy, không chỉ hợp đồng cần có đầy đủ thông tin mà còn phải bảo đảm thông tin quan trọng được thể hiện rõ ràng, dễ nhận biết và khách hàng có khả năng tiếp cận trước khi quyết định ký hợp đồng.

Hơn nữa, trước sự phát triển nhanh của các sản phẩm thẻ và phương thức giao kết điện tử, cơ chế bảo vệ chủ thẻ trong hợp đồng theo mẫu vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện theo hướng tăng cường minh bạch thông tin, kiểm soát các điều khoản có khả năng gây bất lợi cho khách hàng và bảo đảm quyền lựa chọn, khiếu nại, chấm dứt hợp đồng của chủ thẻ.

2.4. Gian lận và một số hành vi vi phạm trong hoạt động thẻ ngân hàng

Cùng với sự phát triển nhanh của TTKDTM và ứng dụng công nghệ số, các hành vi gian lận, lừa đảo liên quan đến thẻ ngân hàng ngày càng đa dạng và tinh vi. Các đối tượng có thể giả mạo nhân viên ngân hàng, cơ quan nhà nước hoặc tổ chức có uy tín để tiếp cận khách hàng; sử dụng công nghệ deepfake nhằm tạo dựng hình ảnh, giọng nói giả; gửi đường dẫn giả mạo hoặc cài đặt phần mềm độc hại để chiếm đoạt thông tin thẻ, mã OTP, CVV và các thông tin xác thực khác. Bên cạnh đó, còn xuất hiện các hành vi mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn thẻ hoặc thông tin thẻ; sử dụng thẻ để thực hiện các giao dịch phục vụ hoạt động bất hợp pháp như đánh bạc, rửa tiền hoặc các hành vi vi phạm pháp luật khác. Đối với ĐVCNT, cũng có thể phát sinh các hành vi như thu thêm phụ phí hoặc phân biệt giá khi khách hàng thanh toán bằng thẻ, thực hiện giao dịch khống hoặc sử dụng thẻ, thông tin thẻ không đúng quy định.

Pháp luật về hoạt động thẻ ngân hàng quy định các hành vi bị cấm trong phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ; đồng thời đặt ra trách nhiệm của TCPHT, TCTTT, chủ thẻ và ĐVCNT trong việc bảo đảm an toàn, bảo mật và sử dụng thẻ đúng mục đích.

Tuy nhiên, sự gia tăng và biến đổi nhanh của các phương thức gian lận cho thấy thách thức đối với pháp luật không chỉ nằm ở việc xử lý hành vi vi phạm sau khi xảy ra, mà còn ở khả năng nhận diện, phòng ngừa, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các phương thức gian lận mới phát sinh.

3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Thứ nhất, quy định về thẩm định và cấp tín dụng cho chủ thẻ chính từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi

Pháp luật hiện hành cho phép người từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi, không bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, được sử dụng thẻ tín dụng. Quy định này góp phần mở rộng khả năng tiếp cận các dịch vụ thanh toán hiện đại, đồng thời tạo điều kiện để người trẻ từng bước hình thành kỹ năng quản lý tài chính. Tuy nhiên, do phần lớn người trong độ tuổi này chưa có thu nhập ổn định, kinh nghiệm quản lý tài chính và khả năng tự chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ trả nợ còn hạn chế, do đó, cần nghiên cứu ban hành quy định hạn mức tín dụng tối đa phù hợp đối với nhóm khách hàng từ đủ 15 đến dưới 18 tuổi và những điều kiện chặt chẽ hơn như hạn chế việc rút tiền mặt, đồng thời yêu cầu TCPHT đánh giá khả năng tài chính, nguồn trả nợ và mức độ phù hợp của hạn mức tín dụng trước khi quyết định cấp thẻ.

Thứ hai, hoàn thiện quy định về giới hạn trách nhiệm của chủ thẻ đối với giao dịch trái phép và nghĩa vụ chứng minh

Pháp luật hiện hành đã quy định trách nhiệm của TCPHT trong tiếp nhận yêu cầu khóa thẻ, tra soát, khiếu nại cho khách hàng; thực hiện bồi hoàn cho chủ thẻ theo thỏa thuận và quy định của pháp luật hiện hành đối với những tổn thất phát sinh không do lỗi của chủ thẻ và/hoặc không thuộc các trường hợp bất khả kháng thỏa thuận tại hợp đồng. Trường hợp tổn thất phát sinh do lỗi của các bên liên quan (TCTTT, TCTGTT, TCTQT, ĐVCNT), bên có lỗi thực hiện bồi hoàn cho TCPHT theo thỏa thuận giữa các bên phù hợp với quy định của pháp luật; Trong trường hợp hết thời hạn xử lý đề nghị tra soát, khiếu nại theo thỏa thuận tại hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ mà vẫn chưa xác định được nguyên nhân hay lỗi thuộc bên nào thì TCPHT thỏa thuận với chủ thẻ về phương án xử lý hoặc tạm thời bồi hoàn tổn thất cho chủ thẻ cho đến khi có kết luận cuối cùng của cơ quan có thẩm quyền phân định rõ lỗi và trách nhiệm của các bên.

Tuy nhiên, đối với các giao dịch trái phép phát sinh trước thời điểm chủ thẻ thông báo, pháp luật chưa quy định một mức giới hạn trách nhiệm tài chính cụ thể của chủ thẻ mà việc xử lý chủ yếu căn cứ vào nguyên nhân, lỗi của các bên và thỏa thuận có liên quan. Do vậy, pháp luật cần chỉ rõ và phân định rõ ràng trách nhiệm của các bên liên quan đến hoạt động thanh toán bằng thẻ ngân hàng, tránh tình trạng trách nhiệm chồng chéo.

Kinh nghiệm của Hoa Kỳ, trong Đạo luật Thanh toán Tín dụng Công bằng năm 1974 có quy định quy trình xử lý các tranh chấp liên quan đến việc lập hóa đơn sai sót hoặc gian lận trên thẻ tín dụng và tài khoản tín dụng quay vòng. Đạo luật giới hạn trách nhiệm của người tiêu dùng đối với các khoản giao dịch trái phép ở mức 50 USD. Tuy nhiên, hầu hết TCPHT ở Hoa Kỳ áp dụng chính sách miễn trách nhiệm đối với trường hợp chủ thẻ kịp thời báo cáo với TCPHT về giao dịch bất thường cũng như đảm bảo thẻ được sử dụng đúng mục đích, chủ thẻ không gian lận. Khi đó, trách nhiệm của chủ thẻ được giảm xuống còn 0 USD. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm của Hoa Kỳ, pháp luật Việt Nam có thể nghiên cứu quy định mức trách nhiệm tối đa của chủ thẻ đối với các khoản giao dịch gian lận xảy ra trước khi báo mất thẻ. Đồng thời, cần xác định rõ giao dịch trái phép, thời điểm TCPHT được coi là đã tiếp nhận thông báo và nghĩa vụ chứng minh của các bên. Chủ thẻ không nên phải chịu trách nhiệm vượt quá giới hạn này nếu đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ bảo mật và không có hành vi gian lận hoặc cố ý vi phạm nghĩa vụ. Quy định này cần được thiết kế thống nhất với cơ chế tra soát, khiếu nại và bồi hoàn hiện hành, qua đó bảo vệ chủ thẻ và phân bổ rủi ro hợp lý giữa các bên.

Thứ ba, cho phép khách hàng sử dụng dịch vụ thỏa thuận và đàm phán trong hợp đồng

Pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng quy định rõ trách nhiệm của TCPHT và TCTTT trong việc cung cấp thông tin về hợp đồng, bảo đảm khách hàng sử dụng dịch vụ có điều kiện tiếp cận đầy đủ, chính xác nội dung của từng điều khoản. Bên cạnh đó, cần cho phép các bên thỏa thuận bổ sung hoặc lập phụ lục hợp đồng. Đồng thời, đối với việc thay đổi những nội dung quan trọng trong quá trình thực hiện hợp đồng như hạn mức tín dụng, phí dịch vụ..., TCPHT cần thông báo kịp thời, minh bạch và tạo điều kiện để chủ thẻ hoặc ĐVCNT thực hiện quyền lựa chọn hoặc chấm dứt hợp đồng theo quy định. Qua đó, vừa bảo đảm tính thống nhất, thuận tiện trong cung ứng dịch vụ thẻ, vừa tăng cường bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thẻ.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế phòng ngừa, phát hiện và xử lý gian lận trong hoạt động thẻ ngân hàng

Trước sự gia tăng của các phương thức gian lận sử dụng công nghệ cao, pháp luật cần tiếp tục hoàn thiện trách nhiệm của TCPHT, TCTTT và các chủ thể liên quan trong giám sát, phát hiện và xử lý giao dịch có dấu hiệu bất thường. Các tổ chức cung ứng dịch vụ cần xây dựng cơ chế cảnh báo phù hợp với mức độ rủi ro của giao dịch, kịp thời thông báo cho chủ thẻ và áp dụng biện pháp ngăn chặn cần thiết khi phát hiện dấu hiệu gian lận; thường xuyên đánh giá rủi ro, rà soát lỗ hổng bảo mật và cập nhật hệ thống công nghệ phù hợp với mức độ rủi ro.

Bên cạnh đó, cần tăng cường cảnh báo, hướng dẫn khách hàng nhận diện phương thức lừa đảo mới và bảo vệ thông tin thẻ, qua đó hình thành cơ chế phòng ngừa rủi ro đồng bộ từ phía ngân hàng và chủ thẻ.

4. Kết luận

Thanh toán bằng thẻ ngân hàng ngày càng giữ vai trò quan trọng trong quá trình phát triển TTKDTM và chuyển đổi số của ngành Ngân hàng. Cùng với sự mở rộng về quy mô và tiện ích, hoạt động này cũng đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, đặc biệt liên quan đến điều kiện sử dụng thẻ, cấp tín dụng qua thẻ, phân định trách nhiệm khi xảy ra giao dịch trái phép, bảo vệ khách hàng trong hợp đồng theo mẫu và phòng ngừa gian lận công nghệ cao.

Thực tiễn cho thấy pháp luật về hoạt động thẻ ngân hàng đã từng bước được hoàn thiện, song vẫn còn một số khoảng trống cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung để phù hợp với sự phát triển nhanh của công nghệ và phương thức thanh toán mới. Vì vậy, việc hoàn thiện pháp luật cần theo hướng bảo đảm rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia, tăng cường bảo vệ quyền lợi của chủ thẻ, nâng cao yêu cầu minh bạch trong cung cấp dịch vụ, đồng thời củng cố cơ chế phòng ngừa, phát hiện và xử lý rủi ro, gian lận. Qua đó, tạo nền tảng pháp lý an toàn, minh bạch cho hoạt động thanh toán bằng thẻ ngân hàng phát triển bền vững trong môi trường số.

Tài liệu tham khảo

1. Federal Trade Commission (2022), “Using credit cards and disputing charges”. Consumer Advice. Nguồn truy cập: https://consumer.ftc.gov/articles/using-credit-cards-and-disputing-charges

2. Quyết định số 371/1999/QĐ-NHNN1 ngày 19/10/1999 của Thống đốc NHNN ban hành Quy chế phát hành, sử dụng và thanh toán thẻ ngân hàng.

3. Quyết định số 20/2007/QĐ-NHNN ngày 15/5/2007 của Thống đốc NHNN ban hành Quy chế phát hành, thanh toán, sử dụng và cung cấp dịch vụ hỗ trợ hoạt động thẻ ngân hàng.

4. Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30/6/2016 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.

5. Thông tư số 18/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.

6. Thông tư số 45/2025/TT-NHNN ngày 19/11/2025 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng.

Tạ Hiền Anh
Trường Đại học Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội

Tin bài khác

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
Xem thêm
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối