Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng
Bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức
Trong 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế toàn cầu tiếp tục xu hướng bất định, khó lường do tác động của căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự, thương mại và tình trạng phân cực, cạnh tranh địa chiến lược đã gây áp lực rất lớn lên thị trường hàng hóa, tài chính toàn cầu. Các ngân hàng trung ương (NHTW) lớn thận trọng hơn trong lộ trình điều chỉnh chính sách. Theo thông báo từ các NHTW lớn trên thế giới, trong 6 tháng đầu năm 2026, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed), NHTW Anh (BOE) đều giữ nguyên lãi suất; một số NHTW thắt chặt hơn nữa chính sách tiền tệ (CSTT) bằng việc tăng lãi suất điều hành như: NHTW Châu Âu (ECB) tăng 0,25 điểm phần trăm trong tháng 6/2026; NHTW Úc tăng lãi suất 3 lần trong tháng 2, 3, 5/2026 với tổng 3 lần tăng là 0,75 điểm phần trăm, NHTW Iceland tăng 0,25 điểm phần trăm, NHTW Philippines tăng 0,25 điểm phần trăm.
![]() |
| Ảnh minh họa (Nguồn: Internet) |
Điều này đã tạo áp lực lên điều hành CSTT của các nền kinh tế mới nổi, đang phát triển, có độ mở lớn như Việt Nam. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn cho thấy sức chống chịu vững chắc, duy trì nền tảng vĩ mô ổn định, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Tăng trưởng kinh tế trong 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số có mức tăng cao hơn cùng kỳ với đóng góp chủ yếu từ công nghiệp, dịch vụ và xuất khẩu. Theo Báo cáo Kinh tế - xã hội quý I/2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2026 ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2025 tăng 7,07%). Lạm phát được kiểm soát phù hợp với mục tiêu đề ra nhưng chịu nhiều áp lực gia tăng (lạm phát bình quân 5 tháng là 4,31%, lạm phát cơ bản bình quân là 4,04%).
Năm 2026 đánh dấu cột mốc khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, trên cơ sở những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm của nhiệm kỳ 2021 - 2025, NHNN đã kịp thời cụ thể hoá, triển khai quyết liệt các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.
Bám sát chủ trương của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngay từ đầu năm, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 09/01/2026 về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2026; Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 09/01/2026 về việc đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm an ninh an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng năm 2026. Sau đó, cùng với các Chương trình, Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng, NHNN đã xác định những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp và lộ trình triển khai cụ thể để góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước. Đồng thời, NHNN đã chủ động bám sát diễn biến kinh tế thế giới và trong nước để triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng năm 2026 góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, bảo đảm ổn định và an toàn hệ thống.
Dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm trước, bổ sung thêm khoảng 1,4 triệu tỉ đồng cho nền kinh tế
Trong điều hành tín dụng, NHNN tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, giúp ổn định và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Năm 2026, NHNN dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh tăng, giảm phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD). Ngày 31/12/2025, NHNN đã có văn bản gửi các TCTD thông báo công khai, minh bạch về nguyên tắc giao tăng trưởng tín dụng năm 2026 để các TCTD chủ động triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, NHNN cũng yêu cầu các TCTD kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, lĩnh vực bất động sản trong năm 2026 nhằm hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời đảm bảo ổn định thanh khoản thị trường tiền tệ và an toàn hoạt động hệ thống các TCTD.
Nhằm tạo thêm dư địa cho các TCTD cấp tín dụng đối với một số loại hình bất động sản gồm nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất, hỗ trợ đáp ứng nhu cầu nhà ở chính đáng của người dân và hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng công nghiệp phục vụ sản xuất, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) theo chủ trương của Đảng và Chính phủ, ngày 29/5/2026, NHNN đã thông báo tới các TCTD về việc không tính phần dư nợ tín dụng tăng thêm so với cuối năm 2025 đối với loại hình bất động sản trên khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng bất động sản. Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu vốn thực hiện các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, có tính chất lan tỏa, liên kết, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, địa phương theo chỉ đạo tại các Công văn của Văn phòng Chính phủ, NHNN đã có Công văn số 5386/NHNN-TD ngày 22/6/2026 hướng dẫn các ngân hàng thương mại loại trừ dư nợ cấp tín dụng, cho vay phát sinh mới hằng năm đối với 03 doanh nghiệp để triển khai, đầu tư 18 dự án.
Đồng thời, NHNN ban hành các văn bản chỉ đạo về tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực quan trọng (như cà phê, lúa gạo, chăn nuôi, xăng dầu, xuất nhập khẩu, nông nghiệp…) và tháo gỡ khó khăn cho khách hàng trước những ảnh hưởng do diễn biến xung đột tại Trung Đông; kịp thời có văn bản chỉ đạo các TCTD triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035; chỉ đạo các TCTD ưu tiên bố trí nguồn vốn thúc đẩy tín dụng xanh phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh.
Các giải pháp tín dụng đối với ngành, lĩnh vực được triển khai tích cực, đồng bộ nhằm hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Theo Vụ Tín dụng (NHNN), với các giải pháp đồng bộ, đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN, trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Đến cuối tháng 4/2026, tỉ trọng tín dụng đối với các ngành kinh tế lần lượt là: Công nghiệp - xây dựng chiếm 23,8%; thương mại - dịch vụ chiếm 70,07%; nông, lâm, thủy sản chiếm 6,13%. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh (chiếm khoảng 77,3% dư nợ nền kinh tế) và lĩnh vực ưu tiên. Cụ thể, một số lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiếm tỉ trọng lớn như lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm 22,18%, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 19,72% hoặc lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao như xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ có tốc độ tăng trưởng lần lượt là 20,53% - 26,36% - 6,97%.
Các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được ngành Ngân hàng triển khai tích cực: (i) Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản được mở rộng đối tượng từ Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm, thủy sản đã hoàn thành mục tiêu triển khai, đến cuối tháng 5/2026, doanh số giải ngân lũy kế của Chương trình đạt khoảng 219.000 tỉ đồng (đạt 118,4% quy mô Chương trình) với trên 79.900 lượt khách hàng được giải ngân; (ii) Chương trình cho vay liên kết sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã giải ngân được khoảng 4.200 tỉ đồng; (iii) Chương trình cho vay theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững đã đạt kết quả tích cực với doanh số giải ngân khoảng 12.440 tỉ đồng, dư nợ đạt khoảng 10.175 tỉ đồng; (iv) Chương trình tín dụng đầu tư hạ tầng điện, giao thông, công nghệ chiến lược có dư nợ tín dụng tại các ngân hàng thương mại là khoảng 10.527 tỉ đồng.
Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục hỗ trợ, tạo điều kiện để Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) thực hiện tốt các chương trình, chính sách tín dụng ưu đãi theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Đến cuối tháng 5/2026, tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách tại NHCSXH đạt khoảng 449 nghìn tỉ đồng, tăng 8,78% so với năm 2025, với hơn 6,7 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách còn dư nợ.
Cùng với các giải pháp tín dụng, trong điều hành lãi suất, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho TCTD tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế. NHNN đã có văn bản chỉ đạo các TCTD triển khai các giải pháp để ổn định mặt bằng lãi suất; yêu cầu tiếp tục công bố thông tin lãi suất cho vay trên trang thông tin điện tử của ngân hàng nhằm cung cấp thông tin cho khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay. Ngày 09/4/2026, NHNN đã tổ chức làm việc trực tiếp với các ngân hàng thương mại và yêu cầu giảm lãi suất tiền gửi của các giao dịch phát sinh mới đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên; giảm lãi suất tiền gửi niêm yết và lãi suất cho vay nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân.
Đồng bộ các giải pháp để phát triển thị trường vốn - góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế
Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng, tín dụng ngân hàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, NHNN đã điều chỉnh các quy định nhằm hỗ trợ hoạt động tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, tuy nhiên cũng đối mặt với rủi ro tiềm ẩn trong an toàn hoạt động ngân hàng, do đó đòi hỏi các ngân hàng phải chú trọng nâng cao công tác quản trị rủi ro, kiểm soát chặt chẽ các tỉ lệ bảo đảm an toàn phù hợp với năng lực quản trị rủi ro của TCTD.
Thời gian tới, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục gia tăng, xung đột quân sự tại một số quốc gia, khu vực kéo dài, tác động mạnh đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa cơ bản, dịch vụ vận tải và thương mại toàn cầu... qua đó gián tiếp ảnh hưởng tới cầu, khả năng hấp thụ và chất lượng tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực.
Thực tế, nhu cầu vốn trung, dài hạn cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia là rất lớn, tạo áp lực cho các TCTD trong cung ứng vốn tín dụng để thực hiện dự án cũng như rủi ro kỳ hạn cho các TCTD do nguồn vốn chính để các TCTD thực hiện cho vay chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn ngắn. Tại Việt Nam, tỉ lệ dư nợ tín dụng/GDP đã chạm mức 146% - thuộc nhóm cao nhất khu vực - đang tạo ra những rủi ro hệ thống tiềm ẩn. Sức ép cung ứng vốn cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng vẫn lớn trong bối cảnh thị trường tài chính phát triển chưa cân xứng. Huy động vốn của hệ thống TCTD hiện tăng chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng, trong khi đó nguồn vốn ngắn hạn là chủ yếu, tín dụng trung, dài hạn đang có xu hướng tăng, phản ánh rủi ro mất cân đối kỳ hạn và rủi ro thanh khoản gia tăng trong hệ thống TCTD. Trong khi giải ngân đầu tư công còn chậm.
Để giảm thiểu rủi ro cho hệ thống tài chính, cần giảm lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng, chuyển dịch cấu trúc vốn thông qua phát triển đồng bộ thị trường chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu), thu hút FDI chất lượng, thúc đẩy quỹ đầu tư mạo hiểm và đẩy mạnh phát hành trái phiếu xanh.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa và chuyển đổi số, nhu cầu về nguồn lực tài chính trung và dài hạn đang trở nên lớn hơn bao giờ hết, đòi hỏi thị trường chứng khoán phải phát huy đúng công năng của một hệ điều hành dẫn vốn. Trong đó, cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, đồng bộ hóa quy định, tạo hành lang pháp lý thông thoáng và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư; thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước lớn thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng và niêm yết trên sàn chứng khoán; khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có FDI lớn lên sàn Việt Nam. Cùng với đó cần đẩy mạnh hiện đại hóa hạ tầng và chuyển đổi số, vận hành tối đa công suất hệ thống công nghệ thông tin mới nhằm xử lý thanh khoản quy mô lớn; xây dựng cơ sở dữ liệu số tập trung phục vụ công tác giám sát thị trường theo thời gian thực; sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để phát hiện sớm các giao dịch bất thường và hành vi thao túng giá.
Bên cạnh đó, các bộ, ngành cần nghiên cứu để phát triển, đa dạng hóa các định chế tài chính ngoài ngân hàng. Chẳng hạn, khuyến khích hình thành và phát triển các quỹ (quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư tư nhân) để rót vốn trực tiếp vào các doanh nghiệp khởi nghiệp, công nghệ thay vì chỉ dựa vào vốn vay ngân hàng. Đồng thời, đẩy mạnh phát hành trái phiếu xanh, tín dụng xanh để thu hút dòng vốn quốc tế cho các dự án phát triển bền vững.
Ngoài ra, để tạo động lực cho tăng trưởng bền vững, Chính phủ cần tăng cường các chính sách nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, cải thiện môi trường kinh doanh, trong đó có cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh để doanh nghiệp trong nước tích lũy vốn, tái đầu tư từ lợi nhuận.
Để thị trường vốn thực sự trở thành trụ cột quốc gia, việc vượt qua những nút thắt về cơ chế và chuẩn hóa các tiêu chuẩn công bố thông tin là điều kiện tiên quyết để thu hút dòng vốn ngoại và các định chế tài chính lớn.Trong bối cảnh hiện nay, công nghệ và tính minh bạch được xem là chìa khóa để khôi phục và củng cố niềm tin của thị trường. Việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến như công nghệ chuỗi khối (Blockchain) trong lưu ký, thanh toán và AI trong giám sát giao dịch, phát hiện sớm các dấu hiệu thao túng đang được các cơ quan quản lý đẩy mạnh. Sự kết hợp giữa hạ tầng công nghệ hiện đại và khung pháp lý nghiêm minh sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh nơi thông tin được công bố chính xác, kịp thời. Khi sự minh bạch được coi trọng như vàng, thị trường vốn sẽ thực sự trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả, bền vững cho công cuộc phát triển kinh tế đất nước.
Tài liệu tham khảo
1. Tài liệu Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.
2. Cục Thống kê (2026), Báo cáo Kinh tế - xã hội quý I/2026, https://www.nso.gov.vn
Tin bài khác
Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam
Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam
Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam
Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông
Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam
