Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Nghiên cứu - Trao đổi
Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
aa

Tóm tắt: Bài viết tập trung phân tích quá trình xây dựng mối liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã nông nghiệp trong lĩnh vực dược liệu thông qua trường hợp điển hình là Công ty Cổ phần Dược liệu Bông Sen Vàng và Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu các sản phẩm chiết xuất từ hoa hòe. Khác với cách tiếp cận truyền thống chủ yếu xuất phát từ thực trạng tổ chức liên kết, bài viết đề xuất khung phân tích dựa trên yêu cầu của thị trường quốc tế, kết hợp đánh giá nguồn lực của các chủ thể tham gia để xác định nội dung liên kết và phương thức tổ chức phù hợp. Kết quả cho thấy rằng, mô hình đã góp phần mở rộng vùng nguyên liệu, nâng cao thu nhập cho người sản xuất, đáp ứng tiêu chuẩn của thị trường xuất khẩu và gia tăng giá trị cho chuỗi dược liệu. Từ đó, nhóm tác giả đề xuất hoàn thiện cơ chế tín dụng ưu đãi, tạo điều kiện để doanh nghiệp, hợp tác xã và người dân tiếp cận nguồn vốn phù hợp cho phát triển vùng nguyên liệu, đầu tư công nghệ chế biến và nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu; đồng thời tăng cường giám sát kỹ thuật, phối hợp và quản trị chuỗi liên kết, góp phần phát triển bền vững ngành dược liệu và nhân rộng mô hình đối với các loại dược liệu khác của Việt Nam.

Từ khóa: Liên kết kinh tế, doanh nghiệp và hợp tác xã, chuỗi giá trị dược liệu.

STRENGTHENING ECONOMIC LINKAGES BETWEEN ENTERPRISES
AND AGRICULTURAL COOPERATIVES FOR MEDICINAL HERB EXPORTS

Abstract: This article examines the process of building an economic linkage between an enterprise and an agricultural cooperative in the herbal medicine sector, through the case of Golden Lotus Herbals JSC and Bach Thuan Agricultural Cooperative in exporting pharmaceutical products extracted from Sophora japonica (hoa hòe) flower buds. Unlike the conventional approach, which typically starts by describing the existing linkage arrangements before proposing improvement measures, this article introduces an analytical framework that begins with the requirements and standards of international markets and then aligns them with the internal capacities of the participating stakeholders to identify appropriate forms of collaboration and implementation mechanisms. The findings indicate that that the linkage model has contributed to expanding raw material areas, increasing producers’ incomes, meeting export market standards, and enhancing value added across the medicinal plant value chain. Based on these findings, the authors propose improving preferential credit mechanisms to facilitate access to appropriate financing for enterprises, cooperatives, and producers to develop raw material areas, invest in processing technologies, and strengthen their capacity to meet export standards. Simmultaneously, greater emphasis should be placed on technical supervision, coordination, and value chain governance, thereby contributing to the sustainable development of the medicinal plant sector and facilitating the replication of the linkage model for other medicinal plants in Vietnam.

Keywords: Economic linkage, enterprise-cooperative relationship, herbal value chain.

Ảnh minh họa (Nguồn: danviet.vn)
Ảnh minh họa (Nguồn: danviet.vn)

1. Đặt vấn đề

Dược liệu là nguồn tài nguyên có giá trị ứng dụng cao và nhu cầu sử dụng lớn trên phạm vi toàn cầu. Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO, 2023), khoảng 60% dân số thế giới đang sử dụng các loại thuốc có thành phần từ thảo dược; tại các nước đang phát triển, tỉ lệ này lên tới 80%. Nhu cầu nguyên liệu dược liệu toàn cầu được dự báo tăng 15 - 25% mỗi năm, có thể đạt giá trị khoảng 550 tỉ USD vào năm 2030 và 5.000 tỉ USD vào năm 2050.

Việt Nam sở hữu hơn 357.178 ha diện tích vùng trồng và phân bố tự nhiên của khoảng 5.000 loài cây thuốc, trong đó có hơn 70 loài đặc hữu, quý hiếm (Viện Dược liệu, 2019). Tuy vậy, theo Bộ Công Thương (2023), giá trị xuất khẩu dược liệu và sản phẩm có nguồn gốc dược liệu mới chỉ chiếm khoảng 0,08% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước, do phần lớn dược liệu được xuất khẩu dưới dạng thô, giá trị gia tăng thấp, trong khi nông hộ thường xuyên bị thương lái ép giá và thiếu thị trường đầu ra ổn định.

Hoa hòe là một trong 100 loài dược liệu được Bộ Y tế xác định có giá trị y tế và kinh tế cao, ưu tiên phát triển giai đoạn 2020 - 2030. Nụ hoa hòe chứa hàm lượng rutin - hoạt chất có tác dụng phòng và hỗ trợ điều trị các bệnh tim mạch, huyết áp cao gấp 3 - 4 lần so với nhiều loại dược liệu khác trên thế giới (Hosseinzadeh và Nassiri-Asl, 2014). Dù vậy, các vùng trồng hòe tại Việt Nam vẫn loay hoay ở khâu sản xuất thô, chưa tiếp cận được phân khúc thị trường có giá trị cao.

Trong bối cảnh đó, câu hỏi đặt ra là: Cần một mắt xích liên kết như thế nào để kết nối lợi thế tự nhiên của vùng trồng với công nghệ, thị trường của doanh nghiệp, từ đó nâng cấp vị trí của dược liệu Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu? Bài viết này phân tích một mô hình liên kết cụ thể giữa Công ty Cổ phần Dược liệu Bông Sen Vàng (doanh nghiệp sở hữu nhà máy đạt chuẩn GMP WHO - tiêu chuẩn kiểm soát toàn diện quy trình sản xuất, nhà xưởng, thiết bị và con người nhằm đảm bảo sản phẩm thuốc, thực phẩm chức năng đạt chất lượng an toàn cao nhất do WHO ban hành) và Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận (vùng trồng hòe lâu đời tại xã Bách Thuận, tỉnh Hưng Yên) nhằm rút ra bài học thực tiễn cho việc xây dựng liên kết kinh tế bền vững giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong lĩnh vực dược liệu tại Việt Nam.

2. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết

2.1. Tổng quan nghiên cứu

Trên thế giới, Balassa (1961) đặt nền móng lý luận về liên kết kinh tế khi coi đây là sự gắn kết thể chế giữa các tổ chức hoặc nền kinh tế. Phần lớn nghiên cứu quốc tế tiếp cận biểu hiện cụ thể của liên kết doanh nghiệp - nông dân dưới dạng “nông nghiệp hợp đồng”. Glover (1987) cho rằng, bản chất của “nông nghiệp hợp đồng” là công cụ quản lý chất lượng và bảo đảm số lượng tiêu thụ. Eaton và Shepherd (2001) khảo sát các yếu tố ảnh hưởng đến hợp đồng nông nghiệp và khuyến nghị cải thiện tính công bằng trong hợp đồng. Bên cạnh những đánh giá tích cực, một số học giả như Watts (1994) và Singh (2002) cũng cảnh báo, “nông nghiệp hợp đồng” có thể trở thành công cụ để bên có ưu thế đàm phán khai thác nông hộ nhỏ lẻ.

Tại Việt Nam, Dương Bá Phượng (1995) và Hồ Quế Hậu (2012) đã hệ thống hóa khái niệm liên kết kinh tế và đi sâu vào liên kết trong chế biến nông sản; Trần Văn Hiếu (2002, 2005) phân tích liên kết giữa doanh nghiệp nhà nước với hộ nông dân qua các mô hình cụ thể; Lê Khương Ninh (2015) và Vũ Đức Hạnh (2015) đề xuất các giải pháp chính sách để tăng cường liên kết theo hợp đồng. Nhìn chung, các nghiên cứu trong nước cung cấp nền tảng lý luận và thực tiễn phong phú, nhưng phần lớn đi theo trình tự “mô tả thực trạng tổ chức triển khai liên kết” đến “đề xuất giải pháp tăng cường tổ chức triển khai”, chưa xuất phát sâu từ phân tích nhu cầu thị trường làm căn cứ xác lập nội dung liên kết.

Kế thừa và bổ sung các nghiên cứu đi trước, bài viết tiếp cận vấn đề theo hướng ngược lại: Xuất phát từ việc nhận diện nhu cầu và tiêu chuẩn của thị trường mục tiêu, đối chiếu với nguồn lực nội tại của từng chủ thể liên kết, từ đó mới xác định nội dung liên kết và cách thức tổ chức triển khai nhằm bảo đảm mọi hoạt động của liên kết đều hướng đến một mục tiêu thống nhất là đáp ứng thị trường.

2.2. Khái niệm và cơ sở lý thuyết

Liên kết kinh tế được hiểu là sự hợp tác, ràng buộc lẫn nhau một cách tự nguyện giữa các chủ thể kinh tế nhằm khai thác thế mạnh của mỗi bên, chia sẻ nguồn lực và lợi ích để đạt hiệu quả kinh tế cao hơn so với hoạt động riêng lẻ (Key và Rūnsten, 1999; Hồ Quế Hậu, 2012). Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã là một hình thái liên kết dọc nông - công nghiệp, trong đó doanh nghiệp đóng góp vốn, công nghệ, năng lực quản trị và khả năng tiếp cận thị trường; hợp tác xã đóng góp đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất và vai trò tập hợp nông hộ.

Bốn nền tảng lý thuyết kinh tế chính lý giải sự hình thành và duy trì của liên kết này gồm: (i) Lý thuyết kinh tế theo quy mô (North, 1998) - mở rộng quy mô sản xuất thông qua liên kết giúp giảm chi phí bình quân dài hạn; (ii) Lý thuyết chuyên môn hóa và phân công lao động (Smith, Adam) - mỗi bên tập trung vào hoạt động mình có lợi thế so sánh; (iii) Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (Williamson, Reardon và Barrett, 2000) - doanh nghiệp và hợp tác xã không thể tồn tại độc lập mà cần liên kết để bảo đảm nguồn lực đầu vào ổn định trước biến động của môi trường; (iv) Lý thuyết lợi thế cạnh tranh theo chuỗi giá trị (Porter, 1985) - liên kết cho phép tối ưu hóa giá trị tạo ra trên toàn bộ chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ.

Về nguyên tắc, liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã cần bảo đảm ba nguyên tắc cốt lõi: Tự nguyện - thỏa thuận - chịu trách nhiệm; công bằng giữa hai bên; được cơ cấu hóa, pháp lý hóa rõ ràng thông qua hợp đồng kinh tế. Về nội dung, liên kết có thể được tổ chức theo toàn bộ chuỗi giá trị (từ cung ứng đầu vào đến chế biến, tiếp thị) hoặc theo từng khâu riêng lẻ của quá trình sản xuất - chế biến - tiêu thụ.

2.3. Khung phân tích đề xuất

Từ những hạn chế của cách tiếp cận truyền thống, bài viết đề xuất khung phân tích liên kết kinh tế gồm bốn bước tuần tự: (1) Cơ sở hình thành liên kết - xác định nhu cầu, tiêu chuẩn của thị trường mục tiêu, đối chiếu với điểm mạnh, điểm yếu về nguồn lực nội tại của từng chủ thể để nhận diện “khoảng trống” cần liên kết để lấp đầy; (2) Nội dung liên kết - xác định chủ thể liên kết, phạm vi nội dung, trách nhiệm của mỗi bên trong từng khâu của chuỗi giá trị; (3) Tổ chức triển khai liên kết - quy hoạch vùng trồng, tuyên truyền vận động, đàm phán - ký kết hợp đồng, đào tạo - giám sát, thu mua theo cam kết, xử lý tranh chấp; (4) Đo lường, đánh giá kết quả và điều chỉnh. Khung phân tích này được sử dụng làm cấu trúc để trình bày kết quả nghiên cứu tại Mục 4.

3. Phương pháp nghiên cứu

Bài viết sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp thống kê mô tả trên cơ sở dữ liệu thứ cấp và sơ cấp thu thập trong giai đoạn 2021 - 2024.

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ: (i) Cơ sở dữ liệu thương mại quốc tế Trademap đối với các mã HS (Harmonized System Code, là mã số phân loại hàng hóa theo Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa của Tổ chức Hải quan Thế giới - WCO) liên quan đến sản phẩm dược liệu từ hoa hòe (12119099, 13021990, 29381000); (ii) Báo cáo của Bộ Công Thương, Viện Dược liệu, Bộ Y tế; (iii) Báo cáo tài chính và báo cáo kiểm nghiệm chất lượng nội bộ của Công ty Cổ phần Dược liệu Bông Sen Vàng giai đoạn 2019 - 2024; (iv) Báo cáo hoạt động sản xuất - kinh doanh của Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận giai đoạn 2017 - 2024; (v) Các văn bản chính sách của Nhà nước về phát triển dược liệu.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát 30 xã viên Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận bằng bảng hỏi cấu trúc sẵn, kết hợp phỏng vấn sâu Giám đốc Hợp tác xã, chính quyền địa phương và chuyên gia cấp cao của Viện Dược liệu, Cục Quản lý Y - Dược cổ truyền (Bộ Y tế).

Phương pháp phân tích chủ yếu là thống kê mô tả, so sánh trước - sau (giai đoạn 2017 - 2020 khi chưa liên kết và giai đoạn 2021 - 2024 khi đã liên kết) đối với các chỉ tiêu về sản lượng, hàm lượng hoạt chất rutin, đơn giá thu mua, thu nhập nông hộ và kim ngạch xuất khẩu, nhằm lượng hóa hiệu quả kinh tế của mối liên kết.

4. Kết quả nghiên cứu và thảo luận

4.1. Cơ sở hình thành liên kết

Áp dụng bước (1) của khung phân tích, nghiên cứu trước hết làm rõ nhu cầu thị trường. Các sản phẩm dược liệu từ hoa hòe được giao dịch quốc tế dưới ba dạng thức, tương ứng ba mã HS: Nụ hòe khô (HS 12119099), rutin thô độ tinh khiết ≤ 95% (HS 13021990), rutin tinh khiết ≥ 98% (HS 29381000). Dữ liệu Trademap (2019 - 2023) cho thấy giá trị kim ngạch của rutin tinh khiết ≥ 98% cao gấp khoảng 6,8 lần rutin thô và gấp khoảng 110 lần nụ hòe khô, đồng thời có tốc độ tăng trưởng đơn giá vượt trội so với hai dạng còn lại. Năm quốc gia nhập khẩu rutin tinh khiết lớn nhất thế giới là Pháp, Đức, Ba Lan, Nhật Bản và Tây Ban Nha - đều là những trung tâm sản xuất tân dược có tiêu chuẩn dược điển khắt khe. Nhu cầu này được củng cố bởi xu hướng dịch tễ học toàn cầu: Theo Gregory và cộng sự (2022), thiếu máu cục bộ vẫn là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do bệnh tim mạch trên thế giới, trong khi huyết áp tâm thu (áp lực của máu lên động mạch khi tim co bóp) cao là yếu tố đóng góp lớn nhất vào gánh nặng bệnh tật do tim mạch - đúng nhóm bệnh mà rutin có tác dụng phòng ngừa, hỗ trợ điều trị.

Trong khi đó, Việt Nam mới chỉ xuất khẩu được nụ hòe khô và rutin thô, gần như chưa hiện diện ở phân khúc rutin tinh khiết ≥ 98% dù sở hữu lợi thế tự nhiên vượt trội: Hàm lượng rutin trong nụ hòe cao gấp 3 - 4 lần so với các nguồn thực vật khác được khai thác phổ biến trên thế giới như kiều mạch hay đậu fava d’anta Brazil (Bảng 1).

Nguồn: Hosseinzadeh và Nassiri-Asl (2014)
Nguồn: Hosseinzadeh và Nassiri-Asl (2014)

Đối chiếu nhu cầu thị trường với nguồn lực nội tại của hai chủ thể cho thấy “khoảng trống” cần lấp đầy để tiếp cận phân khúc giá trị cao. Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận - vùng trồng hòe lâu đời nhất cả nước, với 307 ha diện tích trồng hòe tính đến quý II/2024) sở hữu lợi thế về thổ nhưỡng - khí hậu cho hàm lượng rutin cao nhất cả nước, tính chuyên canh và bộ máy tổ chức có pháp nhân, tính đại diện cho nông hộ. Tuy nhiên, kỹ thuật canh tác, thu hái và phơi sấy của nông hộ chủ yếu dựa trên kinh nghiệm, không theo tiêu chuẩn: Phơi trực tiếp dưới nắng khiến hàm lượng rutin trong nụ hòe khô chỉ còn khoảng 27%, thấp hơn đáng kể so với mức có thể đạt được nếu áp dụng kỹ thuật phù hợp. Hệ quả là sản phẩm chỉ được thương lái thu mua dưới dạng nông sản thô với giá cả bấp bênh.

Ngược lại, Công ty Cổ phần Dược liệu Bông Sen Vàng sở hữu đội ngũ nghiên cứu và phát triển, công nghệ phơi sấy tối ưu (nâng hàm lượng rutin giữ lại lên khoảng 33,4%), công nghệ chiết xuất rutin tinh khiết ≥ 98% đã được kiểm nghiệm ổn định qua bốn năm, đội ngũ cố vấn cấp cao am hiểu về GACP - WHO (bộ nguyên tắc, tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan đến thực hành tốt nuôi trồng và thu hái dược liệu theo khuyến cáo của WHO) và đội ngũ marketing xuất khẩu có kinh nghiệm - nhưng lại thiếu một vùng nguyên liệu tập trung, ổn định, có lợi thế cạnh tranh tự nhiên về hàm lượng hoạt chất. Sự bổ khuyết nguồn lực hai chiều này chính là cơ sở khách quan cho việc hình thành liên kết.

4.2. Nội dung liên kết

Nội dung liên kết phản ánh sự kết hợp thế mạnh của hai chủ thể nhằm tạo ra sản phẩm có sức cạnh tranh và mở rộng khả năng tiếp cận thị trường tiêu thụ, được tổ chức theo trình tự các khâu trong chuỗi giá trị sản phẩm hoa hòe.

Trong mối liên kết này, Công ty Cổ phần Dược liệu Bông Sen Vàng đảm nhiệm vai trò chuyển giao quy trình kỹ thuật chăm sóc và thu hái đạt chuẩn, nhằm tối ưu hàm lượng dược tính cũng như hạn chế hao hụt sản lượng nụ hòe tươi cả trên cây lẫn sau khi thu hoạch. Về phía Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận, lợi thế được phát huy nằm ở điều kiện thổ nhưỡng - khí hậu đặc thù của vùng trồng và khả năng tổ chức sản xuất tập trung. Cụ thể, Hợp tác xã giữ vai trò đầu mối tập hợp xã viên, phối hợp cùng doanh nghiệp giám sát toàn bộ chu trình từ trồng trọt, chăm bón đến thu hái theo đúng quy chuẩn kỹ thuật đã ban hành, đồng thời kịp thời phản hồi những phát sinh trong quá trình canh tác. Sau công đoạn phơi sấy đạt tiêu chuẩn, Hợp tác xã tiếp tục đảm nhận việc tập kết thành phẩm nụ hòe khô, tổ chức kho bãi và cung cấp thông tin dự kiến về thời điểm thu hoạch để doanh nghiệp chủ động lên kế hoạch vận chuyển và lưu kho.

Bảng 2. Tổng hợp nội dung liên kết giữa Công ty Cổ phần Dược liệu Bông Sen Vàng
với Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận

Nguồn: Tổng hợp từ hợp đồng liên kết giữa hai bên giai đoạn 2021 - 2024
Nguồn: Tổng hợp từ hợp đồng liên kết giữa Công ty Cổ phần Dược liệu Bông Sen Vàng và Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận giai đoạn 2021 - 2024

Một điểm đáng chú ý trong cách xác lập nội dung liên kết là phương pháp định giá xuất phát từ thị trường thay vì từ chi phí. Thay vì cộng dồn chi phí sản xuất rồi cộng thêm biên lợi nhuận kỳ vọng để suy ra giá bán - cách làm phổ biến của nhiều doanh nghiệp Việt Nam nhưng không bảo đảm mức giá đó được thị trường chấp nhận, Công ty xuất phát từ mức giá thị trường quốc tế sẵn sàng chi trả cho rutin tinh khiết ≥ 98% (giá FOB - giá giao hàng lên tàu, khoảng 1.950.000 đồng/kg), sau đó phân bổ ngược lại các cấu phần chi phí (giá vốn nguyên liệu chiếm khoảng 21%, chi phí nhân công trực tiếp khoảng 7%, chi phí xuất nhập khẩu và các chi phí gián tiếp khác) để bảo đảm biên lợi nhuận khoảng 17%. Từ đó, doanh nghiệp xác định được đơn giá thu mua nụ hòe khô có thể chi trả cho xã viên mà vẫn bảo đảm hiệu quả kinh doanh (Bảng 3).

Bảng 3. Đơn giá bán lẻ nụ hòe khô xã viên Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận

Nguồn: Phụ lục hợp đồng mua bán giữa Công ty Cổ phần Dược liệu Bông Sen Vàng  và Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận giai đoạn 2021 - 2024
Nguồn: Phụ lục hợp đồng mua bán giữa Công ty Cổ phần Dược liệu Bông Sen Vàng và Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận giai đoạn 2021 - 2024

Số liệu tại Bảng 3 cho thấy trước khi liên kết, do giá bán bình quân giai đoạn 2017 - 2020 không ổn định, nhiều thời điểm nông hộ trồng hòe tại Bách Thuận thực chất chịu lỗ (lợi nhuận âm 4.922 đồng/kg). Sau khi liên kết, với đơn giá thu mua tăng lên 180.000 đồng/kg (gấp 1,8 lần trước liên kết) và việc áp dụng đúng quy trình kỹ thuật, nông hộ đạt lợi nhuận dương 57.635 đồng/kg, trong khi Hợp tác xã nhận khoản đóng góp 18.000 đồng/kg - gấp đôi trước liên kết - như một cơ chế ràng buộc trách nhiệm giám sát chất lượng của Hợp tác xã đối với xã viên.

4.3. Tổ chức triển khai liên kết

Quá trình tổ chức triển khai được thực hiện theo bốn công đoạn: (i) Quy hoạch vùng trồng tập trung theo mô hình chuyên canh “nghề trồng hòe” do Ủy ban nhân dân xã Bách Thuận phê duyệt, tạo thuận lợi cho việc áp dụng đồng bộ tiêu chuẩn GACP - WHO; (ii) Tuyên truyền, vận động nông hộ thông qua hội nghị, truyền thông và đội ngũ cán bộ có uy tín trong cộng đồng nhằm thay đổi tư duy sản xuất manh mún, ngắn hạn; (iii) Đàm phán, ký kết hợp đồng kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã, có sự chứng kiến, giám sát của chính quyền xã/huyện; (iv) Đào tạo - tập huấn kỹ thuật (do chuyên gia GACP - WHO, chuyên gia dinh dưỡng cây trồng và bảo vệ thực vật trực tiếp hướng dẫn) song song với việc doanh nghiệp bố trí nhân sự thường trực tại địa bàn để giám sát, hỗ trợ nông hộ và xử lý tranh chấp phát sinh.

4.4. Kết quả của mối liên kết

Sau bốn năm triển khai (2021 - 2024), quy mô liên kết mở rộng liên tục cả về diện tích lẫn số hộ tham gia (Bảng 4). Tổng diện tích liên kết tăng từ 112,46 ha (2021) lên 307,38 ha (2024) - tăng gần 2,7 lần; số nông hộ tham gia tăng từ 105 lên 236 hộ; diện tích bình quân mỗi hộ cũng tăng dần từ 1,07 ha lên 1,30 ha, phản ánh xu hướng tích tụ ruộng đất và chuyên canh ngày càng rõ nét.

Bảng 4. Tổng kết diện tích và số nông hộ tham gia vào liên kết của Công ty Cổ phần Dược liệu Bông Sen Vàng
với Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận giai đoạn 2021 - 2024

Nguồn: Báo cáo hoạt động sản xuất - kinh doanh của Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận giai đoạn 2021 - 2024.
Nguồn: Báo cáo hoạt động sản xuất - kinh doanh của Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận giai đoạn 2021 - 2024.

Về phía doanh nghiệp, tính riêng vùng trồng liên kết với Hợp tác xã Bách Thuận, Công ty đã chiết xuất và xuất khẩu thành công 357.915 kg rutin tinh khiết ≥ 98% dưới mã HS 29381000, mang lại 28.633.202 USD kim ngạch xuất khẩu trong giai đoạn 2021 - 2024. Sản lượng rutin xuất khẩu dưới dạng tinh khiết cao gấp khoảng 26 lần so với sản lượng rutin thô 95% thời điểm trước liên kết, trong khi đơn giá bình quân trên một đơn vị sản phẩm cao gấp khoảng 2 lần, qua đó đóng góp khoảng 10% vào mức tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu dược liệu của Công ty so với năm 2023.

Về phía Hợp tác xã và nông hộ, liên kết mang lại thu nhập ổn định hằng năm, giúp xã viên bán được nụ hòe khô với giá cao gấp 1,8 lần so với thời kỳ chưa liên kết và không còn phụ thuộc vào thương lái. Về mặt an sinh xã hội, thu nhập cải thiện được ghi nhận là động lực bước đầu thu hút lao động trẻ quay trở lại địa phương, thay vì di cư đến các đô thị lớn tìm kế sinh nhai như trước đây. Xét ở cấp độ ngành và quốc gia, mô hình liên kết trên cho thấy khả năng chuyển dịch sản phẩm dược liệu từ vị trí có giá trị gia tăng thấp trong chuỗi giá trị sang phân khúc có hàm lượng công nghệ và giá trị gia tăng cao thông qua hoạt động chế biến sâu và đáp ứng các tiêu chuẩn của thị trường quốc tế. Điều này phù hợp với lý thuyết "đường cong nụ cười" (Smile Curve) do Stan Shih đề xuất năm 1992, theo đó các công đoạn nghiên cứu, phát triển, thiết kế, thương hiệu và dịch vụ tạo ra giá trị gia tăng cao hơn so với khâu sản xuất hoặc xuất khẩu nguyên liệu thô. Mô hình cũng gợi mở khả năng nhân rộng đối với các vùng trồng và các loại dược liệu khác của Việt Nam.

4.5. Thành công và hạn chế

Bên cạnh những kết quả tích cực nêu trên, quá trình tổ chức triển khai liên kết cũng bộc lộ một số hạn chế. Thứ nhất, công tác tập huấn và giám sát nông hộ tuân thủ đúng quy trình kỹ thuật còn tốn nhiều thời gian, nguồn lực. Thứ hai, tồn tại khoảng cách nhận thức giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và nông hộ về tiêu chuẩn chất lượng và phương pháp sản xuất, có thể dẫn đến hiểu lầm, tranh chấp. Thứ ba, doanh nghiệp và hợp tác xã chưa kiểm soát tốt các chi phí phát sinh ngoài dự toán (vận chuyển, bảo quản, chi phí hành chính), ảnh hưởng đến hiệu quả kinh tế chung của liên kết.

5. Đề xuất giải pháp tăng cường liên kết

Trên cơ sở khung định hướng phát triển dược liệu của Nhà nước (theo Quyết định số 376/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp dược và dược liệu sản xuất trong nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Quyết định số 1165/QĐ-TTg ngày 09/10/2023 của Thủ tướng Chính phủ về phát triển công nghiệp dược và dược liệu; Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 05/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp), bài viết đề xuất một số giải pháp sau:

Đối với doanh nghiệp: (i) Xây dựng hệ thống giám sát kỹ thuật chi tiết và thường xuyên đối với nông hộ, kết hợp công nghệ giám sát từ xa với đội ngũ kiểm tra chất lượng tại chỗ; (ii) Chủ động tìm hiểu văn hóa, tư duy sản xuất của hợp tác xã và nông hộ thông qua các hoạt động gặp gỡ, đối thoại thường xuyên nhằm thu hẹp khoảng cách nhận thức, tạo sự đồng thuận về mục tiêu chung là đáp ứng thị trường; (iii) Phối hợp với bộ phận kế toán của hợp tác xã để ghi nhận và dự toán chặt chẽ hơn các khoản chi phí phát sinh ngoài kế hoạch, qua đó kiểm soát tốt hơn hiệu quả tài chính của liên kết.

Đối với hợp tác xã: (i) Chủ động cung cấp thông tin về bối cảnh, tập quán, mong muốn và hạn chế của nông hộ để doanh nghiệp có cách tiếp cận phù hợp; tận dụng vai trò, uy tín của đội ngũ lãnh đạo hợp tác xã trong cộng đồng để truyền tải thông tin hai chiều; (ii) Làm đầu mối cập nhật kịp thời các quy định, chính sách của địa phương cho doanh nghiệp nhằm tận dụng tối đa các chính sách hỗ trợ và tránh rủi ro về quy hoạch sử dụng đất; (iii) Chủ động hơn trong công tác dự báo mùa vụ, tổ chức thu mua, bảo quản kho bãi và giao nhận, giảm thiểu tổn thất và tăng độ chính xác trong kế hoạch vận chuyển - chế biến của doanh nghiệp.

Đối với Nhà nước và chính quyền địa phương: Tiếp tục hoàn thiện và thực thi hiệu quả các cơ chế tín dụng ưu đãi, chính sách đất đai và hạ tầng phục vụ vùng trồng dược liệu tập trung theo tiêu chuẩn GACP - WHO; đóng vai trò giám sát, làm bên thứ ba chứng kiến trong hợp đồng liên kết nhằm tăng tính ràng buộc và độ tin cậy giữa các bên; đồng thời hỗ trợ xúc tiến thương mại, kết nối các mô hình liên kết dược liệu thành công để lan tỏa kinh nghiệm giữa các địa phương.

6. Kết luận

Bài viết đã phân tích quá trình xây dựng liên kết kinh tế giữa Công ty Cổ phần Dược liệu Bông Sen Vàng và Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận theo một khung tiếp cận mới: Xuất phát từ nhu cầu và tiêu chuẩn của thị trường quốc tế, đối chiếu với nguồn lực nội tại của từng chủ thể để xác lập nội dung liên kết, từ đó tổ chức triển khai và đo lường kết quả. Cách tiếp cận này khắc phục hạn chế của nhiều nghiên cứu trước đây khi thường xuất phát từ mô tả thực trạng tổ chức triển khai rồi mới đề xuất giải pháp, dễ dẫn đến các khuyến nghị rời rạc, thiếu mục tiêu cốt lõi và khó chuyển giao sang bối cảnh khác.

Kết quả thực nghiệm cho thấy, khi liên kết được thiết kế với mục tiêu thị trường làm trung tâm, cả doanh nghiệp và hợp tác xã đều đạt được lợi ích kinh tế cụ thể, đo lường được: Doanh nghiệp mở rộng được vùng nguyên liệu và tiếp cận phân khúc thị trường có giá trị cao; hợp tác xã và nông hộ có thu nhập ổn định, cải thiện đời sống. Đồng thời, liên kết còn tạo ra các tác động lan tỏa tích cực đến an sinh xã hội của địa phương và đóng góp vào kim ngạch xuất khẩu dược liệu của quốc gia.

Mô hình liên kết giữa Công ty Bông Sen Vàng và Hợp tác xã Bách Thuận có thể được xem là một điển hình có khả năng nhân rộng cho các loại dược liệu bản địa khác của Việt Nam, với điều kiện các chủ thể tham gia đều thống nhất hướng tới một mục tiêu chung là đáp ứng chuẩn mực của thị trường, thay vì chỉ theo đuổi lợi ích ngắn hạn riêng lẻ của từng bên. Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng kiểm định khung phân tích này trên các trường hợp liên kết dược liệu khác, đồng thời lượng hóa sâu hơn tác động của liên kết đến phúc lợi hộ gia đình bằng các phương pháp định lượng như so sánh hiệu số (difference-in-differences) khi dữ liệu bảng dài hơn được tích lũy.

Tài liệu tham khảo

1. Balassa, B. (1961), The Theory of Economic Integration. Homewood, IL: Richard D. Irwin.

2. Bộ Công Thương (2023, 2024), Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Công Thương.

3. Công ty Cổ phần Dược liệu Bông Sen Vàng (2019, 2024), Báo cáo tài chính và báo cáo kiểm nghiệm chất lượng nội bộ, 2019 - 2024.

4. Eaton, C., & Shepherd, A. W. (2001), Contract Farming: Partnerships for Growth. FAO Agricultural Services Bulletin 145. Rome: FAO.

5. Glover, D. (1987), Increasing the benefits to smallholders from contract farming: Problems for farmers’ organizations and policy makers, World Development, 15(4), 441-448.

6. Gregory, A. và cộng sự (2022), Global Burden of Cardiovascular Diseases. IHME.

7. Hồ Quế Hậu (2012), Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến nông sản với nông dân ở Việt Nam. Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội.

8. Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận (2017 - 2024), Báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh Hợp tác xã Nông nghiệp Bách Thuận.

9. Hosseinzadeh, H., & Nassiri-Asl, M. (2014), Review of the protective effects of rutin on the metabolic function as an important dietary flavonoid. Journal of Endocrinological Investigation, 37(9), 783-788.

10. Key, N., & Rūnsten, D. (1999), Contract farming, smallholders, and rural development in Latin America: The organization of agroprocessing firms and the scale of outgrower production. World Development, 27(2), 381-401.

11. Lê Khương Ninh (2015), Mô hình sản xuất theo hợp đồng giữa nông hộ và doanh nghiệp: ưu, nhược điểm và giải pháp chính sách. Tạp chí Khoa học Trường Đại học Cần Thơ.

12. North, D. C. (1998), Institutions, Institutional Change and Economic Performance. Cambridge: Cambridge University Press.

13. Nghị định số 98/2018/NĐ-CP ngày 5/7/2018 của Chính phủ về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.

14. Porter, M. E. (1985), Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance. New York: Free Press.

15. Quyết định số 376/QĐ-TTg ngày 17/3/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển công nghiệp dược và dược liệu sản xuất trong nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

16. Quyết định số 1165/QĐ-TTg ngày 9/10/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

17. Reardon, T., & Barrett, C. B. (2000), Agroindustrialization, globalization, and international development: An overview of issues, patterns, and determinants. Agricultural Economics, 23(3), 195-205.

18. Trademap - International Trade Centre (2024), Dữ liệu xuất nhập khẩu theo mã HS 12119099, 13021990, 29381000, giai đoạn 2019 - 2023.

19. Trần Văn Hiếu (2002), Liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp nhà nước và hộ nông dân - một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Tạp chí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, (10), 859-861.

20. Viện Dược liệu (2019), Quy trình kỹ thuật nhân giống, trồng và sơ chế một số cây dược liệu theo GACP - WHO. Hà Nội: Nhà xuất bản Nông nghiệp.

21. Vũ Đức Hạnh (2015), Nghiên cứu các hình thức liên kết trong tiêu thụ nông sản của hộ nông dân tỉnh Ninh Bình. Luận án Tiến sĩ Kinh tế nông nghiệp, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội.

22. WHO (2023), Traditional, Complementary and Integrative Medicine. Geneva: World Health Organization.

Nguyễn Thị Việt Anh *, ThS. Nguyễn Hà Phương **, ThS. Nguyễn Khánh Linh ***
* Công ty Cổ phần Dược liệu Bông Sen Vàng, ** Trường Đại học Tài chính - Marketing, *** Công ty cổ phần Quốc tế Phát Đạt

Tin bài khác

Quy định về Ủy ban kiểm toán trong doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam: Góc nhìn pháp lý và thực tiễn

Quy định về Ủy ban kiểm toán trong doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam: Góc nhìn pháp lý và thực tiễn

Ủy ban kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong quản trị công ty hiện đại, nhưng khuôn khổ pháp lý hiện hành vẫn còn một số hạn chế, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện để nâng cao hiệu quả giám sát và tăng cường tính minh bạch cho doanh nghiệp niêm yết.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử: Giải pháp minh bạch hóa thị trường trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử: Giải pháp minh bạch hóa thị trường trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Chuyển đổi số đang mở ra cơ hội tái cấu trúc thị trường bất động sản theo hướng minh bạch, hiện đại và hiệu quả hơn, trong đó mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử được kỳ vọng sẽ góp phần số hóa toàn bộ quy trình giao dịch, tăng cường kết nối dữ liệu và nâng cao năng lực quản lý thị trường.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Tác động của tín dụng số ngắn hạn đến hành vi vay và rủi ro tín dụng của khách hàng Gen Z tại Việt Nam

Trên cơ sở phân tích thực tiễn hoạt động tín dụng số ngắn hạn tại Việt Nam, bài viết đánh giá tác động của loại hình tín dụng này đến hành vi vay và rủi ro nợ của người tiêu dùng trẻ, đồng thời đưa ra một số hàm ý đối với công tác quản trị rủi ro và xây dựng chính sách.
Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Bài viết đề xuất bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững gồm 06 trụ cột và 18 chỉ tiêu thành phần, góp phần cung cấp công cụ đo lường toàn diện phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng theo hướng an toàn và bền vững.
Phát triển tài chính biển xanh ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Phát triển tài chính biển xanh ở Việt Nam: Thực trạng và giải pháp

Bài viết phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn huy động nguồn lực tài chính cho phát triển kinh tế biển xanh tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm phát triển tài chính biển xanh, khơi thông dòng vốn cho các ngành kinh tế biển bền vững và hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng xanh quốc gia.
Xem thêm
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại