Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Hoạt động ngân hàng
Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
aa

Bối cảnh nhiều khó khăn, thách thức

Trong 6 tháng đầu năm 2026, kinh tế toàn cầu tiếp tục xu hướng bất định, khó lường do tác động của căng thẳng địa chính trị, xung đột quân sự, thương mại và tình trạng phân cực, cạnh tranh địa chiến lược đã gây áp lực rất lớn lên thị trường hàng hóa, tài chính toàn cầu. Các ngân hàng trung ương (NHTW) lớn thận trọng hơn trong lộ trình điều chỉnh chính sách. Theo thông báo từ các NHTW lớn trên thế giới, trong 6 tháng đầu năm 2026, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed), NHTW Anh (BOE) đều giữ nguyên lãi suất; một số NHTW thắt chặt hơn nữa chính sách tiền tệ (CSTT) bằng việc tăng lãi suất điều hành như: NHTW Châu Âu (ECB) tăng 0,25 điểm phần trăm trong tháng 6/2026; NHTW Úc tăng lãi suất 3 lần trong tháng 2, 3, 5/2026 với tổng 3 lần tăng là 0,75 điểm phần trăm, NHTW Iceland tăng 0,25 điểm phần trăm, NHTW Philippines tăng 0,25 điểm phần trăm.

 Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Điều này đã tạo áp lực lên điều hành CSTT của các nền kinh tế mới nổi, đang phát triển, có độ mở lớn như Việt Nam. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn cho thấy sức chống chịu vững chắc, duy trì nền tảng vĩ mô ổn định, tạo điều kiện thuận lợi thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Tăng trưởng kinh tế trong 5 tháng đầu năm 2026 ghi nhận nhiều chỉ số có mức tăng cao hơn cùng kỳ với đóng góp chủ yếu từ công nghiệp, dịch vụ và xuất khẩu. Theo Báo cáo Kinh tế - xã hội quý I/2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý I/2026 ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước (quý I/2025 tăng 7,07%). Lạm phát được kiểm soát phù hợp với mục tiêu đề ra nhưng chịu nhiều áp lực gia tăng (lạm phát bình quân 5 tháng là 4,31%, lạm phát cơ bản bình quân là 4,04%).

Năm 2026 đánh dấu cột mốc khởi đầu kỷ nguyên phát triển mới của đất nước, năm đầu tiên thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, trên cơ sở những kết quả đạt được và bài học kinh nghiệm của nhiệm kỳ 2021 - 2025, NHNN đã kịp thời cụ thể hoá, triển khai quyết liệt các Nghị quyết của Đảng, Quốc hội, Chính phủ, chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, đặc biệt là Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Kết luận số 18-KL/TW của Trung ương về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.

Bám sát chủ trương của Đảng, các Nghị quyết của Quốc hội, Chính phủ và chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, ngay từ đầu năm, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN ngày 09/01/2026 về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2026; Chỉ thị số 02/CT-NHNN ngày 09/01/2026 về việc đẩy mạnh chuyển đổi số và bảo đảm an ninh an toàn thông tin trong hoạt động ngân hàng năm 2026. Sau đó, cùng với các Chương trình, Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng, NHNN đã xác định những nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp và lộ trình triển khai cụ thể để góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ phát triển đất nước. Đồng thời, NHNN đã chủ động bám sát diễn biến kinh tế thế giới và trong nước để triển khai đồng bộ các giải pháp điều hành CSTT và hoạt động ngân hàng năm 2026 góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, bảo đảm ổn định và an toàn hệ thống.

Dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt hơn 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm trước, bổ sung thêm khoảng 1,4 triệu tỉ đồng cho nền kinh tế

Trong điều hành tín dụng, NHNN tiếp tục thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô nhằm góp phần kiểm soát lạm phát, giúp ổn định và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Năm 2026, NHNN dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh tăng, giảm phù hợp với tình hình thực tế, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD). Ngày 31/12/2025, NHNN đã có văn bản gửi các TCTD thông báo công khai, minh bạch về nguyên tắc giao tăng trưởng tín dụng năm 2026 để các TCTD chủ động triển khai thực hiện. Bên cạnh đó, NHNN cũng yêu cầu các TCTD kiểm soát chặt chẽ tốc độ tăng trưởng tín dụng đối với lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro, lĩnh vực bất động sản trong năm 2026 nhằm hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng của nền kinh tế, đồng thời đảm bảo ổn định thanh khoản thị trường tiền tệ và an toàn hoạt động hệ thống các TCTD.

Nhằm tạo thêm dư địa cho các TCTD cấp tín dụng đối với một số loại hình bất động sản gồm nhà ở xã hội, khu công nghiệp, khu chế xuất, hỗ trợ đáp ứng nhu cầu nhà ở chính đáng của người dân và hỗ trợ đầu tư phát triển hạ tầng công nghiệp phục vụ sản xuất, thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) theo chủ trương của Đảng và Chính phủ, ngày 29/5/2026, NHNN đã thông báo tới các TCTD về việc không tính phần dư nợ tín dụng tăng thêm so với cuối năm 2025 đối với loại hình bất động sản trên khi kiểm soát tăng trưởng tín dụng bất động sản. Ngoài ra, để đáp ứng nhu cầu vốn thực hiện các công trình, dự án quy mô lớn, trọng điểm, có tính chất lan tỏa, liên kết, thúc đẩy phát triển kinh tế vùng, địa phương theo chỉ đạo tại các Công văn của Văn phòng Chính phủ, NHNN đã có Công văn số 5386/NHNN-TD ngày 22/6/2026 hướng dẫn các ngân hàng thương mại loại trừ dư nợ cấp tín dụng, cho vay phát sinh mới hằng năm đối với 03 doanh nghiệp để triển khai, đầu tư 18 dự án.

Đồng thời, NHNN ban hành các văn bản chỉ đạo về tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực quan trọng (như cà phê, lúa gạo, chăn nuôi, xăng dầu, xuất nhập khẩu, nông nghiệp…) và tháo gỡ khó khăn cho khách hàng trước những ảnh hưởng do diễn biến xung đột tại Trung Đông; kịp thời có văn bản chỉ đạo các TCTD triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 - 2035; chỉ đạo các TCTD ưu tiên bố trí nguồn vốn thúc đẩy tín dụng xanh phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh.

Các giải pháp tín dụng đối với ngành, lĩnh vực được triển khai tích cực, đồng bộ nhằm hướng tín dụng vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng, góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Theo Vụ Tín dụng (NHNN), với các giải pháp đồng bộ, đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, NHNN, trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Đến cuối tháng 4/2026, tỉ trọng tín dụng đối với các ngành kinh tế lần lượt là: Công nghiệp - xây dựng chiếm 23,8%; thương mại - dịch vụ chiếm 70,07%; nông, lâm, thủy sản chiếm 6,13%. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh (chiếm khoảng 77,3% dư nợ nền kinh tế) và lĩnh vực ưu tiên. Cụ thể, một số lĩnh vực ưu tiên theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chiếm tỉ trọng lớn như lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chiếm 22,18%, doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 19,72% hoặc lĩnh vực có tốc độ tăng trưởng cao như xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ có tốc độ tăng trưởng lần lượt là 20,53% - 26,36% - 6,97%.

Các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được ngành Ngân hàng triển khai tích cực: (i) Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản được mở rộng đối tượng từ Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực lâm, thủy sản đã hoàn thành mục tiêu triển khai, đến cuối tháng 5/2026, doanh số giải ngân lũy kế của Chương trình đạt khoảng 219.000 tỉ đồng (đạt 118,4% quy mô Chương trình) với trên 79.900 lượt khách hàng được giải ngân; (ii) Chương trình cho vay liên kết sản xuất chế biến và tiêu thụ sản phẩm lúa gạo chất lượng cao và phát thải thấp vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã giải ngân được khoảng 4.200 tỉ đồng; (iii) Chương trình cho vay theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững đã đạt kết quả tích cực với doanh số giải ngân khoảng 12.440 tỉ đồng, dư nợ đạt khoảng 10.175 tỉ đồng; (iv) Chương trình tín dụng đầu tư hạ tầng điện, giao thông, công nghệ chiến lược có dư nợ tín dụng tại các ngân hàng thương mại là khoảng 10.527 tỉ đồng.

Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục hỗ trợ, tạo điều kiện để Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) thực hiện tốt các chương trình, chính sách tín dụng ưu đãi theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Đến cuối tháng 5/2026, tổng dư nợ các chương trình tín dụng chính sách tại NHCSXH đạt khoảng 449 nghìn tỉ đồng, tăng 8,78% so với năm 2025, với hơn 6,7 triệu hộ nghèo và các đối tượng chính sách còn dư nợ.

Cùng với các giải pháp tín dụng, trong điều hành lãi suất, NHNN tiếp tục giữ nguyên các mức lãi suất điều hành nhằm tạo điều kiện cho TCTD tiếp cận nguồn vốn từ NHNN với chi phí thấp để góp phần hỗ trợ nền kinh tế. NHNN đã có văn bản chỉ đạo các TCTD triển khai các giải pháp để ổn định mặt bằng lãi suất; yêu cầu tiếp tục công bố thông tin lãi suất cho vay trên trang thông tin điện tử của ngân hàng nhằm cung cấp thông tin cho khách hàng tham khảo khi tiếp cận vốn vay. Ngày 09/4/2026, NHNN đã tổ chức làm việc trực tiếp với các ngân hàng thương mại và yêu cầu giảm lãi suất tiền gửi của các giao dịch phát sinh mới đối với các kỳ hạn từ 6 tháng trở lên; giảm lãi suất tiền gửi niêm yết và lãi suất cho vay nhằm tăng khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp và người dân.

Đồng bộ các giải pháp để phát triển thị trường vốn - góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế

Trong bối cảnh nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng, tín dụng ngân hàng tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ thực hiện mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, NHNN đã điều chỉnh các quy định nhằm hỗ trợ hoạt động tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, tuy nhiên cũng đối mặt với rủi ro tiềm ẩn trong an toàn hoạt động ngân hàng, do đó đòi hỏi các ngân hàng phải chú trọng nâng cao công tác quản trị rủi ro, kiểm soát chặt chẽ các tỉ lệ bảo đảm an toàn phù hợp với năng lực quản trị rủi ro của TCTD.

Thời gian tới, tình hình thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn tiếp tục gia tăng, xung đột quân sự tại một số quốc gia, khu vực kéo dài, tác động mạnh đến chuỗi cung ứng, giá năng lượng, hàng hóa cơ bản, dịch vụ vận tải và thương mại toàn cầu... qua đó gián tiếp ảnh hưởng tới cầu, khả năng hấp thụ và chất lượng tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực.

Thực tế, nhu cầu vốn trung, dài hạn cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia là rất lớn, tạo áp lực cho các TCTD trong cung ứng vốn tín dụng để thực hiện dự án cũng như rủi ro kỳ hạn cho các TCTD do nguồn vốn chính để các TCTD thực hiện cho vay chủ yếu là tiền gửi có kỳ hạn ngắn. Tại Việt Nam, tỉ lệ dư nợ tín dụng/GDP đã chạm mức 146% - thuộc nhóm cao nhất khu vực - đang tạo ra những rủi ro hệ thống tiềm ẩn. Sức ép cung ứng vốn cho nền kinh tế của hệ thống ngân hàng vẫn lớn trong bối cảnh thị trường tài chính phát triển chưa cân xứng. Huy động vốn của hệ thống TCTD hiện tăng chậm hơn so với tăng trưởng tín dụng, trong khi đó nguồn vốn ngắn hạn là chủ yếu, tín dụng trung, dài hạn đang có xu hướng tăng, phản ánh rủi ro mất cân đối kỳ hạn và rủi ro thanh khoản gia tăng trong hệ thống TCTD. Trong khi giải ngân đầu tư công còn chậm.

Để giảm thiểu rủi ro cho hệ thống tài chính, cần giảm lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng, chuyển dịch cấu trúc vốn thông qua phát triển đồng bộ thị trường chứng khoán (trái phiếu, cổ phiếu), thu hút FDI chất lượng, thúc đẩy quỹ đầu tư mạo hiểm và đẩy mạnh phát hành trái phiếu xanh.

Trong bối cảnh Việt Nam đang đẩy mạnh công nghiệp hóa và chuyển đổi số, nhu cầu về nguồn lực tài chính trung và dài hạn đang trở nên lớn hơn bao giờ hết, đòi hỏi thị trường chứng khoán phải phát huy đúng công năng của một hệ điều hành dẫn vốn. Trong đó, cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, đồng bộ hóa quy định, tạo hành lang pháp lý thông thoáng và bảo vệ quyền lợi nhà đầu tư; thúc đẩy các doanh nghiệp nhà nước lớn thực hiện phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng và niêm yết trên sàn chứng khoán; khuyến khích và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có FDI lớn lên sàn Việt Nam. Cùng với đó cần đẩy mạnh hiện đại hóa hạ tầng và chuyển đổi số, vận hành tối đa công suất hệ thống công nghệ thông tin mới nhằm xử lý thanh khoản quy mô lớn; xây dựng cơ sở dữ liệu số tập trung phục vụ công tác giám sát thị trường theo thời gian thực; sử dụng trí tuệ nhân tạo (AI) để phát hiện sớm các giao dịch bất thường và hành vi thao túng giá.

Bên cạnh đó, các bộ, ngành cần nghiên cứu để phát triển, đa dạng hóa các định chế tài chính ngoài ngân hàng. Chẳng hạn, khuyến khích hình thành và phát triển các quỹ (quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư tư nhân) để rót vốn trực tiếp vào các doanh nghiệp khởi nghiệp, công nghệ thay vì chỉ dựa vào vốn vay ngân hàng. Đồng thời, đẩy mạnh phát hành trái phiếu xanh, tín dụng xanh để thu hút dòng vốn quốc tế cho các dự án phát triển bền vững.

Ngoài ra, để tạo động lực cho tăng trưởng bền vững, Chính phủ cần tăng cường các chính sách nhằm thu hút đầu tư nước ngoài, cải thiện môi trường kinh doanh, trong đó có cải cách hành chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh để doanh nghiệp trong nước tích lũy vốn, tái đầu tư từ lợi nhuận.

Để thị trường vốn thực sự trở thành trụ cột quốc gia, việc vượt qua những nút thắt về cơ chế và chuẩn hóa các tiêu chuẩn công bố thông tin là điều kiện tiên quyết để thu hút dòng vốn ngoại và các định chế tài chính lớn.Trong bối cảnh hiện nay, công nghệ và tính minh bạch được xem là chìa khóa để khôi phục và củng cố niềm tin của thị trường. Việc ứng dụng các công nghệ tiên tiến như công nghệ chuỗi khối (Blockchain) trong lưu ký, thanh toán và AI trong giám sát giao dịch, phát hiện sớm các dấu hiệu thao túng đang được các cơ quan quản lý đẩy mạnh. Sự kết hợp giữa hạ tầng công nghệ hiện đại và khung pháp lý nghiêm minh sẽ tạo ra một môi trường kinh doanh nơi thông tin được công bố chính xác, kịp thời. Khi sự minh bạch được coi trọng như vàng, thị trường vốn sẽ thực sự trở thành kênh dẫn vốn hiệu quả, bền vững cho công cuộc phát triển kinh tế đất nước.

Tài liệu tham khảo

1. Tài liệu Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026.

2. Cục Thống kê (2026), Báo cáo Kinh tế - xã hội quý I/2026, https://www.nso.gov.vn

Hà Anh (NHNN)

Tin bài khác

Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Bài viết phân tích sự chuyển dịch của ngành Ngân hàng từ mô hình cung cấp sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái số gắn với phong cách sống, làm rõ các mô hình tiêu biểu trên thế giới và đề xuất những hàm ý chiến lược giúp ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Bài viết đề xuất bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững gồm 06 trụ cột và 18 chỉ tiêu thành phần, góp phần cung cấp công cụ đo lường toàn diện phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng theo hướng an toàn và bền vững.
Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Bài viết này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục với công cụ VOSviewer 1.6.20 để tổng quan và phân tích về hoạt động giám sát ngân hàng giai đoạn 2010 - 2025, qua đó làm rõ xu hướng phát triển, các chủ đề nghiên cứu trọng tâm và mạng lưới học thuật quốc tế trong lĩnh vực này.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích yêu cầu phát triển hệ sinh thái ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC). Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết lập luận rằng dịch vụ ngân hàng tại IFC cần chuyển từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp xuyên suốt hành trình nhà đầu tư. Khung phân tích chỉ ra năng lực cạnh tranh của IFC là kết quả đầu ra của hệ sinh thái gồm sản phẩm, công nghệ, dữ liệu, pháp lý và quản trị rủi ro. Đánh giá bối cảnh Việt Nam cho thấy cơ hội lớn nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn về định danh xuyên biên giới, chuẩn hóa dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và rủi ro bên thứ ba. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình chính sách ba giai đoạn nhằm phát triển hạ tầng tài chính số an toàn, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực hội nhập tài chính toàn cầu của Việt Nam.
Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Bài viết phân tích vai trò của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, trên cơ sở đánh giá thực trạng, khung pháp lý và những hạn chế hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường huy động và phân bổ vốn cho mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) từ ngân hàng truyền thống sang mô hình “ngân hàng số xanh”, với trọng tâm là tín dụng nông nghiệp bền vững, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thẩm định tín dụng và vai trò dẫn dắt dòng vốn phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam.
Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Xem thêm
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam