Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Hoạt động ngân hàng
Bài viết phân tích vai trò của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, trên cơ sở đánh giá thực trạng, khung pháp lý và những hạn chế hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường huy động và phân bổ vốn cho mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
aa

Tóm tắt: Biến đổi khí hậu đang trở thành thách thức nghiêm trọng đối với sự phát triển bền vững của các nền kinh tế, trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh này, các NHTM đóng vai trò then chốt trong việc huy động và phân bổ nguồn vốn cho các hoạt động giảm nhẹ và thích ứng với biến đổi khí hậu. Bài viết phân tích thực trạng biến đổi khí hậu tại Việt Nam và khung pháp lý liên quan, đánh giá vai trò của các NHTM trong triển khai tín dụng xanh, chỉ ra những hạn chế trong thực tế và đề xuất các khuyến nghị nhằm tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.

Từ khóa: Biến đổi khí hậu, NHTM, tín dụng xanh, tài chính xanh, phát triển bền vững.

ENHANCING THE ROLE OF COMMERCIAL BANKS
IN RESPONDING TO CLIMATE CHANGE IN VIETNAM

Abstract: Climate change has emerged as a critical challenge to the sustainable development of economies worldwide, including Vietnam. Within this context, commercial banks play a pivotal role in mobilizing and allocating capital for climate change mitigation and adaptation activities. This article analyzes the current state of climate change in Vietnam and its associated legal framework, assesses the role of commercial banks in implementing green credit, identifies practical limitations, and proposes recommendations to strengthen the role of commercial banks in responding to climate change in Vietnam, contributing to the country's net-zero emissions target by 2050.

Keywords: Climate change, commercial banks, green credit, green finance, sustainable development.

1. Đặt vấn đề

Biến đổi khí hậu đang trở thành một trong những rủi ro hệ thống lớn nhất đối với khu vực tài chính - ngân hàng toàn cầu, đặc biệt tại các quốc gia dễ bị tổn thương như Việt Nam. Cam kết đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050 mà Việt Nam đưa ra tại Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (COP26) đòi hỏi sự huy động đồng bộ nguồn lực từ cả khu vực công và tư nhân, trong đó hệ thống NHTM giữ vai trò trung tâm với chức năng là kênh dẫn vốn chủ đạo của nền kinh tế. Mặc dù đã đạt nhiều kết quả tích cực trong gần một thập kỷ qua, các NHTM Việt Nam vẫn đối mặt với không ít hạn chế mang tính cấu trúc. Trong bối cảnh đó, việc nhận diện vai trò, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tăng cường vai trò của NHTM trong ứng phó với biến đổi khí hậu có ý nghĩa cấp thiết cả về lý luận và thực tiễn.

2. Tổng quan về biến đổi khí hậu

Theo Liên hợp quốc (2024), biến đổi khí hậu được hiểu là những thay đổi dài hạn về hình thái thời tiết và nhiệt độ, có nguồn gốc từ cả các yếu tố tự nhiên và hoạt động của con người. Từ thế kỷ XIX, các hoạt động sản xuất và tiêu dùng của con người - đặc biệt là đốt nhiên liệu hóa thạch, phá rừng và mở rộng nông nghiệp công nghiệp - đã trở thành nguyên nhân chủ yếu làm gia tăng phát thải khí nhà kính và thúc đẩy quá trình nóng lên toàn cầu (Oreskes, 2004; Doran và Zimmerman, 2009). Những tác động của biến đổi khí hậu đến an ninh lương thực, việc làm, sức khỏe và di cư dân cư là không cân xứng, với các nhóm dễ bị tổn thương và các quốc gia đang phát triển chịu thiệt hại nặng nề hơn.

Theo Climate Action Tracker (2025), tính đến tháng 10/2025, khoảng 145 quốc gia đã công bố hoặc đang xem xét mục tiêu phát thải ròng bằng "0" (Net-Zero), chiếm gần 77% tổng lượng phát thải toàn cầu. Tuy nhiên, còn khoảng 27% quốc gia chưa đưa ra bất kỳ cam kết nào. Việt Nam là một trong những quốc gia đang phát triển thể hiện cam kết mạnh mẽ khi tại COP26 đã công bố mục tiêu đạt Net-Zero vào năm 2050.

Theo bảng Chỉ số Hiệu quả biến đổi khí hậu (CCPI) năm 2026, Việt Nam xếp hạng 24, giảm 3 bậc so với năm trước nhưng vẫn duy trì nhóm hiệu quả trung bình và đạt điểm cao ở hạng mục chính sách khí hậu nhờ cam kết Net-Zero. Trong khu vực ASEAN, Việt Nam chỉ xếp sau Philippines (hạng 19). Đáng chú ý, báo cáo CCPI 2026 cho thấy không có quốc gia nào đạt kết quả đủ mạnh để giành ba vị trí dẫn đầu, và nhiều quốc gia phát triển vẫn nằm ở nhóm cuối bảng xếp hạng. (Hình 1)

Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Nguồn: ccpi.org/ranking
Nguồn: ccpi.org/ranking

3. Khung pháp lý về thích ứng với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Tại Việt Nam, khung pháp lý và các chương trình tín dụng xanh tại NHTM đang từng bước hoàn thiện, góp phần nâng cao hiệu quả ứng phó với biến đổi khí hậu. Việt Nam là một trong những quốc gia sớm tham gia các cam kết quốc tế về biến đổi khí hậu, bao gồm Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu (UNFCCC, 1994), Nghị định thư Kyoto (2002) và Thỏa thuận Paris (2016). Đặc biệt, tại COP26 (2021), Việt Nam cam kết đạt Net-Zero vào năm 2050. Tiếp đó, tại COP28 (2023), Việt Nam cùng Nhóm các đối tác quốc tế (IPG) công bố Kế hoạch huy động nguồn lực triển khai Tuyên bố chính trị về Quan hệ đối tác chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP). Bên cạnh đó, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) và Hiệp định Thương mại Tự do giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA) cũng đặt ra yêu cầu thực thi các cam kết về bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu.

Trên cơ sở các cam kết quốc tế, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành các văn bản quan trọng như: Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050; Quyết định số 888/QĐ-TTg ngày 25/7/2022 phê duyệt Đề án về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả COP26; Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050; Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh. Văn bản này xác định rõ các lĩnh vực ưu tiên (năng lượng tái tạo, giao thông xanh, xây dựng bền vững, nông nghiệp thân thiện môi trường), tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho tài chính xanh. Mục tiêu được đặt ra là giảm phát thải khí nhà kính 8% giai đoạn 2020 - 2030, và có thể đạt 25% nếu nhận được hỗ trợ quốc tế. Trước đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030 đã lồng ghép mục tiêu gia tăng tỉ trọng tín dụng xanh trong tổng dư nợ toàn hệ thống.

Song song với định hướng của Chính phủ, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành nhiều văn bản nhằm thúc đẩy hoạt động ngân hàng xanh và theo hướng bền vững, cụ thể: Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng; Quyết định số 1552/QĐ-NHNN ngày 06/8/2015 ban hành Kế hoạch hành động ngành Ngân hàng thực hiện triển khai Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020; Quyết định số 813/QĐ-NHNN ngày 24/4/2017 về chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết 30/NQ-CP ngày 07/3/2017 của Chính phủ. Tiếp đó, năm 2018, theo Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 07/8/2018 Thống đốc NHNN phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam, đánh dấu bước chuyển quan trọng trong định hướng phát triển tài chính xanh. Đặc biệt, Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài - là văn bản bắt buộc các tổ chức tín dụng thực hiện quản lý rủi ro môi trường trong hoạt động cấp tín dụng, yêu cầu đánh giá rủi ro môi trường trong thẩm định các dự án đầu tư.

Ngày 21/5/2025, NHNN tiếp tục phối hợp với IFC và Tổ chức Hợp tác phát triển Đức (GIZ) công bố Sổ tay Hệ thống quản lý rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng, qua đó hỗ trợ các tổ chức tín dụng xây dựng quy trình quản lý rủi ro phù hợp với đặc thù từng tổ chức và khoản vay, đồng thời đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. Bên cạnh đó, các chính sách thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân cũng được lồng ghép với mục tiêu phát triển xanh. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân đã quy định cơ chế hỗ trợ lãi suất khoảng 2%/năm từ ngân sách nhà nước đối với các dự án xanh, kinh tế tuần hoàn và theo tiêu chuẩn ESG.

4. Thực trạng vai trò của NHTM trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Là trung gian tài chính chủ chốt của nền kinh tế, NHTM giữ vị trí quan trọng trong việc "xanh hóa" dòng vốn đầu tư và thúc đẩy các mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt trong bối cảnh ứng phó với biến đổi khí hậu. Các vai trò của NHTM Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu được thể hiện như sau:

Thứ nhất, NHTM giữ vai trò huy động và phân bổ vốn cho các dự án thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu. Thông qua kế hoạch và chương trình do NHNN ban hành, các NHTM đã xây dựng nhiều giải pháp cụ thể nhằm thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh. Những giải pháp này bao gồm việc tổ chức các khóa đào tạo, hội thảo, tọa đàm nhằm nâng cao năng lực cho các tổ chức tín dụng, đồng thời hướng dẫn xây dựng và triển khai hoạt động tín dụng xanh cũng như quản lý rủi ro môi trường và xã hội. Nhờ đó, đối tượng hướng đến của các gói tín dụng xanh ngày càng được mở rộng, bao gồm khách hàng doanh nghiệp và cá nhân tham gia vào các dự án có yếu tố “xanh”. Từ thời điểm ban đầu chỉ có 15 tổ chức tín dụng báo cáo dư nợ xanh (năm 2017), đến cuối năm 2025 đã có 78 tổ chức tín dụng, với dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng đều qua các năm (NHNN, 2025; Báo Chính phủ, 2026). Thị trường tín dụng xanh đã tăng trưởng mạnh mẽ và trở thành kênh tài trợ chủ yếu cho các dự án đầu tư xanh trong những năm gần đây. (Hình 2)

Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Dư nợ tín dụng xanh của Việt Nam tăng rất nhanh về quy mô trong giai đoạn 2017 - 2025, từ 180,1 nghìn tỉ đồng năm 2017 (chiếm 1,5% tổng dư nợ của nền kinh tế) lên 780 nghìn tỉ đồng năm 2025 (chiếm khoảng 4,19% tổng dư nợ toàn nền kinh tế), tức tăng thêm gần 4,3 lần sau 8 năm. Điều này phản ánh xu hướng mở rộng rõ rệt của dòng vốn tín dụng hướng vào các lĩnh vực xanh và bền vững. Tuy vậy, tỉ trọng dư nợ tín dụng xanh trong tổng dư nợ, xu hướng chung là tăng nhưng chưa thực sự ổn định, tăng từ 1,5%/năm 2017 lên 4,50% năm 2023, rồi giảm nhẹ về 4,19% năm 2025. Điều đó cho thấy, mặc dù tín dụng xanh ngày càng hiện diện rõ hơn trong cơ cấu tín dụng toàn hệ thống, nhưng trong nhiều năm vẫn chiếm tỉ lệ tương đối khiêm tốn so với tổng dư nợ.

Thứ hai, các NHTM chủ động quản lý rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng. 100% các NHTM tại Việt Nam đã xây dựng và thực thi quy định nội bộ nhằm đánh giá rủi ro môi trường trong quá trình cấp tín dụng vào cuối năm 2024, so với con số chưa đến 10% NHTM năm 2017. Hệ thống này đã trở thành tiêu chuẩn bắt buộc và phổ biến rộng rãi, góp phần thúc đẩy tín dụng xanh phát triển bền vững, đồng thời giảm thiểu các rủi ro tài chính và phi tài chính liên quan đến yếu tố môi trường (NHNN, 2025b). Đến nay, dư nợ và số món vay được các tổ chức tín dụng đánh giá rủi ro môi trường - xã hội cao gấp hơn 17 lần so với 2017, cho thấy công tác lồng ghép đánh giá rủi ro môi trường - xã hội đối với hoạt động cấp tín dụng tiếp tục được mở rộng trong hệ thống ngân hàng (Báo Chính phủ, 2026).

Thứ ba, cơ cấu tín dụng xanh phản ánh định hướng ứng phó biến đổi khí hậu rõ rệt. Dư nợ tín dụng xanh tập trung chủ yếu vào các ngành năng lượng tái tạo (22%), nông nghiệp xanh (33%), công trình xanh và giao thông vận tải xanh (Báo Chính phủ, 2026). Đây đều là những lĩnh vực trọng yếu trong Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030. Các tổ chức tín dụng cũng tích cực hợp tác với tổ chức quốc tế triển khai nhiều chương trình, dự án xanh trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, xử lý rác thải, nông nghiệp..., qua đó đạt những kết quả tích cực.

Thứ tư, NHTM đóng vai trò quan trọng trong phát hành trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững, huy động nguồn vốn quốc tế. Giai đoạn từ năm 2019 đến 6 tháng đầu năm 2024, Việt Nam đã phát hành khoảng 1,16 tỉ USD trái phiếu xanh, trong đó Công ty Tổng hợp cổ phần Tài chính Điện lực (EVNFinance) phát hành 1.725 tỉ đồng vào năm 2022 và NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) phát hành 2.500 tỉ đồng năm 2023. Năm 2024, BIDV tiếp tục phát hành 3.000 tỉ đồng trái phiếu bền vững, nâng tổng giá trị chào bán thành công trái phiếu xanh và trái phiếu bền vững của ngân hàng này lên 5.500 tỉ đồng và là ngân hàng đầu tiên phát hành thành công trái phiếu xanh theo Nguyên tắc Trái phiếu xanh của Hiệp hội thị trường vốn quốc tế (ICMA) tại thị trường trong nước (BIDV, 2024; Tuấn Thủy, 2023). NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) phát hành tổng cộng 4.000 tỉ trái phiếu xanh trong 2 năm 2024 - 2025 (Vietcombank, 2024; Vietcombank, 2025). NHTM cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) phát hành 450 tỉ đồng trái phiếu xanh vào tháng 12/2024 (Techcombank, 2025), trong khi NHTM cổ phần Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank) hoàn thành Chương trình trái phiếu xanh quốc tế trị giá 100 triệu USD trong năm 2025 (HDBank, 2026). Các ngân hàng không chỉ mở rộng tín dụng cho các ngành, lĩnh vực xanh mà còn từng bước phát triển các công cụ huy động vốn chuyên biệt như trái phiếu xanh, trái phiếu bền vững và tiền gửi xanh, qua đó góp phần đa dạng hóa nguồn vốn dài hạn cho chuyển đổi xanh và phát triển bền vững tại Việt Nam.

Những kết quả đạt được cho thấy NHNN và các NHTM Việt Nam đã khẳng định vai trò trung tâm trong việc huy động, phân bổ, giám sát dòng vốn xanh và bền vững, góp phần quan trọng nâng cao hiệu quả thực thi các chính sách thích ứng với biến đổi khí hậu trong nước, phù hợp với các cam kết quốc tế.

Tuy nhiên, thực tiễn triển khai tại các NHTM vẫn còn một số hạn chế mang tính cấu trúc có thể làm chậm quá trình thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Cụ thể:

Trước hết, khung pháp lý và bộ tiêu chí phân loại xanh vẫn đang trong quá trình hoàn thiện. Mặc dù Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg đã quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh với 7 lĩnh vực, song việc triển khai vào thực tiễn vẫn còn vướng mắc. Một số NHTM còn lúng túng trong xác định đối tượng được hưởng ưu đãi, danh mục dự án và chương trình thuộc lĩnh vực kinh tế xanh cần đầu tư. Việc chưa thống nhất và đồng bộ về định nghĩa, tiêu chí giữa các bộ, ngành khiến công tác thẩm định, giám sát và báo cáo của NHTM còn gặp khó khăn.

Bên cạnh đó, năng lực quản trị rủi ro khí hậu của các NHTM còn hạn chế. Một số NHTM chưa tích hợp đầy đủ rủi ro khí hậu (gồm rủi ro vật lý, rủi ro chuyển đổi và rủi ro trách nhiệm) vào khung quản trị rủi ro tổng thể. Các mô hình đo lường, kiểm tra sức chịu đựng (stress test) đối với rủi ro khí hậu chưa được áp dụng rộng rãi. Công cụ thẩm định rủi ro môi trường - xã hội trong cấp tín dụng còn thô sơ; dữ liệu về phát thải carbon của khách hàng vay vốn còn thiếu và chưa được chuẩn hóa, gây khó khăn cho việc đánh giá rủi ro chuyển đổi và đo lường danh mục tín dụng xanh.

Một trở ngại khác là cơ cấu nguồn vốn chưa phù hợp với đặc thù dự án xanh. Các dự án ứng phó biến đổi khí hậu như năng lượng tái tạo, giao thông xanh, hạ tầng chống chịu biến đổi khí hậu thường có thời gian hoàn vốn dài, thường từ 15 đến 25 năm. Trong khi đó, nguồn vốn huy động của NHTM Việt Nam chủ yếu là ngắn hạn. Điều này sẽ tạo ra tình trạng mất cân đối kỳ hạn khi NHTM mở rộng tài trợ cho các dự án xanh dài hạn. Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận các nguồn vốn xanh từ các tổ chức quốc tế đa phương, song phương, hay các quỹ khí hậu toàn cầu vẫn còn hạn chế do yêu cầu khắt khe về khung ESG, báo cáo phát triển bền vững và năng lực giải trình tác động. Trong năm 2025, quy mô giao dịch trái phiếu xanh của Việt Nam giảm xuống còn 3.407 tỉ đồng so với 10.325,1 tỉ đồng năm 2024, nhưng tất cả các lô trái phiếu xanh đều có đánh giá độc lập trong việc đáp ứng theo chuẩn mực quốc tế về tài chính xanh.

Ngoài ra, nguồn nhân lực chuyên môn sâu về tài chính khí hậu trong NHTM cũng còn thiếu hụt. Việc nhận diện, thẩm định, quản lý và giám sát các khoản tín dụng xanh đòi hỏi đội ngũ cán bộ có kiến thức tổng hợp về tài chính, môi trường, kỹ thuật và các quy chuẩn quốc tế về biến đổi khí hậu. Tuy nhiên, một số NHTM Việt Nam chưa có bộ phận chuyên trách về ESG và tài chính bền vững. Đội ngũ cán bộ tín dụng tại chi nhánh chưa được đào tạo bài bản về đánh giá rủi ro khí hậu, tư vấn cho khách hàng đáp ứng các tiêu chí phát thải mới, cũng như đánh giá rủi ro môi trường - xã hội.

Ở góc độ minh bạch thông tin, số lượng NHTM công bố báo cáo phát triển bền vững theo các chuẩn mực quốc tế còn khiêm tốn. Việc đo lường và công bố lượng phát thải tài trợ - thước đo quan trọng để các nhà đầu tư quốc tế đánh giá rủi ro khí hậu của ngân hàng - hầu như chưa được triển khai có hệ thống. Điều này làm giảm sức hấp dẫn của các NHTM Việt Nam đối với dòng vốn xanh quốc tế và gia tăng chi phí huy động vốn dài hạn. Bên cạnh đó, sự thiếu hụt dữ liệu môi trường đáng tin cậy từ phía doanh nghiệp - đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa - gây bất cân xứng thông tin và khó khăn cho ngân hàng trong thẩm định và giám sát các cam kết môi trường.

Cuối cùng, quy mô tín dụng xanh còn khiêm tốn so với yêu cầu chuyển đổi xanh của nền kinh tế. Mặc dù tín dụng xanh duy trì có tốc độ tăng trưởng khoảng 22 - 23%/năm, tỉ trọng dư nợ tín dụng xanh trong tổng dư nợ toàn nền kinh tế mới chỉ ở mức trên 4%, thấp hơn nhiều so với mục tiêu 10% mà Chính phủ đề ra. Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới (WB), để theo đuổi lộ trình kết hợp tăng khả năng chống chịu với khí hậu và phát thải ròng bằng "0", Việt Nam cần đầu tư thêm khoảng 6,8% GDP mỗi năm, tương đương 368 tỉ USD lũy kế đến năm 2040, trong đó 254 tỉ USD cho lộ trình chống chịu và 114 tỉ USD cho lộ trình khử carbon (WB, 2022). Nhu cầu tài chính lớn này cho thấy khoảng cách đáng kể giữa mục tiêu chuyển đổi xanh và quy mô nguồn lực hiện có của thị trường tài chính xanh tại Việt Nam. Hiện nay hoạt động tài chính cho thích ứng với biến đổi khí hậu vẫn chủ yếu dựa vào các khoản vay truyền thống, trong khi các công cụ tài chính xanh khác còn phát triển tương đối hạn chế. Các sản phẩm khác như trái phiếu xanh, bảo lãnh xanh, tư vấn phát hành cổ phiếu xanh hay bảo hiểm thích ứng biến đổi khí hậu vẫn chưa phát triển mạnh.

5. Khuyến nghị tăng cường vai trò của NHTM trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Nhằm phát huy hiệu quả hơn nữa vai trò của hệ thống NHTM trong ứng phó với biến đổi khí hậu, đáp ứng cam kết của Việt Nam đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp như sau:

Một là, hoàn thiện khung pháp lý và bộ tiêu chí phân loại xanh quốc gia. NHNN phối hợp với Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường ban hành đầy đủ các văn bản hướng dẫn triển khai Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg, đồng thời sớm xây dựng cơ chế xác nhận dự án xanh thống nhất trên phạm vi toàn quốc. Bên cạnh đó, cập nhật nội dung quản lý rủi ro khí hậu theo các quy định về quản lý rủi ro môi trường, xã hội trong hoạt động cấp tín dụng theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế. Chính phủ cần ban hành nghị định về cơ chế hỗ trợ lãi suất

2%/năm từ ngân sách nhà nước đối với khoản vay phục vụ dự án xanh và kinh tế tuần hoàn và dự án đáp ứng tiêu chuẩn ESG. Chính sách này cần được triển khai đồng bộ với các hướng dẫn xác định dự án xanh và tiêu chí tuần hoàn theo tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW, Nghị quyết số 198/2025/QH15, qua đó tạo động lực thúc đẩy dòng vốn tín dụng vào lĩnh vực phát triển bền vững.

Hai là, nâng cao năng lực quản trị rủi ro khí hậu tại các NHTM. Các NHTM cần xây dựng chiến lược tài chính khí hậu riêng, tích hợp ba loại rủi ro khí hậu vào khung quản trị rủi ro tổng thể; triển khai bài kiểm tra sức chịu đựng theo các kịch bản khí hậu của Mạng lưới Xanh hóa Hệ thống Tài chính (NGFS); thành lập và hoàn thiện bộ phận chuyên trách về ESG và tài chính bền vững. Quan trọng hơn, các NHTM cần xây dựng và công bố lượng phát thải tài trợ theo chuẩn quốc tế, đặt mục tiêu giảm phát thải trong danh mục tín dụng phù hợp với lộ trình phát thải ròng bằng "0" của Việt Nam.

Ba là, đa dạng hóa nguồn vốn dài hạn cho tín dụng xanh. Các NHTM cần chủ động xây dựng và hoàn thiện khung trái phiếu xanh, khoản vay xanh, khoản vay liên kết bền vững theo các chuẩn của ICMA và Hiệp hội Thị trường cho vay (LMA) để mở rộng khả năng tiếp cận các quỹ khí hậu, các ngân hàng phát triển đa phương và song phương, các nhà đầu tư ESG quốc tế. Mô hình tài chính hỗn hợp kết hợp giữa vốn vay thương mại, nguồn vốn ưu đãi và viện trợ không hoàn lại cần được xác định là mục tiêu dài hạn nhằm giảm chi phí vốn cho các dự án xanh.

Về phía cơ quan quản lý, NHNN cần nghiên cứu cơ chế tái cấp vốn ưu đãi, giảm tỉ lệ dự trữ bắt buộc đối với phần dư nợ tín dụng xanh của NHTM, tương tự kinh nghiệm của Trung Quốc và Anh.

Bốn là, đầu tư phát triển nguồn nhân lực và hạ tầng dữ liệu khí hậu. Các NHTM cần xây dựng chương trình đào tạo bắt buộc về tài chính bền vững cho cán bộ tín dụng và quản trị rủi ro; phối hợp với các tổ chức quốc tế như Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), GIZ, Sáng kiến Tài chính của Chương trình Môi trường Liên hợp quốc (UNEP-FI) tổ chức các khóa đào tạo chuyên sâu. Bên cạnh đó, cần xây dựng cơ sở dữ liệu khí hậu - kinh tế chuẩn hóa ở cấp ngành, kết nối với hệ thống đăng ký phát thải quốc gia và thị trường carbon đang hình thành tại Việt Nam, tạo nền tảng cho việc đo lường, báo cáo và giám sát tác động khí hậu của các khoản tín dụng.

Năm là, đa dạng hóa sản phẩm tín dụng xanh và mở rộng tài trợ thích ứng biến đổi khí hậu. Bên cạnh tập trung vào năng lượng tái tạo và nông nghiệp, các NHTM cần phát triển sản phẩm tín dụng cho công trình xanh, giao thông xanh, công nghiệp tuần hoàn, dự án thích ứng với biến đổi khí hậu như đê biển, hồ chứa, hệ thống cảnh báo sớm, nông nghiệp thông minh với khí hậu. Phát triển sản phẩm tín dụng xanh cho khu vực bán lẻ như cho vay xe điện, điện mặt trời mái nhà, nhà ở xanh với thời hạn dài, có thể lên đến 15 - 20 năm và lãi suất ưu đãi thấp hơn thị trường 1,5 - 2%/năm. Cần đặc biệt quan tâm đến doanh nghiệp nhỏ và vừa, hiện chiếm 90% số doanh nghiệp Việt Nam, nhưng đang gặp khó khăn về vốn, dữ liệu phát thải và nhân lực ESG để chuyển đổi xanh.

Sáu là, tăng cường hợp tác quốc tế và liên ngành. NHNN và các NHTM cần tích cực tham gia các sáng kiến quốc tế như NGFS, Liên minh Ngân hàng Net-Zero (NZBA), Diễn đàn Đối tác vì Tăng trưởng xanh và Mục tiêu toàn cầu 2030 (P4G) để học hỏi kinh nghiệm và tiếp cận nguồn lực. Đồng thời, đẩy mạnh phối hợp liên ngành giữa NHNN, Bộ Tài chính, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Bộ Công Thương để xây dựng các cơ chế, chính sách đồng bộ về tài chính khí hậu, thị trường carbon và chuyển đổi năng lượng công bằng.

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng và các yêu cầu khắt khe của thị trường quốc tế về tài chính bền vững, vai trò của NHTM trong huy động và phân bổ vốn cho ứng phó biến đổi khí hậu là không thể thay thế. Việc khắc phục một số hạn chế về khung pháp lý, năng lực quản trị rủi ro, cơ cấu nguồn vốn và nguồn nhân lực không chỉ giúp hệ thống ngân hàng Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong nước, mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh, tiếp cận dòng vốn xanh quốc tế trong giai đoạn hậu COP30. Đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội để hệ thống NHTM Việt Nam khẳng định vị thế dẫn dắt trong tiến trình chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, ít phát thải carbon, hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050.y

Bài báo là một phần của Đề tài khoa học cấp Bộ mã số B2025-KHA-06 với tiêu đề "Quản lý rủi ro tài chính liên quan đến khí hậu tại các NHTM Việt Nam".

Tài liệu tham khảo:

1. Báo Chính phủ (2026), “Tín dụng xanh tăng tốc, mở đường chuyển đổi kinh tế bền vững”, truy cập ngày 27/3/2026 https://baochinhphu.vn/tin-dung-xanh-tang-toc-mo-duong-chuyen-doi-kinh-te-ben-vung-102260327163722698.htm

2. BIDV (2024), Phát hành 3.000 tỷ đồng trái phiếu bền vững năm 2024 (theo phát biểu của TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV).

3. Cấn Văn Lực (2024), Tài chính xanh ở Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị giải pháp, tham luận tại Diễn đàn "Hiện thực hóa Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh tại Việt Nam: Thúc đẩy dòng vốn xanh", Tạp chí Kinh tế và Dự báo.

4. Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 của Thống đốc NHNN về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng.

5. Climate Change Performance Index (2026), CCPI 2026: Ranking and Results.

6. Climate Action Tracker (2025). CAT 2035 Climate Target Update Tracker. Truy cập tại: https://climateactiontracker.org/climate-target-update-tracker-2035/

7. Doran, P. T., & Zimmerman, M. K. (2009), "Examining the scientific consensus on climate change", Eos, 90(3), 22–23.

8. HDBank (2026), HDBank phát hành thành công 100 triệu USD trái phiếu xanh quốc tế, ngày 07/01/2026.

9. Liên hợp quốc (2024), What Is Climate Change? United Nations Climate Action. Truy cập tại: https://www.un.org/en/climatechange/what-is-climate-change

10. NHNN (2025), Tọa đàm "Đẩy mạnh triển khai Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030" và công bố Sổ tay hướng dẫn hệ thống quản lý rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng.

11. NHNN (2025b), Số liệu thống kê về tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng đến 31/12/2024.

12. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.

13. Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.

14. Oreskes, N. (2004), "The scientific consensus on climate change", Science, 306(5702), 1686.

15. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận đối với dự án được cấp tín dụng xanh, phát hành trái phiếu xanh.

16. Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050.

17. Quyết định số 986/QĐ-TTg ngày 08/8/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Ngân hàng Việt Nam đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.

18. Quyết định số 1604/QĐ-NHNN của Thống đốc NHNN ngày 07/8/2018 về việc phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam.

19. Quyết định số 813/QĐ-NHNN ngày 24/4/2017 của Thống đốc NHNN về chương trình cho vay khuyến khích phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp sạch theo Nghị quyết số 30/NQ-CP ngày 07/3/2017 của Chính phủ.

20. Sổ tay Hệ thống quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công bố ngày 21/5/2025, Hà Nội.

21. Techcombank (2025), Báo cáo phân bổ vốn đối với trái phiếu xanh còn dư nợ tại cuối năm 2024, công bố ngày 16/10/2025.

22. Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 của Thống đốc NHNN hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

23. Vietcombank (2024), Vietcombank phát hành thành công 2.000 tỷ đồng trái phiếu xanh.

24. World Bank (2022), Vietnam Country Climate and Development Report. Washington, DC: World Bank.

PGS., TS. Lê Thanh Tâm, TS. Lê Đức Hoàng, Lê Mai Anh
Đại học Kinh tế Quốc dân

Tin bài khác

Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) từ ngân hàng truyền thống sang mô hình “ngân hàng số xanh”, với trọng tâm là tín dụng nông nghiệp bền vững, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thẩm định tín dụng và vai trò dẫn dắt dòng vốn phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam.
Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Xem thêm
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng