Tác động của tỉ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam và một số hàm ý chính sách

Bài viết khoa học chuyên sâu
Trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam ngày càng hội nhập sâu rộng, biến động tỉ giá hối đoái không chỉ tác động đến hoạt động xuất - nhập khẩu mà còn có thể tạo áp lực đáng kể lên mặt bằng giá trong nước thông qua hiệu ứng truyền dẫn tỉ giá, đặt ra yêu cầu phối hợp chính sách tỉ giá và tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.
aa

Tóm tắt: Nghiên cứu này phân tích tác động của tỉ giá hối đoái đến lạm phát ở Việt Nam bằng mô hình tự hồi quy phân phối trễ kết hợp mô hình hiệu chỉnh sai số (ARDL-ECM) trên cơ sở dữ liệu chuỗi thời gian theo quý trong giai đoạn từ Quý I/1999 đến Quý IV/2025. Khác với nhiều nghiên cứu trước đây chủ yếu sử dụng tỉ giá song phương VND/USD, nghiên cứu này áp dụng tỉ giá danh nghĩa hữu hiệu (NEER) nhằm phản ánh toàn diện hơn biến động giá trị của đồng Việt Nam so với rổ tiền tệ của các đối tác thương mại chính. Bên cạnh tỉ giá, mô hình còn xem xét ảnh hưởng của cung tiền (M2), sản lượng thực (GDP), chỉ số giá tiêu dùng của các đối tác thương mại (FCPI) và giá dầu thế giới (OIL) đến lạm phát. Kết quả kiểm định đường bao xác nhận sự tồn tại của mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa các biến. Ước lượng mô hình cho thấy sự mất giá của VND làm gia tăng lạm phát trong cả ngắn hạn và dài hạn, qua đó khẳng định sự tồn tại của hiệu ứng truyền dẫn tỉ giá hối đoái (ERPT) tại Việt Nam. Ngoài ra, tăng trưởng M2, lạm phát quốc tế và giá dầu thế giới có tác động cùng chiều đến lạm phát trong nước, trong khi GDP có tác động ngược chiều trong dài hạn. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất các hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp giữa chính sách tiền tệ và chính sách tỉ giá trong kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô.

Từ khóa: Tỉ giá hối đoái, hiệu ứng truyền dẫn tỉ giá, lạm phát.

THE IMPACT OF THE EXCHANGE RATE ON INFLATION IN VIETNAM
AND SOME POLICY IMPLICATIONS

Abstract: This study examines the impact of the exchange rate on inflation in Vietnam using Autoregressive Distributed Lag-Error Correction Model (ARDL-ECM) based on quarterly time-series data spanning from Q1 1999 to Q4 2025. Unlike many previous studies that primarily employed the bilateral VND/USD exchange rate, this research adopts Nominal Effective Exchange Rate (NEER) to provide a more comprehensive measure of fluctuations in the value of the Vietnamese dong against a basket of currencies of Vietnam's major trading partners. In addition to the exchange rate, the model incorporates broad money supply (M2), real output (GDP), Consumer Price Index of trading partners (FCPI), and world oil prices (OIL) as determinants of inflation. The Bounds Test confirms the existence of a long-run cointegrating relationship among the variables. The estimation results indicate that a depreciation of VND increases inflation in both the short run and the long run, thereby confirming the presence of Exchange Rate Pass-Through (ERPT) in Vietnam. Furthermore, growth in M2, international inflation, and world oil prices exert positive effects on domestic inflation, whereas real output has a negative long-run effect. Based on these findings, the study proposes policy implications to strengthen the coordination between monetary policy and exchange rate policy in controlling inflation and maintaining macroeconomic stability.

Keywords: Exchange rate, exchange rate pass-through, inflation.

Tác động của tỉ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam và một số hàm ý chính sách
Ảnh minh họa (Nguồn: msb.com.vn)

1. Giới thiệu

Kiểm soát lạm phát luôn là một trong những mục tiêu trọng tâm của chính sách kinh tế vĩ mô, bởi lạm phát ảnh hưởng trực tiếp đến sức mua của đồng tiền, quyết định tiêu dùng, đầu tư tư nhân và sự tăng trưởng bền vững của nền kinh tế. Việc duy trì lạm phát ở mức hợp lý không chỉ góp phần ổn định kinh tế vĩ mô mà còn củng cố niềm tin của thị trường đối với công tác điều hành của Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN). Đối với nền kinh tế có độ mở thương mại cao như Việt Nam, lạm phát không chỉ chịu tác động từ các yếu tố nội tại như M2, tổng cầu, chi phí sản xuất hay kỳ vọng lạm phát, mà còn nhạy cảm trước các cú sốc bên ngoài, trong đó biến động tỉ giá hối đoái là kênh truyền dẫn đặc biệt quan trọng.

Về mặt lý thuyết, khi đồng nội tệ mất giá, giá hàng hóa nhập khẩu tính bằng nội tệ sẽ gia tăng, làm tăng chi phí đầu vào của các doanh nghiệp, đặc biệt tại những quốc gia phụ thuộc nhiều vào nguyên vật liệu và máy móc nhập khẩu. Áp lực chi phí này có thể được chuyển sang giá bán sản phẩm, đẩy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) lên cao. Đồng thời, biến động tỉ giá còn tác động đến kỳ vọng lạm phát và hành vi định giá của doanh nghiệp. Truyền dẫn tỷ giá hối đoái (Exchange Rate Pass-Through - ERPT) đề cập đến mức độ mà những thay đổi của tỉ giá hối đoái được phản ánh vào giá cả trong nước. Nói cách khác, ERPT là thước đo mức độ thay đổi của giá cả trong nước (như giá hàng nhập khẩu, giá sản xuất, hoặc giá tiêu dùng) khi tỉ giá hối đoái biến động. Nghiên cứu ERPT có ý nghĩa then chốt đối với việc lựa chọn chế độ tỉ giá và hoạch định chính sách tiền tệ.

Đối với Việt Nam, nghiên cứu về ERPT càng trở nên thiết thực khi tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu thường xuyên vượt quá quy mô GDP và hoạt động sản xuất phụ thuộc lớn vào đầu vào nhập khẩu. Trong hơn hai thập kỷ qua, Việt Nam đã trải qua nhiều sự kiện kinh tế lớn: Khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2008 - 2009, các đợt điều chỉnh tỉ giá mạnh giai đoạn 2010 - 2011, việc chuyển sang cơ chế tỉ giá trung tâm từ năm 2016, đại dịch Covid-19 và làn sóng thắt chặt tiền tệ toàn cầu giai đoạn 2022 - 2024. Những biến động này đòi hỏi một sự đánh giá lại mức độ truyền dẫn tỉ giá trong điều kiện mới.

Mặc dù chủ đề này đã thu hút nhiều nghiên cứu trong và ngoài nước, kết quả thực nghiệm tại Việt Nam vẫn chưa đạt được sự đồng thuận. Một số nghiên cứu cho rằng, tác động của tỉ giá đến lạm phát là tương đối khiêm tốn (Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lục Văn Cường, 2012). Ngược lại, nhóm nghiên cứu khác khẳng định tỉ giá là biến số then chốt quyết định lạm phát (Bhattacharya, 2014; Phạm Thế Anh, 2015). Sự khác biệt này bắt nguồn từ sự khác nhau về giai đoạn nghiên cứu, nguồn dữ liệu, biến đại diện cho tỉ giá (song phương hay đa phương) và phương pháp ước lượng.

Xuất phát từ những khoảng trống trong các nghiên cứu trước, bài viết phân tích tác động của tỉ giá hối đoái đến lạm phát ở Việt Nam trên cơ sở dữ liệu chuỗi thời gian theo quý giai đoạn từ Quý I/1999 đến Quý IV/2025. Nghiên cứu có ba đóng góp chính: (i) Sử dụng NEER và giá quốc tế dựa trên rổ 25 thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam lớn nhất thay vì tỉ giá song phương VND/USD và CPI của Mỹ; (ii) Cập nhật chuỗi dữ liệu bao quát cả giai đoạn trước và sau khi áp dụng cơ chế tỉ giá trung tâm năm 2016; (iii) Áp dụng mô hình ARDL-ECM để đánh giá tác động của tỉ giá hối đoái đến lạm phát trong ngắn hạn và dài hạn, đồng thời đo lường tốc độ điều chỉnh về cân bằng.

2. Tổng quan nghiên cứu

2.1. Nghiên cứu quốc tế

Lý thuyết kinh tế chỉ ra rằng, biến động tỉ giá tác động đến lạm phát qua hai kênh chính: (i) Kênh trực tiếp thông qua giá hàng hóa tiêu dùng nhập khẩu; (ii) Kênh gián tiếp thông qua giá nguyên vật liệu đầu vào nhập khẩu làm gia tăng chi phí sản xuất trong nước. Ngoài ra, biến động tỉ giá còn tác động qua kênh kỳ vọng lạm phát. Taylor (2000) đưa ra giả thuyết cho rằng, mức độ truyền dẫn tỉ giá phụ thuộc vào môi trường lạm phát: Khi lạm phát thấp và ổn định, doanh nghiệp có xu hướng hấp thụ cú sốc tỉ giá thay vì chuyển sang giá bán. Giả thuyết này được củng cố bởi nghiên cứu của Choudhri và Hakura (2006) và Gagnon và Ihrig (2004).

Đối với các nền kinh tế phát triển, phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm đều xác nhận rằng mức độ truyền dẫn của tỷ giá hối đoái đến giá cả không đầy đủ và có xu hướng suy giảm theo thời gian. Kết quả này được ghi nhận trong các nghiên cứu của Campa và Goldberg (2005) đối với các quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD); Campa và González Mínguez (2006) đối với khu vực đồng Euro (Eurozone). Ngược lại, tại các nền kinh tế mới nổi và đang phát triển, hệ số ERPT thường cao hơn do độ mở thương mại lớn, kỳ vọng lạm phát kém ổn định và thị trường tài chính chưa phát triển hoàn thiện (Ito và Sato, 2008; Parsley, 2012; Bada và cộng sự, 2016).

2.2. Nghiên cứu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu sử dụng nhiều công cụ kinh tế lượng như mô hình tự hồi quy vector (VAR), mô hình tự hồi quy vector cấu trúc (SVAR), mô hình hiệu chỉnh sai số vector (VECM) và mô hình trễ phân phối tự hồi quy (ARDL). Kết quả chia thành hai nhóm quan điểm:

(i) Nhóm 1 (ERPT yếu): Nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Trang và Lục Văn Cường (2012), Trần Thị Thanh Huyền (2018), Nguyễn Phúc Hiền và Hoàng Huy Khôi (2023) lập luận cho rằng sự can thiệp linh hoạt của NHNN, các chính sách chống đô-la hóa và sự phát triển của công cụ phòng ngừa rủi ro đã làm giảm bớt tác động của tỉ giá.

(ii) Nhóm 2 (ERPT mạnh): Bhattacharya (2014) sử dụng mô hình VAR chỉ ra rằng NEER và lạm phát nước ngoài là yếu tố quan trọng nhất tác động tới lạm phát. Phạm Thế Anh (2015) sử dụng mô hình SVAR ghi nhận phản ứng mạnh và kéo dài của CPI trước cú sốc tỉ giá.

2.3. Khoảng trống nghiên cứu

Tổng quan các nghiên cứu trong nước và quốc tế cho thấy: (i) Mức độ truyền dẫn tỉ giá tại Việt Nam vẫn chưa có sự thống nhất; (ii) Phần lớn nghiên cứu thiếu dữ liệu cập nhật sau khi áp dụng cơ chế tỉ giá trung tâm (2016) và các cú sốc giai đoạn hậu Covid-19; (iii) Còn tương đối ít các nghiên cứu kết hợp đầy đủ các yếu tố lạm phát do chi phí đẩy, cầu kéo và lạm phát nhập khẩu trong một khung phân tích ARDL dài hạn.

3. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu

3.1. Dữ liệu và các biến nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu chuỗi thời gian theo quý tại Việt Nam giai đoạn Quý I/1999 - Quý IV/2025 với N = 108 quan sát. Các chuỗi số liệu được thu thập từ Cơ sở dữ liệu thống kê kinh tế và tài chính - IFS của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), NHNN và Cục Thống kê (NSO). Tất cả các biến dạng chuỗi thời gian đều được hiệu chỉnh yếu tố mùa vụ và lấy logarit tự nhiên (trừ các biến giả). Bảng 1 mô tả chi tiết các biến trong mô hình nghiên cứu.

Bảng 1: Mô tả chi tiết các biến trong mô hình nghiên cứu

Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Nguồn: Tổng hợp của tác giả

3.2. Mô hình nghiên cứu

Mô hình dạng cân bằng dài hạn được thiết lập như sau:

Tác động của tỉ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam và một số hàm ý chính sách

3.3. Phương pháp ước lượng

Mô hình ARDL của Pesaran và cộng sự (2001) được lựa chọn nhờ một số ưu điểm nổi bật. Thứ nhất, mô hình ARDL phù hợp khi các biến trong mô hình có bậc tích hợp khác nhau, cho phép kết hợp các chuỗi dừng ở mức (Integrated of Order 0 - I(0)) và chuỗi dừng sau khi sai phân bậc nhất (Integrated of Order 1 - I(1)), với điều kiện không có biến nào tích hợp ở bậc hai (I(2)). Thứ hai, mô hình ARDL cho kết quả ước lượng có độ tin cậy cao và ít chệch ngay cả khi kích thước mẫu tương đối nhỏ hoặc trung bình. Thứ ba, mô hình này cho phép phân biệt rõ tác động trong ngắn hạn và dài hạn thông qua mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM), qua đó phản ánh đầy đủ quá trình điều chỉnh của các biến về trạng thái cân bằng dài hạn.

Quy trình phân tích được thực hiện theo các bước sau: (i) Kiểm định tính dừng của các chuỗi dữ liệu bằng kiểm định nghiệm đơn vị Augmented Dickey-Fuller (ADF); (ii) Xác định độ trễ tối ưu của mô hình dựa trên tiêu chí thông tin Akaike (Akaike Information Criterion - AIC); (iii) Thực hiện kiểm định đường bao để đánh giá sự tồn tại của mối quan hệ đồng liên kết giữa các biến; (iv) Ước lượng các hệ số dài hạn và mô hình ECM nhằm phân tích động thái ngắn hạn; (v) Tiến hành các kiểm định chẩn đoán, bao gồm kiểm định tự tương quan, phương sai thay đổi, phân phối chuẩn của phần dư, đồng thời đánh giá tính ổn định của mô hình thông qua kiểm định tổng tích lũy phần dư (Cumulative Sum of Recursive Residuals - CUSUM) và kiểm định tổng tích lũy bình phương phần dư (Cumulative Sum of Squares of Recursive Residuals - CUSUMSQ).

4. Kết quả thực nghiệm và thảo luận

4.1. Kiểm định tính dừng và mối quan hệ đồng liên kết

Kết quả kiểm định ADF (Bảng 2) cho thấy LnOIL dừng ở chuỗi gốc I(0), trong khi các biến LnCPI, LnM2, LnY, LnNEER, LnFCPI đều dừng ở sai phân bậc nhất I(1). Không có biến nào tích hợp bậc I(2). Dữ liệu hoàn toàn thỏa mãn điều kiện thực hiện ARDL.

Bảng 2. Kết quả kiểm định ADF

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ phần mềm EViews 13
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ phần mềm EViews 13

Dựa trên tiêu chí AIC, mô hình tối ưu được chọn là ARDL(6, 1, 5, 2, 0, 5). Kết quả kiểm định đường bao (Bảng 3) cho giá trị F =5,50, vượt qua giá trị tới hạn mức ý nghĩa 1% (I(1) = 3,99). Giả thuyết H0 bị bác bỏ, khẳng định tồn tại mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa lạm phát và các biến giải thích.

Bảng 3. Kết quả kiểm định đường bao

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ phần mềm EViews 13
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ phần mềm EViews 13

4.2. Kết quả ước lượng tác động dài hạn

Kết quả ước lượng dài hạn (Bảng 4) khẳng định tác động có ý nghĩa thống kê của các biến đến lạm phát.

Bảng 4. Kết quả ước lượng hệ số cân bằng trong dài hạn

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ phần mềm EViews 13
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ phần mềm EViews 13

Hiệu ứng ERPT: Hệ số LnNEER bằng 0,459 (ý nghĩa 1%). Điều này cho thấy trong dài hạn, khi đồng Việt Nam mất giá 1% so với rổ tiền tệ đối tác (NEER tăng 1%), lạm phát CPI của Việt Nam sẽ tăng khoảng 0,46%. Kết quả này ủng hộ giả thuyết ERPT tồn tại tương đối mạnh tại Việt Nam.

Yếu tố tiền tệ và tổng cầu: Hệ số LnM2 mang dấu dương (0,282 với p<0,01), nhất quán với lý thuyết số lượng tiền tệ. Hệ số LnY mang dấu âm (-0,571 với p<0,01), cho thấy sự gia tăng năng lực cung ứng hàng hóa trong nước giúp giảm áp lực lạm phát.

Lạm phát nhập khẩu: Hệ số LnFCPI lên tới 1,465 (p<0,01), khẳng định lạm phát của các nước đối tác truyền dẫn rất mạnh vào mặt bằng giá nội địa. Hệ số LnOIL có tác động dương (0,072) nhưng không có ý nghĩa trong dài hạn.

4.3. Kết quả kiểm định tác động ngắn hạn

Kết quả ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số ngắn hạn được mô tả trong Bảng 5.

Bảng 5. Kết quả ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số ngắn hạn

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ phần mềm EViews 13
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ phần mềm EViews 13

Từ Bảng 5 có thể rút ra một số kết luận sau:

Tốc độ điều chỉnh về trạng thái cân bằng: Hệ số của biến hiệu chỉnh sai số COINTEQ đạt -0,092 và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, qua đó khẳng định sự tồn tại của mối quan hệ dài hạn ổn định giữa các biến. Tốc độ điều chỉnh đạt 9,2%/quý, phản ánh tính dai dẳng của lạm phát tại Việt Nam. Phải mất một số quý để một cú sốc điều chỉnh hoàn toàn về trạng thái cân bằng dài hạn.

Tác động ngắn hạn của tỉ giá: Trong ngắn hạn, sự mất giá của tỉ giá hối đoái danh nghĩa hiệu lực (DLnNEER) làm chỉ số CPI tăng khoảng 0,134% ngay trong cùng quý (p < 0,01). So với hệ số tác động dài hạn (0,459), kết quả cho thấy hiệu ứng truyền dẫn của tỉ giá vào lạm phát có xu hướng gia tăng theo thời gian và trở nên rõ nét hơn trong dài hạn.

Tác động của các cú sốc thể chế: Các biến đại diện cho thay đổi chính sách và quá trình gia nhập WTO đều có hệ số dương và có ý nghĩa thống kê. Điều này hàm ý việc điều hành tỉ giá theo hướng linh hoạt hơn, cùng với mức độ hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, có thể làm gia tăng mức độ nhạy cảm của mặt bằng giá trong nước trước các biến động của thị trường trong nước và quốc tế.

4.4. Kiểm định chẩn đoán và tính ổn định

Bảng 6. Kết quả kiểm định chẩn đoán

Nguồn: Kết quả tính toán từ dữ liệu nghiên cứu

Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ phần mềm EViews 13

Kết quả kiểm định chẩn đoán từ Bảng 6 cho thấy mô hình ARDL-ECM đáp ứng các giả định cơ bản của mô hình hồi quy. Cụ thể, kiểm định Breusch-Godfrey cho giá trị p-value = 0,8559, cho thấy không có hiện tượng tự tương quan chuỗi của phần dư; kiểm định ARCH với p-value = 0,4294 cho thấy không tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi; đồng thời, kiểm định Jarque-Bera (p-value = 0,2049) xác nhận phần dư tuân theo phân phối chuẩn. Như vậy, các kết quả kiểm định đều không bác bỏ giả thuyết không ở mức ý nghĩa thông thường, khẳng định mô hình được ước lượng có độ tin cậy và các kết quả hồi quy có thể được sử dụng để phân tích cũng như rút ra các kết luận kinh tế.

Đồ thị kiểm định CUSUM và CUSUMSQ (Hình 1) đều nằm hoàn toàn trong đường biên tới hạn 5%, khẳng định các hệ số ước lượng của mô hình ARDL hoàn toàn ổn định trong giai đoạn 1999 - 2025.

Hình 1. Kết quả kiểm định CUSUM và CUSUM

Nguồn: Trích xuất kết quả từ phần mềm EViews 13
Nguồn: Trích xuất kết quả từ phần mềm EViews 13

5. Kết luận và một số hàm ý chính sách

Nghiên cứu đã đánh giá tác động của tỉ giá hối đoái đến lạm phát tại Việt Nam thông qua mô hình tự hồi quy ARDL-ECM, sử dụng dữ liệu theo quý trong giai đoạn từ Quý I/1999 đến Quý IV/2025. Kết quả thực nghiệm cho thấy tồn tại mối quan hệ đồng liên kết dài hạn giữa lạm phát, được đo lường bằng chỉ số CPI, với các biến kinh tế vĩ mô quan trọng. Điều này cho thấy lạm phát tại Việt Nam chịu ảnh hưởng đồng thời của các yếu tố trong nước và các cú sốc từ môi trường kinh tế quốc tế.

Kết quả ước lượng cũng xác nhận sự tồn tại của hiệu ứng truyền dẫn tỉ giá vào lạm phát, với mức độ tác động có ý nghĩa thống kê trong cả ngắn hạn và dài hạn. Cụ thể, khi đồng Việt Nam mất giá 1% so với rổ tiền tệ tham chiếu, chỉ số giá tiêu dùng tăng khoảng 0,13% trong ngắn hạn và khoảng 0,46% trong dài hạn. Mức độ truyền dẫn lớn hơn trong dài hạn cho thấy tác động của biến động tỉ giá không diễn ra tức thời mà được tích lũy và lan tỏa dần thông qua chi phí nhập khẩu, giá đầu vào sản xuất và kỳ vọng lạm phát.

Bên cạnh tác động của tỉ giá, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng lạm phát ở Việt Nam được hình thành dưới ảnh hưởng tổng hợp của nhiều yếu tố kinh tế vĩ mô. Cung tiền có vai trò phản ánh tác động của chính sách tiền tệ đến mặt bằng giá, trong khi giá dầu thế giới và lạm phát quốc tế thể hiện ảnh hưởng của các yếu tố chi phí đẩy và lạm phát nhập khẩu. Kết quả này cho thấy việc kiểm soát lạm phát cần được tiếp cận theo hướng toàn diện, kết hợp điều hành chính sách tiền tệ, quản lý tỉ giá và theo dõi sát các biến động của thị trường quốc tế nhằm duy trì ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát một cách hiệu quả.

Từ các kết quả thực nghiệm, nghiên cứu đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kiểm soát lạm phát và hạn chế tác động của biến động tỉ giá đến nền kinh tế như sau:

Thứ nhất, cần tiếp tục điều hành tỉ giá theo hướng linh hoạt, phù hợp với diễn biến của thị trường trong nước và quốc tế, đồng thời duy trì khả năng ứng phó trước các cú sốc từ bên ngoài. NHNN cần vận hành hiệu quả cơ chế tỉ giá trung tâm, chủ động can thiệp thị trường ngoại hối khi xuất hiện các biến động bất thường nhằm hạn chế tác động lan truyền của biến động tỉ giá đến mặt bằng giá trong nước. Bên cạnh đó, việc tiếp tục củng cố quy mô dự trữ ngoại hối nhà nước sẽ góp phần tăng cường năng lực điều tiết thị trường và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài.

Thứ hai, cần giảm dần sự phụ thuộc của nền kinh tế vào nguyên liệu và đầu vào nhập khẩu thông qua phát triển công nghiệp hỗ trợ, nâng cao tỉ lệ nội địa hóa và đa dạng hóa nguồn cung. Các giải pháp này không chỉ góp phần giảm mức độ truyền dẫn của biến động tỉ giá và giá cả quốc tế vào chi phí sản xuất trong nước mà còn tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, qua đó hỗ trợ ổn định mặt bằng giá trong trung và dài hạn.

Thứ ba, cần chú trọng neo giữ kỳ vọng lạm phát thông qua việc nâng cao tính minh bạch và hiệu quả của công tác truyền thông chính sách. Việc công bố kịp thời định hướng điều hành chính sách tiền tệ và chính sách tỉ giá sẽ giúp củng cố niềm tin của thị trường, ổn định kỳ vọng của doanh nghiệp và người dân, từ đó góp phần hạn chế tác động của các cú sốc ngắn hạn đến lạm phát. Đồng thời, sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa cũng cần được tăng cường nhằm bảo đảm mục tiêu kiểm soát lạm phát gắn với ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng bền vững.

Tài liệu tham khảo

1. Bada, A. S., et al. (2016), Exchange rate pass-through to inflation in Nigeria. CBN Journal of Applied Statistics, 7(1), 49-70.

2. Bhattacharya, R. (2014), Inflation dynamics and monetary policy transmission in Vietnam and emerging Asia. Journal of Asian Economics, 34, 16-26.

3. Campa, J. M., & Goldberg, L. S. (2005), Exchange rate pass-through into import prices. Review of Economics and Statistics, 87(4), 679-690.

4. Campa, J. M., & González Mínguez, J. M. (2006), Differences in exchange rate pass-through in the euro area. European Economic Review, 50(1), 121-145.

5. Choudhri, E. U., & Hakura, D. S. (2006), Exchange rate pass-through to domestic prices: Does the inflationary environment matter? Journal of International Money and Finance, 25(4), 614-639.

6. Gagnon, J. E., & Ihrig, J. (2004), Monetary policy and exchange rate pass-through. International Journal of Finance & Economics, 9(4), 315-338.

7. Ito, T., & Sato, K. (2008), Exchange rate changes and inflation in post-crisis Asian economies: Vector autoregression analysis of the exchange rate pass-through. Journal of Money, Credit and Banking, 40(7), 1407-1438.

8. Nguyễn Phúc Hiền, Hoàng Huy Khôi (2023), Tác động của dẫn truyền tỉ giá tới lạm phát: Một nghiên cứu ở Việt Nam. Tạp chí Kinh tế - Luật và Ngân hàng, 252.

9. Nguyễn Thị Ngọc Trang, Lục Văn Cường (2012), Sự chuyển dịch tỉ giá hối đoái vào các mức giá tại Việt Nam. Tạp chí Phát triển & Hội nhập, 7(17).

10. Parsley, D. C. (2012), Exchange rate pass-through in South Africa: Panel evidence from individual goods and services. Journal of Development Studies, 48(7), 832-846.

11. Pesaran, M. H., Shin, Y., & Smith, R. J. (2001), Bounds testing approaches to the analysis of level relationships. Journal of Applied Econometrics, 16(3), 289-326.

12. Phạm Thế Anh (2015), Ứng dụng mô hình SVAR trong phân tích sự chuyển dịch của tỉ giá hối đoái ở Việt Nam. Tạp chí Kinh tế & Phát triển, 220, 48-58.

13. Pham, V. A. (2019), Exchange rate pass-through into domestic prices in Vietnam. Journal of Asian Finance, Economics and Business, 6(4), 11-19.

14. Taylor, J. B. (2000), Low inflation, pass-through, and the pricing power of firms. European Economic Review, 44(7), 1389-1408.

15. Tran, T. T. H. (2018), Exchange rate policy and macroeconomic stability in Vietnam. VNU Journal of Science: Economics and Business, 34(2).

16. Vo, H. D., & Nguyen, V. P. (2019), Exchange rate pass-through in Vietnam: A SVAR approach. Journal of Economic Development, 44(3).

PGS., TS. Nguyễn Văn Công
Đại học Kinh tế Quốc dân

Tin bài khác

Ứng dụng học máy trong phân loại rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Ứng dụng học máy trong phân loại rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động tín dụng ngày càng mở rộng, việc ứng dụng học máy đang mở ra hướng tiếp cận mới trong nhận diện và phân loại rủi ro, song hiệu quả của từng mô hình và khả năng nhận diện các nhóm nợ rủi ro cần được kiểm chứng trên dữ liệu thực tế. Bài viết đánh giá khả năng ứng dụng các thuật toán học máy trong phân loại rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam; đồng thời khẳng định học máy có tiềm năng hỗ trợ thẩm định và cảnh báo sớm rủi ro tín dụng, nhưng cần được kết hợp với quy trình thẩm định và giám sát của ngân hàng.
Rủi ro tín dụng trong dữ liệu bảng tại các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận FEM với sai số chuẩn Driscoll-Kraay, GMM và dự báo Monte-Carlo

Rủi ro tín dụng trong dữ liệu bảng tại các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận FEM với sai số chuẩn Driscoll-Kraay, GMM và dự báo Monte-Carlo

Bài viết sử dụng dữ liệu bảng để phân tích thực nghiệm các yếu tố quyết định rủi ro tín dụng tại 27 ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần trong giai đoạn 2012 - 2024, đồng thời dự báo xu hướng nợ xấu cho giai đoạn tới trong bối cảnh điều hành chính sách tiền tệ dưới các kịch bản khác nhau.
Tác động của truyền miệng điện tử đến ý định mua chéo sản phẩm, dịch vụ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của truyền miệng điện tử đến ý định mua chéo sản phẩm, dịch vụ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh cạnh tranh và chuyển đổi số gia tăng, nghiên cứu cho thấy truyền miệng điện tử (eWOM) đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy ý định mua chéo sản phẩm, dịch vụ tại các ngân hàng Việt Nam, thông qua việc củng cố niềm tin và hình ảnh thương hiệu, qua đó gợi mở nhiều hàm ý quan trọng cho chiến lược phát triển khách hàng và đa dạng hóa dịch vụ.
Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó cho thấy niềm tin vào ngân hàng số, khả năng kiểm soát tài chính và mức độ số hóa dịch vụ đang trở thành những yếu tố then chốt thúc đẩy hành vi tiêu dùng tài chính hiện đại.
Đánh giá rủi ro tín dụng và hiệu quả khoản vay trong mô hình cho vay ngang hàng tại Việt Nam: Bằng chứng định lượng từ bộ dữ liệu khoản vay thử nghiệm

Đánh giá rủi ro tín dụng và hiệu quả khoản vay trong mô hình cho vay ngang hàng tại Việt Nam: Bằng chứng định lượng từ bộ dữ liệu khoản vay thử nghiệm

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng và hiệu quả khoản vay trong mô hình cho vay ngang hàng (P2P Lending) tại Việt Nam, qua đó góp phần làm rõ cơ sở thực nghiệm và đề xuất các hàm ý chính sách đối với quản lý và phát triển mô hình này trong thời gian tới.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu và nghịch lý tiếp cận tài chính của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu và nghịch lý tiếp cận tài chính của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích mối quan hệ giữa hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu và tiếp cận tài chính của doanh nghiệp, chỉ ra “nghịch lý tiếp cận tài chính” khi tín dụng thực tế được cải thiện nhưng mức độ cảm nhận của doanh nghiệp không thay đổi, từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Ảnh hưởng yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận phương pháp DEA-Bootstrap

Ảnh hưởng yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận phương pháp DEA-Bootstrap

Bài viết phân tích tác động của các yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn 2014 - 2024, qua đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm nhằm gợi mở các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng.
Xem thêm
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại