Tác động của chỉ số tiền gửi không kỳ hạn đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tóm tắt: Bài viết thực hiện mục tiêu nghiên cứu về tác động của chỉ số CASA đến hiệu quả hoạt động của 24 ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong giai đoạn 2014 - 2024. Thông qua phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất thông thường (OLS), mô hình ảnh hưởng cố định (FEM), mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM), mô hình sai số chuẩn mạnh (ROBUST) và nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập từ báo cáo tài chính của các NHTM, kết quả chỉ ra rằng, chỉ số CASA có tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động của NHTM. Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đưa ra một số hàm ý chính sách cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cũng như các NHTM trong việc kiểm soát nguồn vốn huy động phi tiền gửi và ổn định tình hình hoạt động ngân hàng.
Từ khóa: Chỉ số tiền gửi không kỳ hạn, hiệu quả hoạt động, NHTM.
THE IMPACT OF THE CURRENT ACCOUNT SAVINGS ACCOUNT RATIO
ON THE PERFORMANCE OF COMMERCIAL BANKS IN VIETNAM
Abstract: This study aims to investigate the impact of current account savings account (CASA) ratio on the operational performance of 24 commercial banks in Vietnam during the period 2014 - 2024. Employing Ordinary Least Squares (OLS), Fixed Effects Model (FEM), Random Effects Model (REM), and Robust Standard Errors (ROBUST), along with secondary data collected from the banks’ financial statements, the results reveal that the CASA ratio exerts a positive and significant impact on bank performance within the scope of the study. Based on the findings, the authors provide policy implications for the State Bank of Vietnam as well as for commercial banks in managing non-term deposit mobilization and ensuring operational stability.
Keywords: Current account savings account ratio ratio, operational performance, commercial banks.
1. Tổng quan nghiên cứu
1.1. Nghiên cứu quốc tế
Dựa trên dữ liệu từ 27 NHTM niêm yết tại Sở Giao dịch Chứng khoán Indonesia trong giai đoạn 2017 - 2021, nghiên cứu của Radianto và Kohardinata (2022) cho thấy CASA có tác động tích cực đến tỉ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và có ý nghĩa thống kê đến tỉ số giá thị trường trên giá trị sổ sách của ngân hàng. Nghiên cứu của Janakiraman (2018) cũng có kết quả tương tự khi cho rằng, tăng trưởng CASA giúp cải thiện chi phí vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, từ đó cải thiện biên lãi ròng (NIM).
Bansal, Singh, Kumar và Gupta (2018) thực hiện nghiên cứu hai nhóm ngân hàng nhà nước và tư nhân tại Ấn Độ. Nghiên cứu cho thấy các nhân tố như tỉ lệ chi phí trên thu nhập (CIR) và tỉ lệ cho vay trên tiền gửi tác động tiêu cực đến NIM và tỉ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA). Tương tự, Rahman, Hamid và Khan (2015) sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính đa biến để quan sát 25 NHTM tại Bangladesh trong giai đoạn 2006 - 2013. Kết quả nhấn mạnh, hiệu quả chi phí và năng lực quản trị rủi ro đóng vai trò then chốt trong duy trì hiệu quả tài chính dài hạn, đồng thời nhấn mạnh ảnh hưởng của bối cảnh kinh tế vĩ mô đến hiệu suất hoạt động của ngân hàng.
Một nghiên cứu khác về ảnh hưởng của các yếu tố thuộc thị trường vốn như vốn hóa và thanh khoản giao dịch đến hiệu quả sinh lời của 13 NHTM tại Jordan giai đoạn 2009 - 2013 đã được Sayari và Shamki (2016) thực hiện. Kết quả cho thấy, khối lượng giao dịch chứng khoán có tác động tích cực đến cả ROA và ROE, trong khi vốn hóa ảnh hưởng tiêu cực đến ROE.
1.2. Nghiên cứu trong nước
Loan và cộng sự (2024) thực hiện nghiên cứu tác động của các nhân tố nội sinh đến hiệu quả hoạt động của 31 ngân hàng Việt Nam trong giai đoạn 2015 - 2021. Bằng phương pháp OLS, FEM, REM, nghiên cứu chỉ ra rằng, tăng trưởng CASA có đóng góp tích cực đến hiệu quả hoạt động của các ngân hàng.
Nghiên cứu của Thủy và Vân (2023) trên 18 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011 - 2021 đã góp phần củng cố thêm vai trò tích cực của CASA đối với hiệu quả tài chính. Diễn giải định lượng đã cho thấy các chính sách miễn phí tài khoản thanh toán - một chiến lược nhằm thúc đẩy sự gia tăng tỉ lệ CASA, có tác động hỗ trợ và rõ rệt đến ROA và ROE.
Tương tự, Nga và cộng sự (2022) đã thực hiện phân tích thực nghiệm liên quan đến hiệu quả hoạt động và hiệu quả tài chính của các NHTM tại Việt Nam, sử dụng dữ liệu từ 21 ngân hàng trong giai đoạn 2012 - 2021, đặc biệt trong bối cảnh chịu tác động sâu rộng từ đại dịch Covid-19. Kết quả cho thấy khả năng kiểm soát chi phí rủi ro tín dụng và mức độ bất định do đại dịch là những yếu tố có ảnh hưởng đáng kể đến ROA và ROE.
Nghiên cứu của Giang, Mạnh và Nguyệt (2023) đặt trọng tâm vào sự tương tác nội sinh giữa cấu trúc vốn và hiệu quả hoạt động ngân hàng. Sử dụng dữ liệu của 31 NHTM trong giai đoạn 2012 - 2021, nhóm tác giả đã chứng minh, các yếu tố như tỉ lệ vốn hóa, quy mô ngân hàng, tỉ lệ cho vay và xu thế tăng trưởng đóng góp tích cực vào diễn biến của các chỉ tiêu ROA và ROE.
2. Dữ liệu, phương pháp, mô hình và giả thuyết nghiên cứu
2.1. Dữ liệu nghiên cứu
Tác giả tiến hành thu thập dữ liệu từ các nguồn thông tin thứ cấp được công bố chính thức và có độ tin cậy cao. Các số liệu về ROA, CASA, CIR, quy mô ngân hàng (SIZE, dư nợ cho vay trên tổng vốn huy động (LDR), tỉ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (ETA), tỉ lệ nợ xấu (NPL), tăng trưởng GDP và lạm phát (đo lường qua chỉ số giá tiêu dùng - CPI) sử dụng trong nghiên cứu được lấy từ cơ sở dữ liệu hằng năm trong báo cáo tài chính của 24 NHTM Việt Nam và Ngân hàng Thế giới (World Bank).
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng trên cơ sở dữ liệu bảng với các mô hình hồi quy OLS, FEM, REM. Tuy nhiên mỗi mô hình tồn tại những hạn chế nhất định. Do đó, nghiên cứu thực hiện các kiểm định cần thiết (kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian Multiplier và kiểm định Hausman) để quyết định lựa chọn việc sử dụng mô hình hồi quy nào là phù hợp. Đồng thời, kiểm định Heteroskedasticity và Wooldridge được thực hiện để phát hiện hiện tượng phương sai không đồng nhất và tự tương quan trong dữ liệu bảng. Cuối cùng, tiến hành khắc phục những khuyết tật của mô hình.
2.3. Mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển trong nghiên cứu của Hidayat (2016); Bandyopadhyay (2022); Loan và cộng sự (2024); Belasri và cộng sự (2020); Jaouad và Lahsen (2018)... có sự điều chỉnh để phù hợp với tình hình thực tế tại các NHTM Việt Nam cũng như khả năng thu thập số liệu từ các nguồn đáng tin cậy. Mô hình đề xuất như sau:
ROAit = β0 + β1CASAit + β2CIRit + β3SIZEit + β4LDRit + β5ETAit + β6NPLit + β7GDPt + β8CPIt + Uit
Trong đó:
t đại diện cho năm nghiên cứu; i đại diện cho các NHTM được nghiên cứu;
β0 là hệ số chặn;
β1, β2, β3, β4, β5, β6, β7 là các hệ ước lượng của các biến độc lập trong mô hình;
Uit là sai số của mô hình.
2.4. Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết H1: CASA có tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM. Việc duy trì CASA cao giúp ngân hàng làm nhẹ gánh nặng chi phí huy động đầu vào, từ đó tối ưu hóa được hiệu quả cho ngân hàng. Do vậy hệ số β1 được kỳ vọng mang dấu dương (+).
Giả thuyết H2: CIR có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của NHTM. CIR càng thấp càng phản ánh rõ hiệu quả hoạt động của ngân hàng và ngược lại. Do vậy hệ số β2 được kỳ vọng mang dấu âm (-).
Giả thuyết H3: SIZE có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của NHTM. Các ngân hàng có quy mô lớn có thể khai thác lợi thế theo quy mô, qua đó giảm thiểu chi phí giao dịch, nâng cao hiệu quả huy động vốn và tối ưu chi phí vận hành. Do vậy hệ số β3 được kỳ vọng mang dấu dương (+).
Giả thuyết H4: LDR có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của NHTM. Khi NHTM đẩy mạnh cho vay trên cơ sở nguồn vốn huy động, họ có thể nâng cao biên lợi nhuận và mở rộng thị phần. Do vậy hệ số β4 được kỳ vọng mang dấu dương (+).
Giả thuyết H5: ETA có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của NHTM. Tỉ lệ ETA hợp lý giúp ngân hàng giảm phụ thuộc vào nguồn vốn vay, từ đó hạn chế rủi ro tài chính và chi phí lãi vay, thúc đẩy xu hướng gia tăng hiệu quả sinh lời. Do vậy hệ số β5 được kỳ vọng mang dấu dương (+).
Giả thuyết H6: NPL có tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của NHTM. NPL cao làm suy giảm hiệu quả hoạt động tổng thể của ngân hàng do phát sinh các chi phí dự phòng, chi phí xử lý nợ, và làm gia tăng rủi ro tín dụng. Do vậy hệ số β6 được kỳ vọng mang dấu âm (-).
Giả thuyết H7: Tăng trưởng GDP có tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM. Khi tăng trưởng GDP ở mức ổn định, môi trường kinh doanh thuận lợi, nhu cầu tín dụng của doanh nghiệp và cá nhân tăng lên, qua đó mở rộng dư địa cấp tín dụng cho ngân hàng. Do vậy hệ số β7 được kỳ vọng mang dấu dương (+).
Giả thuyết H8: CPI có tác động đến hiệu quả hoạt động của NHTM. Lạm phát trong vùng kiểm soát sẽ giúp tăng thu nhập từ lãi và dịch vụ cho NHTM, đồng thời giảm thiểu rủi ro nợ xấu nhờ năng lực trả nợ được đảm bảo. Do vậy hệ số β8 được kỳ vọng mang dấu dương (+).
3. Kết quả nghiên cứu
3.1. Kết quả hồi quy mô hình (Bảng 1)
Do mỗi mô hình hồi quy cho ra các kết quả khác nhau, vì vậy nghiên cứu đã tiến hành kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian Multiplier và kiểm định Hausman để lựa chọn mô hình phù hợp nhất giữa các mô hình OLS, REM, FEM. Kết quả từ hai kiểm định trên đã chứng minh rằng, cách tiếp cận bằng mô hình FEM là lựa chọn phù hợp nhất. Do đó trong phần tiếp theo, các kiểm định khuyết tật của mô hình sẽ được thực hiện với mô hình FEM.
![]() |
3.2. Kiểm định mô hình
Sau khi ước lượng mô hình hồi quy dữ liệu bảng, kết quả kiểm định cho thấy mô hình FEM là phù hợp nhất. Lần lượt kiểm định mô hình FEM với các kiểm định:
(1) Kiểm định đa cộng tuyến cho thấy hệ số phóng đại phương sai (VIF) của các biến độc lập nằm trong khoảng từ 1,05 đến 2,62 và giá trị trung bình của hệ số VIF = 1,63, do đó có thể kết luận mô hình không tồn tại hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng;
(2) Kiểm định phương sai sai số thay đổi bằng Modified Wald test cho thấy Prob > chi2 = 0,0000 < 0,05, khẳng định mô hình tồn tại hiện tượng phương sai sai số thay đổi;
(3) Kiểm định hiện tượng tự tương quan bằng phương pháp Wooldridge cho thấy Prob > F = 0,0047 < 0,05, hàm ý mô hình tồn tại hiện tượng tự tương quan bậc 1.
3.3. Khắc phục khuyết tật của mô hình
Để khắc phục các khuyết tật của mô hình, tác giả tiến hành hồi quy theo phương pháp bình phương tối thiểu tổng quát khả thi (FGLS) nhằm khắc phục các hiện tượng trên từ đó nâng cao tính hiệu quả của mô hình.
Kết quả từ Bảng 2 cho thấy, CIR, SIZE, LDR, ETA và NPL có ý nghĩa thống kê ở mức 5% với p-value < 0,05; trong khi đó, CASA, GDP và CPI chưa đạt ý nghĩa thống kê trong mô hình FGLS do có p-value lần lượt là 0,120; 0,126 và 0,232. Tuy nhiên, đối với CASA - biến độc lập trọng tâm của nghiên cứu - hệ số ước lượng vẫn mang dấu dương, cho thấy tỉ trọng tiền gửi không kỳ hạn vẫn có xu hướng tác động cùng chiều đến khả năng sinh lời của ngân hàng.
![]() |
Việc CASA không còn duy trì ý nghĩa thống kê trong mô hình FGLS hàm ý rằng, khi mô hình được hiệu chỉnh đồng thời các khuyết tật của dữ liệu bảng như phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và tương quan chéo, tác động riêng của CASA lên ROA chưa đủ mạnh để được khẳng định một cách chắc chắn về mặt thống kê. Dù vậy, xét trong tổng thể các kết quả ước lượng trước đó ở mô hình OLS, REM và FEM, CASA đều cho hệ số dương và có ý nghĩa thống kê, qua đó khẳng định CASA vẫn là một nhân tố có ý nghĩa kinh tế đối với hiệu quả hoạt động ngân hàng, dù mức độ tác động có thể chưa thực sự ổn định giữa các phương pháp ước lượng.
Từ kết quả ước lượng FGLS, hàm hồi quy của mô hình được xác định như sau:
ROA = -0,1492 + 0,0031CASA + 0,0086CIR + 0,0040SIZE + 0,0113LDR
+ 0,1156ETA - 0,0711NPL + 0,0127GDP + 0,0213CPI
3.4. Thảo luận kết quả
Kết quả nghiên cứu cho thấy hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2014 - 2024 chịu tác động chủ yếu bởi các nhân tố nội tại thuộc cấu trúc nguồn vốn, quy mô hoạt động, chất lượng tài sản và chiến lược phân bổ tín dụng. Trên cơ sở kiểm định lựa chọn mô hình, nghiên cứu xác định mô hình FEM là mô hình phù hợp nhất để phân tích tác động của các biến đến ROA; đồng thời, kết quả từ mô hình OLS và REM được sử dụng như kênh đối chiếu nhằm kiểm tra mức độ nhất quán về chiều tác động và ý nghĩa thống kê, còn FGLS được xem là bước hiệu chỉnh bổ sung để đánh giá độ bền của các ước lượng sau khi xử lý khuyết tật của dữ liệu bảng. Cách tiếp cận này cho phép việc thảo luận kết quả vừa bám sát mô hình được lựa chọn chính thức, vừa đảm bảo tính chặt chẽ về phương pháp.
Trước hết, đối với CASA, kết quả ước lượng cho thấy tác động cùng chiều đến ROA và có ý nghĩa thống kê trong cả ba mô hình OLS, REM và FEM, với hệ số lần lượt là 0,00880; 0,00495 và 0,00594. Đặc biệt, trong mô hình FEM - mô hình được lựa chọn sau kiểm định, CASA vẫn duy trì dấu dương và có ý nghĩa thống kê ở mức 5%, qua đó cung cấp bằng chứng đáng tin cậy cho giả thuyết gia tăng CASA góp phần cải thiện hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Kết quả này phản ánh đúng kỳ vọng: Khi CASA tăng, ngân hàng có thêm dư địa để phân bổ vốn vào các tài sản sinh lời mà không chịu áp lực lớn từ chi phí đầu vào, qua đó hỗ trợ ROA. Kết quả này cũng phù hợp với thực tiễn cạnh tranh hiện nay của ngành Ngân hàng Việt Nam, nơi việc phát triển CASA không còn chỉ là hoạt động huy động vốn đơn thuần mà gắn chặt với chiến lược ngân hàng số, hệ sinh thái thanh toán, tài khoản giao dịch, dịch vụ ngân hàng bán lẻ và mức độ gắn kết khách hàng.
Điểm cần nhấn mạnh là, mặc dù trong mô hình FGLS, CASA không còn duy trì ý nghĩa thống kê ở ngưỡng 5%, hệ số của biến này vẫn giữ dấu dương. Điều đó cho thấy FGLS không phủ định chiều tác động tích cực của CASA, mà chủ yếu phản ánh rằng, khi mô hình được hiệu chỉnh nghiêm ngặt hơn trước các vấn đề phương sai sai số thay đổi, tự tương quan và tương quan chéo, mức độ chắc chắn về mặt thống kê của tác động này suy giảm.
Nói cách khác, kết quả hồi quy FGLS không đủ cơ sở để bác bỏ vai trò của CASA; trái lại, khi đặt trong tổng thể các mô hình ước lượng, đặc biệt là mô hình FEM đã được lựa chọn chính thức, bằng chứng thực nghiệm vẫn ủng hộ nhận định rằng CASA là một nhân tố có ý nghĩa đối với hiệu quả hoạt động ngân hàng, dù cường độ tác động có thể nhạy cảm với cách xử lý sai số trong dữ liệu bảng. Vì vậy, xét trên cả khía cạnh phương pháp lẫn nội hàm kinh tế, giả thuyết H1 vẫn có cơ sở chấp nhận.
Đối với CIR, kết quả hồi quy cho thấy biến này có tác động cùng chiều đến ROA và duy trì ý nghĩa thống kê cao trong cả OLS, REM và FEM; riêng trong mô hình FEM, hệ số ước lượng đạt 0,00969 và có ý nghĩa ở mức 1%. Về hình thức, kết quả này đi ngược kỳ vọng rằng CIR cao phản ánh hiệu quả chi phí thấp và do đó phải làm giảm khả năng sinh lời.
Trong bối cảnh các ngân hàng Việt Nam đang đẩy mạnh chuyển đổi số, mở rộng hạ tầng công nghệ, nâng cấp Core banking, đầu tư dữ liệu, an ninh số..., CIR tăng lên trong ngắn hạn có thể phản ánh chi phí đầu tư chiến lược thay vì sự lãng phí vận hành thuần túy. Những khoản chi này có khả năng làm gia tăng chi phí hoạt động ở hiện tại nhưng lại tạo nền tảng cho mở rộng khách hàng, tăng CASA, nâng cao năng suất lao động, cải thiện quản trị rủi ro và mở rộng doanh thu dịch vụ trong trung, dài hạn. Do đó, tác động dương của CIR trong nghiên cứu này được hiểu như một biểu hiện của giai đoạn tái cấu trúc và đầu tư mạnh cho mô hình ngân hàng hiện đại, hơn là bằng chứng của sự suy giảm hiệu quả hoạt động lâu dài.
Biến SIZE cho thấy tác động dương tới hiệu quả hoạt động và có ý nghĩa thống kê mạnh trong cả ba mô hình; riêng FEM ghi nhận hệ số 0,00680 ở mức ý nghĩa 1%. Kết quả này khẳng định lợi thế quy mô là một trong những nền tảng quan trọng nâng đỡ hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Các ngân hàng có quy mô lớn thường sở hữu cơ sở khách hàng rộng hơn, thương hiệu mạnh hơn, khả năng huy động vốn ổn định hơn và mức độ đa dạng hóa tài sản - nguồn vốn tốt hơn, từ đó giảm rủi ro tập trung và cải thiện hiệu quả sinh lời.
Đối với biến LDR, kết quả ước lượng nhất quán ở cả 3 mô hình OLS, REM và FEM đều cho thấy tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%; trong FEM, hệ số đạt 0,01021. Kết quả này cho thấy việc ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động để mở rộng tín dụng hiệu quả có thể góp phần cải thiện ROA.
Trong cấu trúc lợi nhuận của các NHTM Việt Nam, tín dụng vẫn là trụ cột tạo thu nhập chủ yếu; do đó, khi LDR tăng trong giới hạn an toàn, ngân hàng có thể nâng cao khả năng khai thác nguồn vốn huy động, mở rộng tài sản sinh lời và cải thiện biên lợi nhuận. Tuy nhiên, kết quả này không nên được diễn giải theo hướng khuyến khích tăng LDR bằng mọi giá. Tác động tích cực của LDR chỉ bền vững khi đi kèm với chất lượng tín dụng được kiểm soát, khả năng thẩm định và giám sát sau cho vay hiệu quả, cũng như cơ cấu kỳ hạn vốn hợp lý. Nếu tín dụng tăng nhanh nhưng chất lượng tài sản suy giảm, lợi ích ngắn hạn từ mở rộng cho vay có thể nhanh chóng bị bào mòn bởi nợ xấu và chi phí dự phòng trong tương lai.
Biến ETA là một trong những nhân tố có tác động mạnh nhất đến ROA. Kết quả ở cả ba mô hình đều cho hệ số dương và có ý nghĩa thống kê rất cao; trong FEM, hệ số đạt 0,04901, còn trong OLS và REM lần lượt là 0,09408 và 0,07353. Điều này cho thấy nền tảng vốn chủ sở hữu có vai trò đặc biệt quan trọng đối với hiệu quả hoạt động của ngân hàng. ETA giúp ngân hàng tăng khả năng chống chịu trước các cú sốc thanh khoản và tín dụng, giảm phụ thuộc vào nguồn vốn vay có chi phí cao, đồng thời tạo dư địa lớn hơn cho đầu tư công nghệ, mở rộng hoạt động và xử lý rủi ro.
Trong điều kiện hệ thống ngân hàng Việt Nam đang hướng đến tuân thủ chặt chẽ các quy định của Basel, đồng thời phải đối mặt với những biến động về chu kỳ tín dụng và rủi ro thị trường, một cấu trúc vốn lành mạnh không chỉ mang ý nghĩa an toàn mà còn là điều kiện để duy trì hiệu quả sinh lời dài hạn. Kết quả này cho thấy hiệu quả hoạt động ngân hàng không thể tách rời khỏi năng lực vốn hóa và sức mạnh tài chính nội tại.
Ngược lại, biến NPL có tác động âm và có ý nghĩa thống kê rất mạnh trong toàn bộ các mô hình; riêng mô hình FEM ghi nhận hệ số -0,08256 ở mức ý nghĩa 1%. Đây là một trong những kết quả rõ ràng và nhất quán nhất của nghiên cứu. NPL tăng sẽ giảm ROA khi buộc ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng, thu hẹp thu nhập lãi thực nhận, làm chậm vòng quay vốn và gia tăng áp lực thanh khoản.
Trong bối cảnh thị trường tín dụng Việt Nam chịu ảnh hưởng bởi biến động bất động sản, sức khỏe tài chính yếu của một bộ phận doanh nghiệp và dư âm của giai đoạn hậu dịch bệnh, NPL không chỉ là biến phản ánh rủi ro tín dụng mà còn là chỉ báo trực tiếp về chất lượng tăng trưởng của ngân hàng. Kết quả này củng cố quan điểm rằng kiểm soát nợ xấu phải được xem là điều kiện cốt lõi để bảo vệ hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Đối với các biến vĩ mô, GDP không có ý nghĩa thống kê trong cả OLS, REM và FEM, cho thấy tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn nghiên cứu chưa tạo ra tác động trực tiếp và rõ ràng đến ROA của các ngân hàng trong mẫu nghiên cứu. Kết quả này hàm ý rằng ảnh hưởng của tăng trưởng kinh tế đến hiệu quả hoạt động ngân hàng có thể không đi theo kênh trực tiếp, mà được truyền dẫn thông qua nhu cầu tín dụng, chất lượng tài sản, khả năng trả nợ của khách hàng và mức độ mở rộng đầu tư của khu vực doanh nghiệp.
Trong khi đó, CPI cho kết quả dương và có ý nghĩa thống kê ở OLS và REM nhưng không còn ý nghĩa trong FEM. Điều này cho thấy tác động của lạm phát đến ROA khác biệt giữa các ngân hàng.
Từ các kết quả trên có thể rút ra ba luận điểm sau:
Thứ nhất, hiệu quả hoạt động của NHTM Việt Nam phụ thuộc chủ yếu vào các yếu tố nội tại, trong đó nổi bật là cấu trúc nguồn vốn, năng lực vốn hóa, quy mô, chất lượng tín dụng và hiệu quả phân bổ nguồn vốn huy động vào tín dụng.
Thứ hai, CASA là biến có ý nghĩa thực nghiệm đáng chú ý và có cơ sở để khẳng định tác động tích cực đến ROA, bởi dấu tác động dương và ý nghĩa thống kê được duy trì nhất quán ở OLS, REM và đặc biệt là FEM - mô hình được lựa chọn chính thức của nghiên cứu. Việc CASA không còn ý nghĩa trong FGLS nên được hiểu như một tín hiệu về độ nhạy của hệ số dưới các cấu trúc sai số khác nhau, chứ không đủ để phủ định vai trò kinh tế của biến này.
Thứ ba, nghiên cứu cho thấy việc nâng cao hiệu quả hoạt động ngân hàng không thể chỉ dựa vào mở rộng quy mô huy động hay tín dụng một cách cơ học, mà đòi hỏi một cấu trúc quản trị đồng bộ, trong đó tăng trưởng CASA phải gắn với chuyển đổi số, mở rộng hệ sinh thái thanh toán, nâng cao chất lượng tín dụng, củng cố vốn chủ sở hữu và kiểm soát rủi ro một cách chủ động. Đây cũng chính là cơ sở để đề xuất các hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy tăng trưởng CASA và bảo đảm hiệu quả hoạt động ngân hàng.
4. Kết luận và hàm ý chính sách
4.1. Kết luận
Kết quả nghiên cứu cho thấy CASA có tác động tích cực và mạnh mẽ đến ROA của các NHTM. Kết quả này phản ánh đúng bản chất kinh tế của CASA: Đây là nguồn vốn có chi phí thấp, tương đối ổn định và có khả năng giúp ngân hàng giảm chi phí huy động bình quân, mở rộng biên lãi ròng và cải thiện hiệu quả sử dụng tài sản của NHTM. Bên cạnh đó, ETA, LDR, CPI cũng có sự tác động cùng chiều và khá mạnh đến ROA; trong khi NPL lại có tác động ngược chiều. CIR và SIZE tuy có tác động cùng chiều đến ROA nhưng với mức độ tác động khá yếu. Ngoài ra, kết quả từ mô hình còn cho thấy mức độ tác động của GDP không có ý nghĩa thống kê đến ROA. Kết quả nghiên cứu nói trên khá tương đồng với kết quả nghiên cứu trong và ngoài nước đã công bố.
Tổng thể, các kết quả thu được củng cố lập luận rằng, việc điều phối hiệu quả các biến số liên quan đến huy động vốn, kiểm soát chất lượng tín dụng, quy mô tổ chức và định hướng phân bổ tín dụng là những thành tố có tính quyết định đối với hiệu quả hoạt động của các NHTM. Trong phạm vi đó, duy trì mức CASA ở ngưỡng cao và triển khai kiểm soát nợ xấu một cách nhất quán được xem là hai cấu phần có trọng số lớn trong chiến lược ổn định hóa hiệu quả dài hạn của ngân hàng.
4.2. Hàm ý chính sách
4.2.1. Đối với Chính phủ
Thứ nhất, duy trì ổn định môi trường kinh tế - chính trị - xã hội. Hiệu quả vận hành của NHTM chịu ảnh hưởng lớn từ sự ổn định vĩ mô. Khi kinh tế tăng trưởng ổn định và ít biến động, ngân hàng có điều kiện thuận lợi để kiểm soát rủi ro và nâng cao hiệu quả. Ngược lại, trong bối cảnh nền kinh tế còn chịu tác động từ các cuộc khủng hoảng toàn cầu, cần có cơ chế phối hợp chính sách chặt chẽ giữa trung ương và các cơ quan thực thi. Điều này giúp kịp thời xử lý các yếu tố gây bất ổn vĩ mô ngay từ giai đoạn đầu; đồng thời, việc tăng cường kiểm soát cán cân thanh toán, hạn chế nhập siêu và siết chặt bội chi ngân sách sẽ góp phần củng cố niềm tin thị trường.
Thứ hai, hoàn thiện môi trường pháp lý theo hướng đồng bộ, minh bạch và ổn định để bảo đảm an toàn hệ thống và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế. Trong đó, cơ chế xử lý tài sản bảo đảm cần tiếp tục được củng cố trên nguyên tắc thống nhất và chuẩn hóa nhằm khắc phục những bất cập trong thực tiễn, tạo cơ sở pháp lý ổn định và lâu dài cho xử lý nợ xấu. Bên cạnh đó, trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, việc hoàn thiện các quy định pháp lý rõ ràng, phù hợp với thực tiễn sẽ góp phần định hướng đổi mới sáng tạo, thúc đẩy phát triển ngân hàng số và bảo đảm sự phát triển bền vững của hệ thống ngân hàng.
Thứ ba, tăng cường minh bạch thông tin. Ở cấp độ nhà nước, việc công bố rõ ràng nội dung, lộ trình và tác động chính sách sẽ giúp các tổ chức tài chính và doanh nghiệp chủ động xây dựng kế hoạch, điều chỉnh hoạt động để thích ứng với sự thay đổi của môi trường chính sách. Ở phía doanh nghiệp, Chính phủ cần mở rộng quy định về phạm vi công bố thông tin. Nội dung công bố không chỉ dừng ở báo cáo tài chính mà còn bao gồm cơ cấu tổ chức, cơ chế quản trị và kiểm soát rủi ro. Đặc biệt, với lĩnh vực bất động sản - nơi chứa đựng nhiều rủi ro tín dụng tiềm ẩn - cần thiết lập cơ sở dữ liệu thống nhất về tài sản bảo đảm, đồng thời xây dựng các sàn giao dịch hoạt động minh bạch như thị trường chứng khoán nhằm hỗ trợ định giá sát thực tế và nâng cao khả năng xử lý tài sản.
Thứ tư, phát triển thị trường mua bán nợ xấu. Đây là một cấu phần quan trọng trong hệ sinh thái xử lý tài sản không sinh lợi, giúp cải thiện bảng cân đối kế toán và tăng khả năng lành mạnh hóa tài chính cho các ngân hàng. Để thị trường này vận hành hiệu quả, cần xác lập khung pháp lý rõ ràng, qua đó định hướng phạm vi và phương thức hoạt động minh bạch.
Đồng thời, việc khuyến khích sự tham gia của các tổ chức trung gian như nhà môi giới và tư vấn chuyên nghiệp sẽ giúp tăng tính chuyên môn hóa. Thêm vào đó, cần chuẩn hóa dữ liệu khoản nợ và mở rộng quyền truy cập thông tin cho các bên liên quan nhằm đảm bảo việc ra quyết định được chính xác hơn. Cuối cùng, việc hình thành sàn giao dịch chuyên biệt cho nợ xấu sẽ giúp tăng tính thanh khoản, minh bạch và thu hút nhà đầu tư trong và ngoài nước.
4.2.2. Đối với NHNN
Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý và khung khuyến khích nhằm thúc đẩy CASA trên toàn hệ thống. CASA có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động ngân hàng, nhất là trong bối cảnh chi phí vốn ảnh hưởng đến ROA. Vì vậy, NHNN nên ban hành hướng dẫn chuẩn hóa tài khoản thanh toán cơ bản, khuyến khích thanh toán trực tuyến thay cho tiền mặt, đồng thời tạo điều kiện cho liên kết giữa ngân hàng với công ty công nghệ tài chính (Fintech), ví điện tử. Bên cạnh đó, cần tăng cường phối hợp liên ngành để thúc đẩy thanh toán số trong dịch vụ công, góp phần hình thành dòng tiền không kỳ hạn ổn định.
Thứ hai, đẩy mạnh chuyển đổi số ngân hàng thông qua vai trò điều phối chiến lược và phát triển hạ tầng dùng chung. Việc đầu tư riêng lẻ gây phân mảnh và kém hiệu quả, do đó NHNN cần tiếp tục kiến tạo nền tảng số như định danh điện tử khách hàng (eKYC), hệ thống xác thực, chia sẻ dữ liệu và cơ chế thử nghiệm chính sách. Ngoài ra, cần chuẩn hóa tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo mật và kết nối giữa ngân hàng với bên thứ ba, qua đó nâng cao khả năng phân tích, ra quyết định dựa trên dữ liệu lớn.
Thứ ba, đổi mới công tác giám sát theo hướng chủ động và dựa trên hiệu quả.NHNN cần áp dụng hệ thống cảnh báo sớm dựa trên dữ liệu thời gian thực và chỉ số hoạt động như CIR, ROA, CASA, NPL... Xây dựng bộ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đa chiều, bao gồm mức độ đầu tư công nghệ, kiểm soát rủi ro và mức độ hài lòng của khách hàng, nhằm hỗ trợ điều hành chính sách kịp thời và định hướng dài hạn.
Thứ tư, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ ổn định và linh hoạt để tạo nền tảng vĩ mô thuận lợi; kiểm soát lạm phát, phối hợp chính sách tiền tệ với chi tiêu công để hỗ trợ dòng vốn vào khu vực ưu tiên. Việc giữ ổn định tỉ giá, điều tiết kỳ vọng lạm phát và duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý sẽ giúp ngân hàng củng cố cấu trúc tài chính, cải thiện biên lợi nhuận và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.
4.2.3. Đối với các NHTM
Thứ nhất, đẩy mạnh tăng trưởng CASA một cách bền vững thông qua phát triển hệ sinh thái tài chính số toàn diện. Ngân hàng nên đẩy mạnh các sản phẩm tài khoản tiện ích, mở rộng ngân hàng điện tử, ví số và hợp tác với Fintech. Tiếp tục đẩy mạnh hoạt động truyền thông hiệu quả để thay đổi thói quen gửi tiền có kỳ hạn sang tài khoản thanh toán. Tăng CASA không chỉ giúp giảm chi phí vốn mà còn mở rộng cơ hội cung ứng sản phẩm tài chính số. Đây là nền tảng cho chiến lược đa dạng hóa nguồn thu và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Thứ hai, đầu tư có chiến lược vào công nghệ và chuyển đổi số. Việc nâng cấp hệ thống lõi, ứng dụng AI và dữ liệu lớn (Big Data) trong phân tích hành vi sẽ giúp tự động hóa quy trình, giảm thiểu sai sót và chi phí vận hành. Mặc dù chi phí ban đầu có thể làm tăng CIR, nhưng về trung hạn, đây là khoản đầu tư thiết yếu cho hiệu quả tổng thể. Bên cạnh đó, công nghệ còn mở rộng năng lực cá nhân hóa dịch vụ và nâng cao tốc độ phục vụ, qua đó cải thiện hiệu quả hoạt động của tổ chức.
Thứ ba, phát huy lợi thế quy mô để mở rộng vị thế dẫn dắt thị trường. Khai thác cơ sở dữ liệu khách hàng cho phép phát triển các giải pháp tài chính tích hợp, hướng tới tài chính toàn diện. Ngoài ra, cần chủ động thu hút nguồn vốn quốc tế thông qua nâng cao minh bạch tài chính, xếp hạng tín nhiệm và hợp tác chiến lược. Việc đa dạng hóa nguồn lực sẽ giúp giảm gánh nặng chi phí và mở rộng khả năng vận hành tài sản. Đây là bước đi cần thiết nhằm nâng cao năng lực thích ứng thị trường.
Thứ tư, kiểm soát chất lượng tín dụng cần được coi là ưu tiên hàng đầu nhằm bảo đảm tăng trưởng bền vững. Theo đó, các ngân hàng cần tiếp tục hoàn thiện quy trình thẩm định, tăng cường giám sát rủi ro và ứng dụng công nghệ trong chấm điểm tín dụng cũng như theo dõi sau giải ngân. Việc mở rộng tín dụng phải gắn với kiểm soát chặt chẽ chất lượng danh mục cho vay, kết hợp phát triển các sản phẩm tích hợp như bảo hiểm và tài trợ thương mại để nâng cao hiệu quả hoạt động. Qua đó, ngân hàng có thể cân bằng giữa mục tiêu tăng trưởng và an toàn hệ thống.
Thứ năm, xây dựng chiến lược tăng vốn điều lệ phù hợp với năng lực tài chính và định hướng phát triển dài hạn. Việc lựa chọn các hình thức tăng vốn, như giữ lại lợi nhuận, phát hành cổ phiếu hoặc thu hút nhà đầu tư chiến lược, cần được thực hiện linh hoạt trên cơ sở nhu cầu vốn, khả năng huy động và mục tiêu phát triển của từng ngân hàng. Việc tăng vốn không chỉ giúp cải thiện chỉ số an toàn vốn mà còn mở rộng dư địa tài chính để đầu tư và ứng phó rủi ro. Đây cũng là yếu tố quan trọng để nâng cao uy tín thị trường và đáp ứng tiêu chuẩn Basel III. Một nền tảng vốn mạnh sẽ là bệ đỡ cho hiệu quả hoạt động dài hạn.
Thứ sáu, nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng. Theo đó, các ngân hàng cần chủ động xây dựng hệ thống cảnh báo sớm rủi ro trên nền dữ liệu cập nhật và mô hình phân tích phù hợp với bối cảnh nội địa. Bên cạnh đó, việc trích lập dự phòng cần bám sát rủi ro thực tế và tuân thủ chuẩn mực quốc tế. Ngân hàng nên tăng cường kết nối với Trung tâm Thông tin tín dụng Quốc gia Việt Nam để phát hiện sớm khách hàng tiềm ẩn rủi ro; nhờ đó, có thể kiểm soát tốt hơn nợ xấu và duy trì hiệu quả bền vững.
Tài liệu tham khảo:
1. Bandyopadhyay, Arindam (2022), Bank financial performance and its linkage with capital: A dynamic panel data analysis of public sector Banks in India. The Indian Economic Journal 70.3 (2022), pages 437-451.
2. Belasri, S., Gomes, M., & Pijourlet, G. (2020), Corporate social responsibility and bank efficiency. Journal of Multinational Financial Management, 54, 100612.
3. Berger, A. N., & Mester, L. J. (1997), Inside the black box: What explains differences in the efficiencies of financial institutions? Journal of banking & finance, 21(7),pages 895-947.
4. Hidayat, R. A. L. (2016), Pengaruh variabel rasio keuangan dan makroekonomi terhadap pemberian kredit sektor UMKM oleh perbankan di Indonesia. Jurnal Manajemen dan Pemasaran Jasa, 9(2), pages 253-268.
5. Hương Giang, V. T., Mạnh, N. H., & Nguyệt, N. T. M. (2023), Tác động của cấu trúc vốn đến hiệu quả hoạt động của các NHTM Việt Nam. Tạp chí Kinh tế và Ngân hàng châu Á, số 202 + 203, tháng 01 + 02/2023.
6. Janakiraman, B., (2018), Impact of Casa Deposit Growth on the Profitability of Banks-Study of Syndicate Bank. Asian Journal of Management, 9(2), pages 978-982.
7. Jaouad, E., & Lahsen, O. (2018), Factors affecting bank performance: Empirical evidence from Morocco. European Scientific Journal, 14(34), pages 255-267.
8. Loan, B. T. T., Anh, L. P., Mai, D. P., Thuy, N. C., & Ngoc, T. T. K. (2024), The relationship between CASA ratio and performance of the commercial banks in Vietnam. In International Conference on Research in Management & Technovation (pages 603-614). Singapore: Springer Nature Singapore. DOI: 10.1007/978-981-99-8472-5_54.
9. Nga, P. T. H., Tiến, P. M., Thư, N. T. A., Nhi, T. T., Xuân, T. N., Quỳnh, T. N. N., & Anh, P. T. L. (2022), Tác động của covid 19 đến hiệu quả kinh doanh của các NHTM Việt Nam. Tạp chí Nghiên cứu Tài chính - Marketing.
10. Radianto, W. E. D., & Kohardinata, C. (2022), Determinant effect of CASA and NPM on market ratio of banks listed in IDX. Business and Finance Journal, 7(2), pages 217-237.
11. Rahman, M. M., Hamid, M. K., & Khan, M. A. M. (2015), Determinants of bank profitability: Empirical evidence from Bangladesh. International journal of business and management, 10(8), 135.
12. Sayari, K., & Shamki, D. (2016), Commercial banks profitability and stock market developments. Journal of Applied Finance and Banking, 6(4), 43.
13. Thủy, P. T., & Vân, N. H. (2023), Tác động của miễn phí tài khoản thanh toán đến kết quả hoạt động của các NHTM Việt Nam. Tạp chí Khoa học & Đào tạo Ngân hàng. Số 256, tháng 9/2023.
Tin bài khác
Rủi ro tín dụng trong dữ liệu bảng tại các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận FEM với sai số chuẩn Driscoll-Kraay, GMM và dự báo Monte-Carlo
Tác động của truyền miệng điện tử đến ý định mua chéo sản phẩm, dịch vụ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam
Đánh giá rủi ro tín dụng và hiệu quả khoản vay trong mô hình cho vay ngang hàng tại Việt Nam: Bằng chứng định lượng từ bộ dữ liệu khoản vay thử nghiệm
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng
Hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu và nghịch lý tiếp cận tài chính của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam
Ảnh hưởng yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận phương pháp DEA-Bootstrap
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng
Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cầm cố, thế chấp tài sản trong hoạt động tín dụng
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

