Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Chính sách
Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
aa

Tóm tắt: Tháng 6/2026, Nhóm các nền kinh tế mới nổi (EEG) thuộc Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế (IASB) đã cập nhật tiến độ dự án rà soát IAS 7 về báo cáo lưu chuyển tiền tệ - đợt rà soát toàn diện đầu tiên kể từ khi chuẩn mực được ban hành năm 1992. Trên cơ sở các tài liệu của IASB, bài viết này phân tích những nội dung sửa đổi trọng tâm của IAS 7, bao gồm phân tách thông tin dòng tiền, công bố giao dịch phi tiền tệ, thước đo dòng tiền tự xây dựng, phân loại dòng tiền, định nghĩa tương đương tiền và cách tiếp cận đối với tổ chức tài chính; đồng thời đánh giá tác động của các đề xuất này đối với việc lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Các ví dụ minh họa được sử dụng nhằm làm rõ ý nghĩa thực tiễn của những thay đổi được đề xuất.

Từ khóa: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, Chuẩn mực Kế toán Quốc tế, giao dịch phi tiền tệ, IAS 7.

ENHANCING THE REQUIREMENTS FOR THE PREPARATION AND PRESENTATION OF STATEMENTS
OF CASH FLOWS UNDER INTERNATIONAL ACCOUNTING STANDARD - IAS 7

Abstract: In June 2026, the Emerging Economies Group (EEG) of the International Accounting Standards Board (IASB) reviewed the progress of IAS 7 post-implementation review project on the Statement of Cash Flows, marking the first comprehensive review of the standard since its issuance in 1992. Drawing on IASB technical materials, this article examines the key proposed amendments to IAS 7, including the disaggregation of cash flow information, disclosure of non-cash transactions, management-defined cash flow measures, classification of cash flows, the definition of cash equivalents, and a tailored approach for financial institutions. It also evaluates the implications of these proposals for the preparation and presentation of statements of cash flows. Illustrative examples are provided to demonstrate the practical significance of the proposed changes.

Keywords: Statement of Cash Flows, International Accounting Standard, non-cash transactions.

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo Chuẩn mực Kế toán Quốc tế - IAS 7
Ảnh minh họa (Nguồn: baochinhphu.vn)

1. Lý do cần rà soát lại báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Được ban hành lần đầu năm 1992, IAS 7 gần như không có thay đổi đáng kể nào trong hơn ba thập kỷ, trong khi mô hình kinh doanh của doanh nghiệp, mức độ phức tạp của công cụ tài chính và công nghệ lập báo cáo đã thay đổi căn bản. Cùng với báo cáo tình hình tài chính và báo cáo kết quả hoạt động, báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong ba báo cáo tài chính chủ yếu, cung cấp thông tin về khả năng tạo tiền, khả năng thanh toán và mức độ thanh khoản của doanh nghiệp. Qua rà soát vụ việc gian lận báo cáo tài chính cho thấy, lợi nhuận kế toán có thể bị điều chỉnh thông qua các ước tính và chính sách kế toán, đồng thời, nhiều nhà đầu tư coi dòng tiền là chỉ tiêu khó bị can thiệp hơn lợi nhuận và là căn cứ đối chiếu để đánh giá chất lượng thu nhập của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, thực tiễn áp dụng IAS 7 tại nhiều thị trường cho thấy mức độ nhất quán và khả năng so sánh của báo cáo lưu chuyển tiền tệ còn hạn chế. Ví dụ, mức độ tuân thủ IAS 7 của các doanh nghiệp niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Johannesburg (Nam Phi) cho thấy rằng, dù phần lớn doanh nghiệp đạt mức tuân thủ tốt, vẫn tồn tại sự khác biệt trong cách phân loại dòng tiền lãi vay, cổ tức, cũng như mức độ minh bạch khi trình bày theo phương pháp gián tiếp và công bố thay đổi nợ tài chính. Nguyên nhân chủ yếu đến từ việc IAS 7 cho phép doanh nghiệp có nhiều lựa chọn phân loại như tiền lãi vay đã trả có thể được phân loại là dòng tiền hoạt động kinh doanh hoặc dòng tiền tài chính, dẫn đến hai doanh nghiệp cùng ngành, có giao dịch tương tự nhưng lại trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo cách khác nhau, gây khó khăn cho nhà đầu tư khi so sánh, đối chiếu.

Nhận diện được khoảng cách giữa nhu cầu thông tin của nhà đầu tư và thực trạng lập báo cáo, chương trình nghiên cứu 2024 - 2025 của IASB (thông qua các buổi làm việc với Ủy ban Tư vấn Thị trường Vốn - CMAC, Diễn đàn các Nhà lập chuẩn mực toàn cầu - GPF và khảo sát báo cáo tài chính thực tế) đã xác định ba nội dung được nhà đầu tư đánh giá là ưu tiên hàng đầu là phân tách thông tin, giao dịch phi tiền tệ, thước đo dòng tiền không theo IFRS, cùng hai nội dung được nhiều bên liên quan khác đánh giá là cần thiết nhằm giảm sự khác biệt trong áp dụng là phân loại dòng tiền và định nghĩa tương đương tiền.

2. Một số nội dung sửa đổi

2.1. Tăng cường phân tách thông tin dòng tiền

Một trong những nội dung kiến nghị của nhà đầu tư là báo cáo lưu chuyển tiền tệ hiện nay chưa có sự liên kết chặt chẽ với các báo cáo tài chính khác. Cụ thể, các khoản mục trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ khó đối chiếu với báo cáo tình hình tài chính, tên gọi của các khoản mục chưa thống nhất giữa các báo cáo và thuyết minh, thiếu tham chiếu chéo, đồng thời nhiều khoản mục trọng yếu vẫn được trình bày gộp. Điều này khiến nhà đầu tư phải tự tổng hợp thông tin từ nhiều phần của bộ báo cáo tài chính để theo dõi dòng tiền của từng giao dịch hoặc từng nhóm tài sản, nợ phải trả.

Để xử lý vướng mắc này, IASB đã tạm thời quyết định bổ sung hướng dẫn áp dụng yêu cầu doanh nghiệp: (i) Sử dụng cách phân tách các khoản mục tài sản/nợ phải trả liên quan trên báo cáo tình hình tài chính làm cơ sở để phân tách khoản mục tương ứng trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ; (ii) Thuyết minh rõ trường hợp mức độ phân tách trên hai báo cáo có sự khác biệt; (iii) Sử dụng tên mục thống nhất cho các khoản mục có đặc điểm tương đồng và khác biệt cho khoản mục có đặc điểm khác nhau; (iv) Khi một thuyết minh liên quan đến nhiều báo cáo tài chính chủ yếu, phải tham chiếu chéo thuyết minh đó tại từng báo cáo liên quan. Bên cạnh đó, IASB cũng dự kiến yêu cầu doanh nghiệp trình bày dòng tiền từ các hoạt động không tiếp tục (các khoản tiền thu vào và chi ra phát sinh từ một bộ phận/hoạt động kinh doanh mà doanh nghiệp đã ngừng hoặc đang trong quá trình thanh lý, bán hoặc tách khỏi hoạt động kinh doanh tiếp tục) thành một nhóm khoản mục riêng biệt trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

Bên cạnh đó, IASB cũng dự kiến chuẩn hóa việc thuyết minh biến động các khoản nợ phải trả từ hoạt động tài chính. Thay vì chỉ thuyết minh bằng lời hoặc trình bày không thống nhất như hiện nay, doanh nghiệp sẽ phải lập bảng đối chiếu từ số dư đầu kỳ đến số dư cuối kỳ cho từng khoản nợ, phân loại theo từng khoản mục trên báo cáo tình hình tài chính và trình bày riêng các dòng tiền thu, chi theo từng nhóm giao dịch (như tiền vay nhận được, trả nợ gốc vay, trả nợ gốc thuê tài chính), đồng thời tách biệt các biến động không bằng tiền (ví dụ: Ghi nhận tài sản thuê mới) và các khoản chênh lệch tỉ giá. Cách trình bày này giúp người sử dụng báo cáo tài chính theo dõi đầy đủ nguyên nhân làm thay đổi nghĩa vụ nợ trong kỳ. Bảng 1 minh họa về bảng đối chiếu biến động các khoản nợ phải trả từ hoạt động tài chính theo đề xuất của IASB.

Bảng 1: Minh họa bảng đối chiếu biến động các khoản nợ phải trả từ hoạt động tài chính theo đề xuất của IASB

Đơn vị: Triệu đồng

Nguồn: Minh họa của nhóm tác giả
Nguồn: Minh họa của nhóm tác giả

2.2. Cải thiện công bố thông tin về giao dịch phi tiền tệ

IAS 7 quy định các giao dịch đầu tư và tài chính không sử dụng tiền hoặc tương đương tiền không được trình bày trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ mà phải được thuyết minh riêng. Tuy nhiên, chuẩn mực chưa quy định cụ thể nội dung và vị trí thuyết minh, dẫn đến cách trình bày không thống nhất giữa các doanh nghiệp. Có doanh nghiệp thuyết minh trong phần tài sản cố định, có doanh nghiệp trình bày tại thuyết minh về thuê tài sản hoặc thanh toán bằng cổ phiếu, khiến nhà đầu tư khó tổng hợp thông tin.

Bên cạnh đó, phạm vi của "giao dịch phi tiền tệ" cũng chưa được xác định rõ. Nhiều trường hợp còn gây tranh luận như giao dịch vừa có yếu tố tiền vừa có yếu tố phi tiền (ví dụ mua lại doanh nghiệp bằng tiền mặt và cổ phiếu), các biến động phi tiền tệ khác hoặc các khoản thanh toán do bên thứ ba thực hiện thay doanh nghiệp.

Để khắc phục, IASB dự kiến bổ sung hướng dẫn theo hướng: (i) Xác định rõ các giao dịch phi tiền tệ thuộc hoạt động đầu tư và tài chính; (ii) Yêu cầu công bố nhằm giúp người sử dụng báo cáo hiểu được tác động của các giao dịch này đến biến động tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu; (iii) Trình bày tập trung tại một thuyết minh riêng thay vì phân tán ở nhiều nơi; (iv) Công bố giá trị giao dịch, ảnh hưởng đến các khoản mục liên quan và tham chiếu với báo cáo lưu chuyển tiền tệ; (v) Khuyến nghị trình bày dưới dạng bảng để nâng cao tính minh bạch, khả năng so sánh và hỗ trợ báo cáo điện tử.

Ví dụ: Trong kỳ, Công ty Y phát sinh hai giao dịch phi tiền tệ:

(1) Thuê tài sản: Ký hợp đồng thuê mới một dây chuyền sản xuất trị giá 500 triệu đồng, ghi nhận đồng thời tài sản quyền sử dụng và nợ thuê.

(2) Thanh toán bằng cổ phiếu: Phát hành cổ phiếu trị giá 80 triệu đồng cho người lao động theo chương trình phát hành cổ phiếu cho nhân viên nội bộ với giá ưu đãi hoặc miễn phí, nhằm giữ chân nhân tài và gắn kết lợi ích (ESOP).

Theo định hướng công bố mới của IASB, doanh nghiệp sẽ trình bày các giao dịch này trong một thuyết minh riêng tại Bảng 2:

Bảng 2: Minh họa thuyết minh giao dịch phi tiền tệ theo định hướng công bố mới

Nguồn: Minh họa của nhóm tác giả
Nguồn: Minh họa của nhóm tác giả

Cách trình bày này giúp nhà đầu tư nhận diện đầy đủ các giao dịch không phát sinh dòng tiền nhưng vẫn làm thay đổi đáng kể tình hình tài chính của doanh nghiệp. Chẳng hạn, giao dịch thuê tài sản trị giá 500 triệu đồng làm tăng đồng thời tài sản và nợ thuê; nếu giao dịch này được thực hiện bằng tiền, doanh nghiệp sẽ phải ghi nhận một khoản chi đầu tư và một khoản huy động vốn tương ứng. Tương tự, việc phát hành cổ phiếu để thanh toán cho người lao động làm tăng vốn chủ sở hữu và ghi nhận chi phí nhân viên, dù không có dòng tiền thực tế phát sinh. Nhờ đó, khi kết hợp thông tin thuyết minh với báo cáo lưu chuyển tiền tệ, nhà đầu tư có thể đánh giá đầy đủ hơn quy mô các hoạt động đầu tư và tài chính của doanh nghiệp.

Tuy nhiên, đề xuất này vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau. Một số ý kiến cho rằng việc trình bày các giao dịch phi tiền tệ theo cách tương tự dòng tiền có thể gây nhầm lẫn vì các giao dịch này không làm thay đổi lượng tiền của doanh nghiệp. Ngoài ra, doanh nghiệp cũng lo ngại chi phí tuân thủ sẽ tăng do phải nhận diện và chứng minh đã công bố đầy đủ các giao dịch phi tiền tệ phát sinh trong kỳ. Để giảm gánh nặng này, IASB đề xuất chỉ yêu cầu công bố các giao dịch trọng yếu và loại trừ một số khoản điều chỉnh mang tính kế toán như chênh lệch tỉ giá, suy giảm giá trị hoặc vốn hóa chi phí, vốn đã được điều chỉnh bởi các yêu cầu công bố khác của IAS 7.

2.3. Minh bạch hóa các thước đo dòng tiền không được quy định trong Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS)

Hiện nay, nhiều doanh nghiệp niêm yết công bố các thước đo dòng tiền tự xây dựng ngoài báo cáo tài chính, như dòng tiền tự do hoặc dòng tiền hoạt động kinh doanh điều chỉnh, trong các tài liệu quan hệ nhà đầu tư hoặc bản tin kết quả kinh doanh. Tuy nhiên, các chỉ tiêu này chưa có quy định thống nhất về nội dung và cách công bố, khiến nhà đầu tư khó kiểm chứng với số liệu trên báo cáo tài chính đã kiểm toán.

Trong khi đó, IFRS 18 về Trình bày và thuyết minh báo cáo tài chính đã quy định việc công bố các thước đo hiệu quả hoạt động do ban lãnh đạo tự xây dựng (MPM) đối với các chỉ tiêu lợi nhuận. Để khắc phục khoảng trống đối với các chỉ tiêu dòng tiền, IASB dự kiến mở rộng phạm vi áp dụng của MPM sang cả các thước đo dòng tiền do doanh nghiệp tự xây dựng. Theo đó, doanh nghiệp sẽ phải giải thích mục đích sử dụng, phương pháp tính, đối chiếu với chỉ tiêu IFRS gần nhất và thuyết minh các thay đổi trong cách tính qua các kỳ. Ngược lại, các chỉ tiêu dòng tiền bắt buộc theo IAS 7 (như dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính) không thuộc phạm vi này vì đã được chuẩn mực quy định thống nhất.

Ví dụ: Công ty Z công bố trong bản tin kết quả kinh doanh quý chỉ tiêu dòng tiền tự do được xác định theo công thức:

Dòng tiền tự do = Dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh - Chi đầu tư tài sản cố định

Theo yêu cầu mới, doanh nghiệp sẽ phải đối chiếu chỉ tiêu này với số liệu trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ và giải thích cơ sở xác định tại Bảng 3.

Bảng 3: Minh họa đối chiếu chỉ tiêu "dòng tiền tự do" theo định hướng công bố mới

Nguồn: Minh họa của nhóm tác giả
Nguồn: Minh họa của nhóm tác giả

Ngoài bảng đối chiếu, doanh nghiệp cần thuyết minh lý do sử dụng chỉ tiêu này, chẳng hạn để phản ánh lượng tiền còn lại sau khi thực hiện các khoản đầu tư cần thiết, hỗ trợ nhà đầu tư đánh giá khả năng trả nợ, chi trả cổ tức hoặc tái đầu tư. Nếu phương pháp tính thay đổi so với kỳ trước, doanh nghiệp cũng phải giải thích nguyên nhân và ảnh hưởng của sự thay đổi đó. Cách tiếp cận này giúp các chỉ tiêu dòng tiền tự xây dựng trở nên minh bạch và có thể kiểm chứng với báo cáo tài chính, qua đó hạn chế việc doanh nghiệp sử dụng các chỉ tiêu được tính toán theo những cách khác nhau để phản ánh kết quả tài chính theo hướng có lợi cho mình, đồng thời nâng cao tính so sánh giữa các doanh nghiệp.

2.4. Nâng cao tính nhất quán trong phân loại dòng tiền theo hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính

Hiện nay, IAS 7 chỉ quy định nguyên tắc chung về phân loại dòng tiền theo ba nhóm: Hoạt động kinh doanh, đầu tư và tài chính. Tuy nhiên, quy định tại IAS 7 tạo ra nhiều trường hợp cần xem xét, dẫn đến các doanh nghiệp có thể phân loại khác nhau đối với một số giao dịch như dòng tiền từ công cụ phái sinh, khoản thu từ trợ cấp của chính phủ hoặc các khoản thanh toán liên quan đến hợp nhất kinh doanh. Việc xem xét này làm giảm khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp, đặc biệt đối với chỉ tiêu dòng tiền từ hoạt động kinh doanh - chỉ tiêu thường được nhà đầu tư sử dụng để tính toán dòng tiền tự do và định giá doanh nghiệp.

Để nâng cao tính nhất quán, tại phiên họp tháng 6/2026, IASB đã thống nhất một số nguyên tắc phân loại đối với các giao dịch thường phát sinh trong thực tiễn. Theo đó, dòng tiền từ công cụ phái sinh phục vụ quản trị rủi ro sẽ được phân loại theo cùng nhóm với khoản mục được quản trị rủi ro. Nếu việc xác định này đòi hỏi chi phí hoặc nỗ lực không hợp lý, doanh nghiệp được mặc định phân loại vào hoạt động kinh doanh. Đối với công cụ phái sinh không nhằm mục đích quản trị rủi ro mà chỉ phục vụ huy động vốn, dòng tiền sẽ được phân loại vào hoạt động tài chính. Đối với trợ cấp của chính phủ, khoản trợ cấp liên quan đến tài sản được phân loại là hoạt động đầu tư, còn khoản trợ cấp liên quan đến thu nhập được phân loại là hoạt động kinh doanh. IASB cũng đang xem xét sửa đổi nguyên tắc phân loại chung của IAS 7 để hỗ trợ doanh nghiệp xử lý nhất quán các giao dịch chưa có hướng dẫn cụ thể.

Ví dụ: Công ty A có khoản vay dài hạn để đầu tư nhà máy và ký hợp đồng hoán đổi lãi suất nhằm giảm rủi ro biến động lãi suất của khoản vay này. Trong năm, doanh nghiệp chi 12 tỉ đồng để thanh toán ròng theo hợp đồng hoán đổi. Theo cách áp dụng trước đây, một số doanh nghiệp trình bày khoản chi này là dòng tiền từ hoạt động kinh doanh, trong khi một số khác lại phân loại vào hoạt động tài chính, làm giảm khả năng so sánh giữa các báo cáo tài chính. Theo định hướng mới của IASB, dòng tiền từ hợp đồng hoán đổi sẽ được phân loại cùng nhóm với khoản vay được quản trị rủi ro, cụ thể tại Bảng 4.

Bảng 4. Minh họa phân loại dòng tiền từ công cụ phái sinh

Nguồn: Minh họa của nhóm tác giả
Nguồn: Minh họa của nhóm tác giả

Cách phân loại này phản ánh đúng bản chất kinh tế của giao dịch, vì hợp đồng hoán đổi được sử dụng để quản trị chi phí của khoản vay chứ không phục vụ hoạt động kinh doanh thông thường. Nhờ đó, người sử dụng báo cáo tài chính có thể đánh giá chính xác hơn chi phí tài chính và so sánh dòng tiền giữa các doanh nghiệp có cùng hoạt động quản trị rủi ro.

2.5. Làm rõ định nghĩa “các khoản tương đương tiền”

Theo IAS 7, tương đương tiền là các khoản đầu tư ngắn hạn, có tính thanh khoản cao, dễ dàng chuyển đổi thành một lượng tiền xác định và ít chịu rủi ro thay đổi giá trị, thông thường có kỳ đáo hạn không quá ba tháng kể từ ngày mua. Tuy nhiên, việc xác định một khoản đầu tư có phải là tương đương tiền hay không vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau. Nguyên nhân là IAS 7 chưa làm rõ cách phân biệt giữa khoản đầu tư được nắm giữ để đáp ứng nhu cầu thanh toán ngắn hạn và khoản đầu tư được nắm giữ nhằm mục đích sinh lời. Điều này đặc biệt phổ biến đối với các công cụ như chứng chỉ quỹ hoặc tiền gửi ngắn hạn có điều khoản phạt khi rút trước hạn, khiến các doanh nghiệp, nhất là các tổ chức tài chính, áp dụng chưa thống nhất.

Để khắc phục vướng mắc này, IASB tạm thời thống nhất là một khoản đầu tư chỉ được phân loại là tương đương tiền khi mục đích nắm giữ chủ yếu là đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán ngắn hạn và không để tìm kiếm lợi nhuận từ đầu tư. Như vậy, bên cạnh tiêu chí về kỳ hạn và tính thanh khoản, mục đích nắm giữ sẽ trở thành tiêu chí quan trọng trong việc xác định tương đương tiền.

Ví dụ: Công ty A mua trái phiếu chính phủ kỳ hạn ba tháng vì có mức sinh lời cao hơn tiền gửi ngân hàng. Mặc dù trái phiếu này có thể bán nhanh trên thị trường khi cần tiền, mục đích chính của doanh nghiệp là đầu tư để hưởng lợi suất, chứ không phải dự trữ tiền để đáp ứng các khoản thanh toán ngắn hạn. Theo cách hiểu trước đây, doanh nghiệp có thể lập luận rằng, khoản đầu tư này có tính thanh khoản cao nên được trình bày là tương đương tiền. Tuy nhiên, theo định hướng sửa đổi của IASB, khoản đầu tư này không đáp ứng tiêu chí về mục đích nắm giữ, nên sẽ không được phân loại là tương đương tiền mà được trình bày như một khoản đầu tư ngắn hạn.

Việc bổ sung tiêu chí về mục đích nắm giữ giúp hạn chế tình trạng các doanh nghiệp phân loại khác nhau đối với những khoản đầu tư có đặc điểm tương tự, từ đó nâng cao tính nhất quán và khả năng so sánh của báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

2.6. Cách tiếp cận riêng đối với báo cáo lưu chuyển tiền tệ của tổ chức tài chính

Khác với doanh nghiệp phi tài chính, báo cáo lưu chuyển tiền tệ của các tổ chức tài chính thường không phản ánh đầy đủ bản chất hoạt động kinh doanh. Đối với ngân hàng, các giao dịch như nhận tiền gửi, cho vay và thu lãi, trả lãi diễn ra liên tục và gắn liền với hoạt động quản lý nguồn vốn, nên dòng tiền phát sinh trong kỳ không phản ánh trực tiếp hiệu quả kinh doanh như đối với doanh nghiệp phi tài chính.

Đối với doanh nghiệp bảo hiểm, phí bảo hiểm thường được thu ngay khi hợp đồng có hiệu lực, trong khi chi phí bồi thường có thể phát sinh nhiều tháng hoặc nhiều năm sau đó, làm cho dòng tiền trong kỳ không phản ánh đầy đủ kết quả của các hợp đồng bảo hiểm. Vì vậy, dòng tiền trong từng kỳ không phản ánh đầy đủ hiệu quả hoạt động. Do vậy, IASB cho rằng báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7 có giá trị sử dụng hạn chế đối với tổ chức tài chính, trong khi nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn đến các chỉ tiêu về thanh khoản và an toàn vốn. Trên cơ sở đó, IASB đang nghiên cứu theo ba hướng:

Thứ nhất, đánh giá khả năng áp dụng các đề xuất sửa đổi IAS 7 đối với tổ chức tài chính. Kết quả ban đầu cho thấy phần lớn các đề xuất khó cải thiện đáng kể tính hữu ích của báo cáo lưu chuyển tiền tệ, thậm chí có thể phản ánh chưa đúng bản chất do nhiều giao dịch được IAS 7 phân loại là hoạt động đầu tư hoặc tài chính nhưng thực chất lại là hoạt động kinh doanh của ngân hàng và các tổ chức tài chính.

Thứ hai, xem xét khả năng miễn trừ toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Tuy nhiên, đề xuất này còn nhiều ý kiến trái chiều do khó xác định phạm vi áp dụng, đặc biệt đối với các tập đoàn hoạt động đa ngành hoặc tại các quốc gia vẫn yêu cầu lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo quy định pháp luật.

Thứ ba, nghiên cứu bổ sung các yêu cầu công bố đặc thù ngành, như đối chiếu các chỉ tiêu giám sát an toàn (ví dụ chuẩn mực Basel đối với ngân hàng hoặc Luật Đảm bảo Khả năng Thanh toán II - Solvency II đối với doanh nghiệp bảo hiểm) với số liệu theo IFRS.

Một vấn đề trọng tâm khác là xác định đối tượng được áp dụng. IASB dự kiến xây dựng tiêu chí dựa trên bản chất hoạt động thay vì chỉ căn cứ vào loại hình pháp lý, đồng thời kiểm định trên các tập đoàn tài chính đa ngành trước khi đưa ra quy định chính thức.

Ví dụ: Một tập đoàn vừa sở hữu ngân hàng thương mại, vừa sở hữu công ty cho thuê tài chính. Trong trường hợp này, IASB có thể xem xét đơn giản hóa hoặc miễn yêu cầu lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ đối với hoạt động ngân hàng, trong khi vẫn duy trì đầy đủ yêu cầu đối với công ty cho thuê tài chính nếu thông tin dòng tiền của đơn vị này vẫn có ý nghĩa đối với nhà đầu tư.

3. Ý nghĩa và thách thức đối với các bên liên quan

Đối với doanh nghiệp lập báo cáo tài chính, các đề xuất sửa đổi của IASB sẽ làm tăng yêu cầu về mức độ chi tiết và minh bạch của thông tin công bố. Doanh nghiệp có thể phải lập bảng đối chiếu biến động nợ từ hoạt động tài chính, thuyết minh tập trung các giao dịch phi tiền tệ và đối chiếu các thước đo dòng tiền tự xây dựng với các chỉ tiêu theo IFRS. Những yêu cầu này có thể làm gia tăng chi phí tuân thủ, đặc biệt tại các nền kinh tế mới nổi, nơi hệ thống thông tin kế toán và nguồn lực của doanh nghiệp còn hạn chế. Để giảm gánh nặng này, IASB đưa ra nguyên tắc cân bằng giữa lợi ích và chi phí, chỉ yêu cầu công bố các thông tin trọng yếu và khuyến khích doanh nghiệp tận dụng dữ liệu đã có trong các thuyết minh hiện hành (như tài sản cố định hoặc thuê tài sản) thay vì xây dựng các hệ thống theo dõi mới.

Đối với nhà đầu tư và nhà phân tích, các đề xuất này được kỳ vọng sẽ nâng cao tính minh bạch và khả năng so sánh của báo cáo lưu chuyển tiền tệ. Việc tăng cường liên kết giữa báo cáo lưu chuyển tiền tệ với báo cáo tình hình tài chính và yêu cầu đối chiếu các chỉ tiêu dòng tiền tự xây dựng sẽ giúp người sử dụng báo cáo kiểm chứng thông tin dễ dàng hơn, qua đó nâng cao chất lượng phân tích dòng tiền, định giá doanh nghiệp và đánh giá chất lượng lợi nhuận. Tuy nhiên, một số ý kiến cũng cho rằng việc trình bày đồng thời các giao dịch phi tiền tệ và dòng tiền thực có thể gây nhầm lẫn nếu cách trình bày không đủ rõ ràng, do đây là hai loại thông tin có bản chất khác nhau.

Đối với cơ quan quản lý và tổ chức ban hành chuẩn mực kế toán quốc gia, đặc biệt tại các nền kinh tế mới nổi, việc triển khai các sửa đổi của IASB sẽ còn phụ thuộc vào sự tương thích với pháp luật trong nước. Chẳng hạn, ngay cả khi IASB cho phép miễn trừ một phần yêu cầu lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ đối với tổ chức tài chính, quy định này chỉ có thể áp dụng trên thực tế nếu được nội luật hóa trong các quy định về kế toán, ngân hàng hoặc bảo hiểm của từng quốc gia. Vì vậy, IASB khuyến khích các cơ quan quản lý và tổ chức thiết lập chuẩn mực tích cực tham gia góp ý ngay từ giai đoạn xây dựng dự thảo nhằm bảo đảm các quy định mới phù hợp với điều kiện thực tiễn của từng quốc gia.

4. Kết luận

Sau hơn ba thập kỷ áp dụng, việc rà soát toàn diện IAS 7 phản ánh nỗ lực của IASB trong việc nâng cao chất lượng và tính hữu ích của báo cáo lưu chuyển tiền tệ trước những thay đổi của môi trường kinh doanh và nhu cầu ngày càng cao của nhà đầu tư. Các định hướng sửa đổi như tăng cường phân tách thông tin dòng tiền, chuẩn hóa công bố giao dịch phi tiền tệ, minh bạch hóa các thước đo dòng tiền tự xây dựng, hoàn thiện nguyên tắc phân loại dòng tiền, làm rõ khái niệm tương đương tiền và nghiên cứu cách tiếp cận riêng đối với các tổ chức tài chính đều hướng tới mục tiêu nâng cao tính minh bạch, nhất quán và khả năng so sánh của thông tin tài chính. Mặc dù việc triển khai các sửa đổi có thể làm gia tăng chi phí tuân thủ và đòi hỏi sự điều chỉnh của hệ thống pháp luật, chuẩn mực kế toán cũng như hạ tầng thông tin tại từng quốc gia, đây được xem là bước đi cần thiết để đáp ứng yêu cầu của thị trường vốn hiện đại và thúc đẩy sự hội tụ của chuẩn mực kế toán quốc tế.

Tài liệu tham khảo

1. IFRS Foundation (2026), Agenda Paper 62 - Statement of Cash Flows and Related Matters.

2. IFRS Foundation (2026), Agenda Paper 20A - Non-cash transactions.

3. IFRS Foundation (2026), Agenda Paper 20B - Approach to the statement of cash flows for financial institutions.

4. IFRS Foundation (2026), Agenda Paper 20 - Cover paper.

5. IFRS Foundation, IAS 7 Statement of Cash Flows, ifrs.org/issued-standards.

6. EFRAG (2024-2025), Discussion paper and feedback statement: The Statement of Cash Flows - Objectives, Usages and Issues.

7. UK Endorsement Board (2025), Statement of Cash Flows: UK User and Preparer Perspectives.

8. Springer Nature (2025), Consistency of Presentation and Disclosure of Cash Flow Statements.

9. IFRS Community, Statement of Cash Flows (IAS 7) - Knowledge base, ifrscommunity.com.

Lê Anh Dũng *, Ngô Tuấn Tài **
* NHNN, ** Bộ Tài chính

Tin bài khác

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Xem thêm
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng

Trong bối cảnh nhu cầu tín dụng gia tăng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng ngày càng cao, những bất cập của pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản đang đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên, hạn chế rủi ro tín dụng và nâng cao hiệu quả tiếp cận vốn.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại