Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách
Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
aa

Trong nền kinh tế hiện đại, niềm tin của người dân đối với hệ thống tài chính là nền tảng quan trọng để huy động nguồn lực cho phát triển. Với mục tiêu bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, bảo hiểm tiền gửi không chỉ góp phần bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng mà còn củng cố niềm tin xã hội, tạo sự đồng thuận và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước với Nhân dân.

Luật Bảo hiểm tiền gửi (Luật số 111/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/5/2026 đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng về thể chế, đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế và quá trình cơ cấu lại hệ thống các tổ chức tín dụng. Những quy định mới về chi trả bảo hiểm, mở rộng vai trò của tổ chức bảo hiểm tiền gửi và tăng cường năng lực phòng ngừa, xử lý rủi ro đã nâng cao hiệu quả bảo vệ người gửi tiền, góp phần giữ vững ổn định tài chính và an toàn tiền tệ.

Bài viết phân tích vai trò của chính sách bảo hiểm tiền gửi không chỉ trên phương diện kinh tế mà còn có ý nghĩa xã hội và chính trị. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững. Quan trọng hơn, mỗi chính sách hướng đến lợi ích thiết thực của Nhân dân đều góp phần bồi đắp niềm tin xã hội - nền tảng quan trọng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Niềm tin bắt đầu từ sự an tâm của người gửi tiền

Mỗi cuốn sổ tiết kiệm không chỉ là khoản tiền gửi tại ngân hàng mà còn là kết quả của quá trình lao động, tích lũy và vun vén của cá nhân, mỗi gia đình. Đó có thể là khoản dành dụm sau nhiều năm làm việc của người công nhân, sau những vụ mùa của người nông dân, hay khoản dành dụm của người cao tuổi cho tương lai con cháu. Vì vậy, bên cạnh lợi ích từ lãi suất, người gửi tiền còn mong muốn tài sản hợp pháp của mình được pháp luật bảo vệ khi rủi ro xảy ra.

Từ nhu cầu chính đáng đó, chính sách bảo hiểm tiền gửi được hình thành và từng bước hoàn thiện. Đây không chỉ là công cụ bảo vệ người gửi tiền mà còn là thiết chế quan trọng góp phần duy trì ổn định hệ thống tài chính - ngân hàng. Khi niềm tin được củng cố, người dân yên tâm gửi tiền vào các tổ chức tín dụng, qua đó thúc đẩy lưu thông vốn trong nền kinh tế, tạo nguồn lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển.

Ở góc độ rộng hơn, bảo hiểm tiền gửi còn mang ý nghĩa xã hội sâu sắc. Một chính sách bảo vệ quyền lợi hàng triệu người gửi tiền, đồng thời cũng là chính sách củng cố niềm tin của Nhân dân đối với thể chế. Niềm tin này không chỉ được tạo dựng từ những tuyên bố mang tính khẳng định, mà còn được bồi đắp thông qua hệ thống cơ chế pháp lý minh bạch, các quy định phù hợp với thực tiễn và việc bảo đảm đầy đủ quyền lợi của người dân khi rủi ro phát sinh.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới, yêu cầu hoàn thiện thể chế, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính và khơi thông mọi nguồn lực xã hội càng trở nên cấp thiết. Việc ban hành Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 không chỉ là sửa đổi một đạo luật chuyên ngành, mà còn là bước hoàn thiện chính sách theo hướng lấy người dân làm trung tâm, góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống tài chính và tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững. Đó cũng là ý nghĩa xuyên suốt của chính sách bảo hiểm tiền gửi: Bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền; giữ vững sự ổn định của hệ thống tài chính; từng bước nâng cao niềm tin xã hội - nguồn lực vô hình nhưng đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển của đất nước; đồng thời, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Chính sách bảo hiểm tiền gửi đến với người dân - Nguồn ảnh: div.gov.vn
Chính sách bảo hiểm tiền gửi đến với người dân (Nguồn ảnh: div.gov.vn)

Hoàn thiện “tấm lá chắn” bảo vệ người gửi tiền: Chủ động phòng ngừa rủi ro, bảo vệ người gửi tiền từ sớm và từ gốc

Một chính sách chỉ phát huy thực sự giá trị khi người dân cảm nhận rõ quyền và lợi ích hợp pháp của mình được bảo vệ tốt hơn qua từng bước hoàn thiện pháp luật. Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 được ban hành trong bối cảnh hệ thống tài chính - ngân hàng tiếp tục đổi mới, quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng bước sang giai đoạn mới và yêu cầu bảo vệ người gửi tiền ngày càng cao. Việc sửa đổi Luật không chỉ khắc phục những vướng mắc trong thực tiễn thi hành Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012 mà còn tạo nền tảng pháp lý nâng cao hiệu quả bảo vệ người gửi tiền, tăng cường an toàn hệ thống tài chính và củng cố niềm tin của công chúng.

Kế thừa nền tảng của Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2012, Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 bổ sung nhiều quy định quan trọng về cơ chế tài chính, tổ chức và hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. Những sửa đổi tập trung vào ba mục tiêu lớn: Bảo vệ người gửi tiền kịp thời hơn; tăng cường năng lực tham gia xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và hoàn thiện cơ chế tài chính để tổ chức bảo hiểm tiền gửi thực hiện chức năng hiệu quả hơn.

Một trong những điểm đổi mới đáng chú ý nhất là quy định về thời điểm phát sinh nghĩa vụ chi trả bảo hiểm. Nếu trước đây người gửi tiền chỉ được chi trả sau khi hoàn tất quá trình phá sản của tổ chức tín dụng, thì Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 đã mở rộng các trường hợp phát sinh nghĩa vụ chi trả theo quy định của pháp luật. Sự thay đổi này giúp rút ngắn thời gian chờ đợi, giảm thiểu tác động của những biến động thị trường, góp phần ổn định tâm lý người gửi tiền trong những tình huống phát sinh rủi ro.

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 cũng mở rộng vai trò của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong quá trình cơ cấu lại các tổ chức tín dụng yếu kém. Theo quy định mới, tổ chức bảo hiểm tiền gửi được tham gia sâu hơn vào quá trình kiểm tra theo kế hoạch của Ngân hàng Nhà nước, đánh giá phương án cơ cấu lại, tham gia một số hoạt động hỗ trợ xử lý tổ chức tín dụng và được bổ sung cơ chế tài chính phù hợp để thực hiện nhiệm vụ khi cần thiết. Cách tiếp cận này cho thấy chuyển biến từ xử lý khi rủi ro xảy ra sang phòng ngừa, phát hiện và can thiệp sớm nhằm hạn chế nguy cơ mất an toàn hệ thống.

Hơn nữa, một điểm mới có ý nghĩa thực tiễn là cơ chế cho vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam với lãi suất 0% trong trường hợp quỹ dự phòng nghiệp vụ không đủ để chi trả theo quy định. Cơ chế này góp phần tăng cường năng lực tài chính của tổ chức bảo hiểm tiền gửi, tạo điều kiện để việc bảo vệ người gửi tiền được thực hiện kịp thời trong những tình huống cần bảo đảm an toàn hệ thống.

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 đồng thời sửa đổi quy định về hạn mức chi trả bảo hiểm tiền gửi theo hướng phù hợp với bối cảnh mới. Theo Thông tư số 05/2026/TT-NHNN ngày 31/3/2026 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (có hiệu lực thi hành từ ngày 13/7/2026), hạn mức chi trả được nâng lên tối đa 350 triệu đồng cho toàn bộ các khoản tiền gửi được bảo hiểm của một cá nhân tại một tổ chức tín dụng, thay cho mức 125 triệu đồng trước đây. Điều chỉnh này phản ánh sự gia tăng quy mô tiền gửi, thay đổi điều kiện kinh tế - xã hội, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả bảo vệ người gửi tiền trong giai đoạn mới.

Ý nghĩa của việc nâng hạn mức chi trả không chỉ dừng lại ở con số 350 triệu đồng, mà quan trọng hơn là thể hiện cơ chế bảo vệ người gửi tiền luôn được rà soát, hoàn thiện phù hợp với thực tiễn phát triển kinh tế. Khi quyền lợi của người dân được pháp luật bảo đảm tốt hơn, niềm tin đối với hệ thống tài chính tiếp tục được củng cố. Trên nền tảng đó, dòng vốn nhàn rỗi trong xã hội được khơi thông, góp phần thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phục vụ phát triển đất nước.

Có thể thấy, những sửa đổi của Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 không chỉ hoàn thiện hành lang pháp lý cho hoạt động bảo hiểm tiền gửi, mà còn thể hiện tư duy quản lý theo hướng chủ động phòng ngừa rủi ro, bảo vệ người gửi tiền từ sớm, từ gốc. Đây là bước tiến quan trọng trong xây dựng hệ thống tài chính an toàn, minh bạch và bền vững, qua đó củng cố niềm tin của Nhân dân, tạo nền tảng cho kinh tế phát triển ổn định.

Luật Bảo hiểm tiền gửi - Nguồn: div.gov.vn)
Luật Bảo hiểm tiền gửi (Nguồn ảnh: div.gov.vn)

Khơi thông nguồn lực từ niềm tin của người dân

Tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV, Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh yêu cầu: “Làm sao phải huy động được toàn bộ sức của dân, không để tiền nhàn rỗi”. Định hướng đó không chỉ phản ánh yêu cầu phát triển kinh tế trong giai đoạn mới mà còn khẳng định tầm quan trọng của việc khơi thông mọi nguồn lực trong xã hội nhằm phục vụ phát triển đất nước.

Nguồn lực trong dân không chỉ là tài sản của mỗi cá nhân hay mỗi gia đình, mà còn là nguồn lực quan trọng của nền kinh tế. Khi được gửi vào một hệ thống tài chính an toàn, minh bạch, vận hành hiệu quả, những khoản tiết kiệm nhỏ lẻ sẽ được tập hợp thành nguồn vốn phục vụ đầu tư, sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy tăng trưởng. Để khơi thông dòng vốn này, điều kiện tiên quyết là phải củng cố được niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính cũng như cơ chế bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Chính sách bảo hiểm tiền gửi góp phần tạo dựng và củng cố niềm tin đó. Người gửi tiền không chỉ nhận thức rõ khoản tiền gửi hợp pháp của mình được pháp luật bảo vệ, mà còn thấy được nỗ lực liên tục của Nhà nước trong việc hoàn thiện cơ chế, bảo đảm việc bảo vệ được thực hiện kịp thời và hiệu quả. Trên cơ sở niềm tin được tăng cường, dòng vốn nhàn rỗi trong dân cư được khuyến khích đưa vào hệ thống ngân hàng và các tổ chức tín dụng, thay vì được nắm giữ dưới dạng tiền mặt, vàng hoặc các tài sản khác.

Vai trò này càng được thể hiện rõ tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa - nơi hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân giữ vị trí then chốt trong cung ứng dịch vụ tài chính cho cộng đồng. Thực tiễn hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam cho thấy, việc tăng cường kiểm tra, giám sát, hỗ trợ và thực hiện chi trả khi phát sinh sự kiện bảo hiểm đã góp phần bảo vệ quyền lợi người gửi tiền, củng cố niềm tin đối với các tổ chức tín dụng cơ sở. Qua đó, nguồn vốn tại chỗ được duy trì, phát huy hiệu quả, tiếp tục phục vụ phát triển kinh tế - xã hội tại địa phương.

Xu hướng tích cực này được thể hiện rõ trong thực tế. Tiền gửi dân cư tại các tổ chức tín dụng tiếp tục gia tăng, đồng thời quy mô tiền gửi được bảo hiểm ngày càng mở rộng. Điều này cho thấy, khi cơ chế bảo vệ người gửi tiền được hoàn thiện, niềm tin của công chúng đối với hệ thống tài chính được củng cố, qua đó bổ sung nguồn lực quan trọng cho nền kinh tế.

Nguồn vốn huy động từ người dân không chỉ dừng lại ở các con số trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng, mà còn được chuyển hóa thành động lực cho nền kinh tế. Thông qua hoạt động tín dụng, dòng vốn này được phân bổ vào mở rộng sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp, phát triển kết cấu hạ tầng, nông nghiệp, kinh tế xanh và các lĩnh vực ưu tiên khác. Những khoản tiết kiệm của cá nhân được kết nối thành nguồn lực chung, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống Nhân dân.

Bảo hiểm tiền gửi không chỉ góp phần bảo vệ người gửi tiền trước rủi ro mà còn giữ cho dòng vốn trong nền kinh tế vận hành ổn định. Một hệ thống tài chính an toàn tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng thực hiện hiệu quả vai trò cung ứng vốn, hỗ trợ sản xuất, kinh doanh và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các biến động từ bên ngoài.

Quan trọng hơn nữa, chính sách bảo hiểm tiền gửi góp phần tạo dựng và củng cố niềm tin xã hội. Khi người dân tin tưởng vào hệ thống tài chính, sẵn sàng gửi gắm thành quả lao động vào các tổ chức tín dụng; khi niềm tin được củng cố, nguồn lực trong xã hội được khơi thông; khi nguồn lực ấy được sử dụng hiệu quả, đất nước có thêm điều kiện để phát triển nhanh và bền vững. Chính vì vậy, bảo hiểm tiền gửi không chỉ là một chính sách tài chính mà còn là cơ chế quan trọng chuyển hóa niềm tin của người dân thành nguồn lực cho phát triển đất nước.

Từ niềm tin của người gửi tiền đến sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đến với cộng đồng người dân tộc thiểu số - Nguồn ảnh: div.gov.vn
Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam đến với cộng đồng người dân tộc thiểu số (Nguồn ảnh: div.gov.vn)

Đại đoàn kết toàn dân tộc không chỉ được bồi đắp từ các giá trị văn hóa, truyền thống hay những phong trào xã hội, mà còn được vun đắp bằng các chính sách công bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. Mỗi chính sách được xây dựng trên nguyên tắc lấy người dân làm trung tâm, được triển khai hiệu quả và mang lại lợi ích thiết thực đều góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng và Nhà nước. Bảo hiểm tiền gửi là một trong những chính sách tiêu biểu, thể hiện rõ vai trò đó.

Thoạt nhìn, bảo hiểm tiền gửi là một chính sách thuộc lĩnh vực tài chính - ngân hàng, với mục tiêu trực tiếp là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Tuy nhiên, ý nghĩa của chính sách này không chỉ nằm ở việc bảo vệ từng khoản tiền gửi, mà còn ở vai trò củng cố niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống tài chính, các tổ chức tín dụng và các thiết chế kinh tế. Thông qua việc bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, duy trì ổn định thị trường tài chính và nâng cao hiệu quả bảo vệ người gửi tiền, bảo hiểm tiền gửi góp phần khơi thông nguồn lực trong xã hội, thúc đẩy dòng vốn phục vụ đầu tư, sản xuất, kinh doanh, qua đó đóng góp vào mục tiêu phát triển kinh tế nhanh, bền vững và tăng cường đồng thuận xã hội.

Niềm tin của người dân không hình thành từ những tuyên bố hay kỳ vọng, mà được vun đắp qua chính trải nghiệm thực tiễn trong quá trình thụ hưởng và cảm nhận hiệu quả của các chính sách công. Khi quyền lợi của người gửi tiền được pháp luật bảo đảm bằng những quy định rõ ràng, minh bạch, khả thi; khi cơ chế bảo hiểm tiền gửi tiếp tục được hoàn thiện phù hợp với yêu cầu phát triển; khi các tổ chức tín dụng hoạt động an toàn, ổn định và nâng cao trách nhiệm, người dân sẽ thêm yên tâm gửi gắm thành quả lao động của mình vào hệ thống tài chính. Sự yên tâm ấy chính là nền tảng quan trọng để củng cố niềm tin xã hội, khơi thông nguồn lực trong dân và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững.

Ở góc độ quản trị quốc gia, niềm tin xã hội là một nguồn lực đặc biệt quan trọng, góp phần nâng cao hiệu quả vận hành của nền kinh tế và thúc đẩy sự phát triển bền vững. Niềm tin giúp giảm chi phí giao dịch, tăng cường sự hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người dân; tạo sự đồng thuận trong quá trình triển khai các chủ trương, chính sách phát triển; đồng thời nâng cao khả năng huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư, tăng trưởng. Do vậy, bảo hiểm tiền gửi không chỉ là công cụ bảo vệ an toàn tài chính mà còn là một thiết chế góp phần củng cố nền tảng xã hội, chuyển hóa niềm tin của người dân thành nguồn lực phục vụ phát triển đất nước.

Thực tiễn hoạt động của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam trong nhiều năm qua cho thấy, bên cạnh chức năng chi trả bảo hiểm khi phát sinh nghĩa vụ, tổ chức này còn thực hiện hiệu quả nhiều nhiệm vụ quan trọng như tuyên truyền chính sách, kiểm tra, giám sát, tham gia xử lý tổ chức tín dụng yếu kém và phối hợp với các cơ quan có liên quan nhằm bảo đảm an toàn hệ thống. Những hoạt động này góp phần nâng cao nhận thức của người dân về chính sách bảo hiểm tiền gửi và quyền, lợi ích hợp pháp của người gửi tiền, đồng thời tăng cường sự minh bạch, an toàn và ổn định của hệ thống tài chính - ngân hàng và củng cố niềm tin của công chúng. Qua đó có thể thấy, bảo hiểm tiền gửi không chỉ là một thiết chế tài chính bảo vệ người gửi tiền, mà còn là công cụ quan trọng góp phần bảo đảm an sinh kinh tế, duy trì ổn định xã hội và tạo nền tảng cho phát triển bền vững.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập quốc tế sâu rộng, việc tiếp tục hoàn thiện chính sách bảo hiểm tiền gửi có ý nghĩa quan trọng và thiết thực. Một cơ chế bảo vệ người gửi tiền hiệu quả không chỉ giúp người dân yên tâm gửi tiền vào hệ thống tín dụng, mà còn góp phần khơi thông dòng vốn trong xã hội, thúc đẩy đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển kinh tế. Đồng thời, chính sách này còn thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của Nhân dân, qua đó củng cố niềm tin và tăng cường mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước với Nhân dân.

Có thể khẳng định, giá trị lớn nhất của bảo hiểm tiền gửi không chỉ nằm ở việc thực hiện chi trả khi rủi ro xảy ra, mà còn ở khả năng chủ động tạo dựng và nuôi dưỡng niềm tin của người dân ngay từ trước khi rủi ro phát sinh. Khi niềm tin được bồi đắp bằng những chính sách lấy con người làm trung tâm, được thực thi công bằng, minh bạch và hiệu quả, người dân sẽ thêm yên tâm vào sự an toàn của hệ thống tài chính, sự nghiêm minh của pháp luật và định hướng phát triển của đất nước. Đó cũng chính là nền tảng quan trọng góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sức mạnh của Nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Kết luận

Luật Bảo hiểm tiền gửi năm 2025 là bước hoàn thiện quan trọng về thể chế, thể hiện sự đổi mới trong tư duy quản lý và sự quan tâm của Nhà nước đối với việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người gửi tiền. Những quy định mới không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động của bảo hiểm tiền gửi mà còn góp phần tăng cường an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng, tạo môi trường thuận lợi để huy động và phân bổ nguồn lực cho phát triển kinh tế.

Từ góc nhìn rộng hơn, bảo hiểm tiền gửi mang ý nghĩa vượt ra ngoài phạm vi của một chính sách tài chính thuần túy. Khi người dân yên tâm gửi gắm thành quả lao động của mình vào các tổ chức tín dụng, dòng vốn trong xã hội được khơi thông, niềm tin đối với hệ thống tài chính được củng cố và mối quan hệ gắn bó giữa Nhà nước với Nhân dân ngày càng bền chặt. Mỗi chính sách hướng tới bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người dân đều góp phần tạo dựng sự đồng thuận xã hội, củng cố nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Trong tiến trình phát triển đất nước, niềm tin luôn là một nguồn lực đặc biệt quan trọng. Bảo hiểm tiền gửi không chỉ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người gửi tiền mà còn góp phần củng cố niềm tin của người dân đối với hệ thống tài chính, ngân hàng và hiệu quả quản lý, điều hành của Nhà nước. Khi niềm tin ấy được vun đắp bằng những chính sách thiết thực, khuôn khổ pháp lý minh bạch và các thiết chế vận hành hiệu quả, sẽ tạo động lực khơi thông nguồn lực xã hội, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và thúc đẩy đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới.

Tài liệu tham khảo:

1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII (2021), Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII (2026), Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

3. Báo Lao Động (n.d.), Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam hướng tới đối tượng là người gửi tiền tại nông thôn. https://laodong.vn/kinh-doanh/bao-hiem-tien-gui-vn-huong-toi-doi-tuong-la-nguoi-gui-tien-tai-nong-thon-786985.ldo

4. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2014), Để chi trả kịp thời tiền gửi được bảo hiểm cho người gửi tiền. https://www.div.gov.vn/de-chi-tra-kip-thoi-tien-gui-duoc-bao-hiem-cho-nguoi-gui-tien

5. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2026), Chi nhánh Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam tại Thành phố Hà Nội tuyên truyền chính sách bảo hiểm tiền gửi tại Quỹ tín dụng nhân dân Minh Tân. https://www.div.gov.vn/chi-nhanh-bao-hiem-tien-gui-viet-nam-tai-thanh-pho-ha-noi-tuyen-truyen-chinh-sach-bao-hiem-tien-gui-tai-quy-tin-dung-nhan-dan-minh-tan

6. Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam (2026), Công bố lệnh của Chủ tịch nước về Luật Bảo hiểm tiền gửi. https://div.gov.vn/cong-bo-lenh-cua-chu-tich-nuoc-ve-luat-bao-hiem-tien-gui

7. Luật Bảo hiểm tiền gửi số 06/2012/QH13 của Quốc hội.

8. Luật Bảo hiểm tiền gửi số 111/2025/QH15 của Quốc hội.

9. Mai Hà (2025), Tổng Bí thư: Phải huy động được sức dân, không để tiền nhàn rỗi. https://thanhnien.vn/tong-bi-thu-phai-huy-dong-duoc-suc-dan-khong-de-tien-nhan-roi-185250517162440549.htm

10. Nam, Hương (2026), Bảo hiểm tiền gửi: Từ nền tảng tư tưởng đến hành trình thể chế hóa. https://tapchikinhtetaichinh.vn/bao-hiem-tien-gui-tu-nen-tang-tu-tuong-den-hanh-trinh-the-che-hoa-157791.html

11. Nguyễn Quốc Hùng (2024), Nâng cao vai trò của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam để đồng hành cùng các tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi. https://tapchinganhang.gov.vn/nang-cao-vai-tro-cua-bao-hiem-tien-gui-viet-nam-de-dong-hanh-cung-cac-to-chuc-tham-gia-bao-hiem-tien-gui-371.html

12. Quỳnh Trang (2026), Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Ngọc Cảnh dự hội nghị của Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam. https://thoibaonganhang.vn/pho-thong-doc-nhnn-nguyen-ngoc-canh-du-hoi-nghi-cua-bao-hiem-tien-gui-viet-nam-176462.html

Phạm Thị Bích Vân và Chu Thị Linh Chi
Phòng Tổ chức cán bộ, Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Tin bài khác

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Bài viết phân tích xu hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 trên các phương diện quy mô, cơ cấu và động lực tăng trưởng, đồng thời đánh giá những thách thức, cơ hội và đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút FDI trong giai đoạn tới.
Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng gia tăng, xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và sức mạnh hàng hải, mà phải được đặt trên nền tảng quản trị biển hiện đại, nâng cao năng lực khoa học - công nghệ cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.
Xem thêm
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại