Tiếp nhận tiền mã hóa và nhân tố tác động: Góc nhìn từ chỉ số sẵn sàng mạng lưới

Công nghệ & ngân hàng số
Sự phát triển nhanh của tiền mã hóa đang làm thay đổi bức tranh tài chính số, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện các điều kiện nền tảng và khuôn khổ quản trị để thúc đẩy sự phát triển an toàn, bền vững.
aa

Tóm tắt: Bài viết phân tích thực trạng của mức độ tiếp nhận tiền mã hóa tại Việt Nam, đồng thời xem xét một số điều kiện nền tảng có ảnh hưởng đến tiếp nhận tiền mã hóa dựa vào chỉ số sẵn sàng mạng lưới (Network Readiness Index - NRI), bằng việc kết hợp thống kê mô tả và so sánh quốc tế dựa trên dữ liệu thứ cấp từ Chainalysis (giai đoạn 2021 - 2025), Triple-A (giai đoạn 2021 - 2024), NRI (giai đoạn 2021 - 2025) và Ngân hàng Thế giới. Kết quả nghiên cứu cho thấy, Việt Nam là một trong những thị trường mới nổi có mức độ tiếp nhận tiền mã hóa nổi bật trên thế giới được thể hiện qua vị trí cao trong bảng xếp hạng tiếp nhận tiền mã hóa toàn cầu với khoảng 20% dân số sở hữu tài sản mã hóa và tốc độ tăng trưởng giao dịch tiền mã hóa gần 70%. Bên cạnh đó, việc tiếp cận các trụ cột NRI về Con người, Công nghệ và Quản trị cho thấy Việt Nam có một số điều kiện thuận lợi cho quá trình tiếp nhận tiền mã hóa, bao gồm mức độ sẵn sàng số của cá nhân tương đối cao, khả năng tiếp cận công nghệ được cải thiện và môi trường quản trị số có tiến bộ nhất định. Tuy nhiên, một số điểm nghẽn vẫn tồn tại, đặc biệt là năng lực điều tiết, tính bao trùm và khả năng làm chủ các công nghệ tương lai chưa tương xứng với tốc độ phát triển của thị trường tài sản số. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số khuyến nghị chính sách nhằm tăng cường giáo dục tài chính số, phát triển hạ tầng công nghệ và hoàn thiện khuôn khổ quản trị đối với tài sản mã hóa tại Việt Nam.

Từ khóa: Tiền mã hóa, mức độ tiếp nhận, Việt Nam, chỉ số sẵn sàng mạng lưới.

CRYPTOCURRENCY ADOPTION AND ITS DETERMINANTS:
INSIGHT FROM THE NETWORK READINESS INDEX

Abstract: This study analyzes the current state of cryptocurrency adoption in Vietnam, examining several fundamental conditions related to the adoption process of the Network Readiness Index (NRI). The research uses descriptive statistics and international comparisons based on secondary data from Chainalysis (2021 - 2025), Triple-A (2021 - 2024), Network Readiness Index (2021 - 2025), and the World Bank. The research results show that Vietnam is one of the emerging markets with outstanding cryptocurrency adoption rates globally, as evidenced by its high ranking in the global cryptocurrency adoption index, with approximately 20% of the population owning crypto assets and a cryptocurrency transaction growth rate of nearly 70%. Furthermore, examining the NRI pillars of People, Technology, and Governance reveals that Vietnam possesses several favorable conditions for cryptocurrency adoption, including a relatively high level of individual digital readiness, improved access to technology, and a certain degree of progress in the digital governance environment. However, some bottlenecks remain, particularly in terms of regulatory capacity, inclusiveness, and mastery of future technologies, which are not commensurate with the rapid development of the digital asset market. Based on this, the study proposes several policy recommendations to enhance digital finance education, develop technological infrastructure, and improve the governance framework for cryptocurrencies in Vietnam.

Keywords: Cryptocurrency, cryptocurrency adoption, Vietnam, Network Readiness Index.

Nguồn ảnh: PT và AI)
Ảnh minh họa (Nguồn: PT và AI)

1. Bối cảnh nghiên cứu tiếp nhận tiền mã hóa

Trong bối cảnh chuyển đổi số và Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, hệ thống tài chính toàn cầu đang dịch chuyển mạnh theo hướng số hóa với sự nổi lên của công nghệ chuỗi khối và các loại tài sản số, trong đó tiền mã hóa được xem là một đổi mới có khả năng mở rộng giới hạn của tài chính truyền thống. Một số nghiên cứu ghi nhận tiền mã hóa có thể đem lại lợi ích như giao dịch nhanh, chi phí thấp, tăng minh bạch và bảo mật tốt hơn, đồng thời tạo ra kỳ vọng về những thay đổi đáng kể trong cách thức vận hành của thị trường tài chính và nền kinh tế số (Nguyen Hoang Hai và cộng sự, 2023). Tuy vậy, tiền mã hóa cũng đi kèm các rủi ro và tranh luận lớn về biến động giá, gian lận, rửa tiền, trốn thuế, mức độ hiểu biết của công chúng và những thách thức đối với khung quản trị - giám sát, khiến chủ đề này không chỉ là câu chuyện công nghệ mà còn là vấn đề kinh tế - xã hội - chính sách có tính liên ngành rõ nét (Alnasaa và cộng sự, 2022; Sergio và Wedemeier, 2025). Sự phát triển nhanh chóng của thị trường tiền mã hóa trong những năm gần đây đã làm thay đổi đáng kể bức tranh tài chính toàn cầu. Bên cạnh đó, tổng giá trị giao dịch tiền mã hóa toàn cầu đạt hàng nghìn tỉ USD mỗi năm, với mức độ tham gia ngày càng gia tăng tại nhiều quốc gia (Chainalysis, 2025). Tuy nhiên, xu hướng tiếp nhận tiền mã hóa không diễn ra đồng đều mà có sự khác biệt đáng kể giữa các khu vực và trình độ phát triển kinh tế (Chainalysis, 2025). Trong khi các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ và các nước châu Âu chủ yếu tiếp cận tiền mã hóa dưới góc độ đầu tư tổ chức và đổi mới tài chính, thì nhiều quốc gia đang phát triển lại ghi nhận mức độ tham gia rất cao từ phía người dùng cá nhân.

Trong bối cảnh đó, Việt Nam nổi lên như một trường hợp đặc biệt. Việt Nam thường xuyên nằm trong nhóm các quốc gia có mức độ tiếp nhận tiền mã hóa cao nhất thế giới, với khoảng 20% dân số sở hữu tài sản mã hóa (Chainalysis, 2025). Bên cạnh đó, khu vực châu Á - Thái Bình Dương ghi nhận tốc độ tăng trưởng giao dịch tiền mã hóa gần 70%/năm, phản ánh xu hướng dịch chuyển trọng tâm của thị trường từ các nền kinh tế phát triển sang các nền kinh tế mới nổi. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu phân tích những yếu tố quyết định mức độ tiếp nhận tiền mã hóa, các nghiên cứu tập trung riêng vào trường hợp Việt Nam vẫn còn tương đối ít và chưa khai thác mức độ tiếp cận tiền mã hóa trong tương quan so sánh với các nước và bối cảnh cạnh tranh giữa các nước dưới góc nhìn của NRI. Khoảng trống này cho thấy cần có thêm các nghiên cứu phân tích trường hợp Việt Nam dưới góc nhìn tổng hợp hơn, không chỉ nhằm lý giải nguyên nhân của mức độ tiếp nhận cao mà còn để đánh giá các thách thức quản trị và hàm ý chính sách trong bối cảnh tài chính số phát triển nhanh.

Nghiên cứu này phân tích thực trạng tiếp nhận tiền mã hóa của Việt Nam trong tương quan so sánh với thế giới, ASEAN và khu vực châu Á - Thái Bình Dương từ dữ liệu cập nhật mới nhất - chỉ số tiếp nhận tiền mã hóa toàn cầu (Global Crypto Adoption Index) của Chainalysis giai đoạn 2021 - 2025 và Dữ liệu từ Triple-A giai đoạn 2021 - 2024; đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến tiếp nhận tiền mã hóa của Việt Nam qua các chỉ số thành phần của NRI được Portulans Institute công bố giai đoạn 2021 - 2025.

2. Các tiêu chí đánh giá mức tiếp nhận tiền mã hóa

Tiếp nhận tiền mã hóa thể hiện mức độ mà cá nhân, tổ chức và thị trường chấp nhận, sử dụng hoặc tham gia vào các hoạt động liên quan đến tài sản số. Mức độ tiếp nhận tiền mã hóa là một khái niệm đa chiều, không thể được phản ánh đầy đủ nếu chỉ dựa trên một chỉ báo riêng lẻ, vì vậy, các tác giả sử dụng cả chỉ số tiếp nhận tiền mã hóa, khối lượng giao dịch tiền mã hóa bán lẻ và sở hữu tiền mã hóa.

2.1. Chỉ số tiếp nhận tiền mã hóa

Chỉ số tiếp nhận tiền mã hóa là tiêu chí tổng hợp thường được sử dụng để xác định vị trí tương đối của một quốc gia trong tương quan quốc tế, cung cấp một thước đo khách quan về những quốc gia có mức độ chấp nhận tiền điện tử cao nhất (Chainalysis, 2021). Năm 2021, Chainalysis xây dựng chỉ số dựa trên ba nhóm chỉ báo, gồm giá trị tiền mã hóa nhận được qua những giao dịch trực tiếp trên chuỗi khối (on-chain), giá trị giao dịch bán lẻ trong chuỗi và khối lượng giao dịch trên các sàn ngang hàng (P2P), sau khi điều chỉnh theo các yếu tố như sức mua và số người dùng Internet (Chainalysis, 2021). Giai đoạn 2022 - 2023, Chainalysis mở rộng chỉ số với năm thành phần gồm giá trị nhận được qua dịch vụ tập trung, giá trị bán lẻ qua dịch vụ tập trung, khối lượng giao dịch P2P, giá trị nhận được từ nền tảng tài chính phi tập trung (DeFi) và giá trị bán lẻ từ DeFi (Chainalysis, 2022, 2023). Đến năm 2024, Chainalysis tiếp tục điều chỉnh phương pháp bằng cách loại bỏ chỉ số giao dịch P2P do hoạt động trên các sàn P2P suy giảm mạnh, trong đó có tác động từ việc LocalBitcoins ngừng hoạt động nên còn bốn thành phần, tập trung vào giá trị nhận được qua dịch vụ tập trung, giá trị bán lẻ qua dịch vụ tập trung, giá trị nhận được từ DeFi và giá trị bán lẻ từ DeFi (Chainalysis, 2024). Năm 2025, Chainalysis tiếp tục sử dụng cấu trúc bốn chỉ số thành phần nhưng có sự điều chỉnh nội dung, trong đó chỉ số được thiết kế để phản ánh cả hoạt động bán lẻ và hoạt động tổ chức các quốc gia được xếp hạng theo từng chỉ số thành phần, sau đó được điều chỉnh theo các đặc điểm như quy mô dân số và sức mua, lấy trung bình nhân và chuẩn hóa trên thang điểm từ 0 đến 1 (Chainalysis, 2025). Bài viết này sử dụng chỉ số tiếp nhận tiền mã hóa chủ yếu để nhận diện vị thế tương đối và xu hướng tổng quát của Việt Nam trong so sánh quốc tế thay vì diễn giải sự thay đổi điểm số qua các năm như một chuỗi đo lường hoàn toàn đồng nhất.

2.2. Khối lượng giao dịch tiền mã hóa bán lẻ

Bên cạnh chỉ số tổng hợp, quy mô giao dịch tiền mã hóa bán lẻ là tiêu chí quan trọng phản ánh mức độ tham gia thực tế trong thị trường của nhà đầu tư cá nhân. Giá trị giao dịch cho thấy mức độ các chủ thể thị trường tham gia vào hoạt động mua bán, trao đổi, đầu tư hoặc chuyển dịch tài sản mã hóa trong một khoảng thời gian nhất định. Chainalysis cho rằng, nếu chỉ đơn giản xếp hạng các quốc gia theo khối lượng giao dịch, kết quả sẽ thiên lệch về các quốc gia có mức độ tham gia cao của nhóm nhà đầu tư chuyên nghiệp và tổ chức (Chainalysis, 2021). Vì vậy, trong nghiên cứu về mức độ tiếp nhận tiền mã hóa, đặc biệt tại các nền kinh tế mới nổi như Việt Nam, giao dịch bán lẻ là chỉ báo phù hợp hơn so với tổng khối lượng giao dịch tuyệt đối bởi chỉ báo này phản ánh sát hơn mức độ lan tỏa của hoạt động tiền mã hóa ngoài nhóm nhà đầu tư tổ chức. Chainalysis (2025) cũng sử dụng các giao dịch quy mô bán lẻ được xác định là các giao dịch tiền mã hóa có giá trị dưới 10.000 USD để đo lường hoạt động bán lẻ trong thị trường tiền mã hóa. Cách tiếp cận này tương đồng với nghiên cứu của Feyen và cộng sự (2022), khi nhóm nghiên cứu xem những giao dịch có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 10.000 USD là nhóm phản ánh nhiều hơn việc sử dụng bán lẻ trong thị trường tài sản mã hóa.

2.3. Sở hữu tiền mã hóa

Bên cạnh chỉ số tiếp nhận và quy mô giao dịch bán lẻ, sở hữu tiền mã hóa là một tiêu chí quan trọng để đánh giá chiều rộng của quá trình tiếp nhận. Về mặt đo lường, tiêu chí này thường được phản ánh thông qua số lượng người sở hữu tiền mã hóa hoặc tỉ lệ người sở hữu tiền mã hóa trong tổng dân số. Về phương pháp, Triple-A (2024) cho biết dữ liệu sở hữu tiền kỹ thuật số toàn cầu được xây dựng dựa trên ba nhóm kỹ thuật gồm:

(i) Chấm điểm có trọng số theo quốc gia (Country Weighted Scoring); (ii) Nghiên cứu các trường hợp ngoại lệ (Outlier Research); và (iii) Thu thập dữ liệu sơ cấp (Primary Data Collection) nhằm đạt được bộ số liệu bao quát và chính xác nhất khi kết hợp với nhiều nguồn dữ liệu khác. Đáng chú ý, Triple-A cũng nêu rằng phương pháp chấm điểm của họ được neo vào dữ liệu do Chainalysis cung cấp và sử dụng dữ liệu Chainalysis để xác định mối tương quan giữa điểm chỉ số cụ thể của từng quốc gia và tỉ lệ sở hữu hiện có được báo cáo trong các nghiên cứu thứ cấp, từ đó ngoại suy quy mô sở hữu tiền mã hóa trên phạm vi toàn cầu (Triple-A, 2024). Cách tiếp cận này cũng phù hợp với Alnasaa và cộng sự (2022) khi sử dụng dữ liệu sở hữu hoặc dữ liệu khảo sát về sử dụng tiền mã hóa như chỉ báo bổ sung để phân tích sự khác biệt về mức độ tiếp nhận giữa các quốc gia. Trong nghiên cứu này, quy mô sở hữu tiền mã hóa được sử dụng như một chỉ báo phản ánh chiều rộng của quá trình tiếp nhận chứ không thay thế cho các tiêu chí về mức độ sử dụng hoặc cường độ giao dịch thực tế.

3. Các nhân tố ảnh hưởng đến mức độ tiếp nhận tiền mã hóa

Các nghiên cứu thực nghiệm quốc tế cho thấy mức độ tiếp nhận tiền mã hóa có sự khác biệt đáng kể giữa các quốc gia. Sự khác biệt này không thể được lý giải bằng một nguyên nhân đơn lẻ mà thường phản ánh khách quan thông qua điều kiện công nghệ, đặc điểm kinh tế - xã hội và môi trường thể chế. Nói cách khác, mức độ tiếp nhận tiền mã hóa là kết quả tổng hợp của nhiều điều kiện nền tảng, bao gồm đặc điểm nguồn nhân lực, hạ tầng số, thu nhập, năng lực công nghệ và bối cảnh quản trị (Alnasaa và cộng sự, 2022; Kanga và cộng sự, 2022; Magazzino và cộng sự, 2025; Nguyen Hoang Hai và cộng sự, 2023; Sergio và Wedemeier, 2025; Stupak, 2025). Để đánh giá mức độ sẵn sàng và năng lực của các quốc gia trong việc khai thác công nghệ thông tin và truyền thông để thúc đẩy chuyển đổi số và phát triển kinh tế - xã hội trong đó có mức tiếp nhận tiền mã hóa ở cấp độ quốc gia, khung đánh giá của Portulans Institute thường được sử dụng. NRI là một chỉ số tổng hợp đa chiều, được xây dựng trên bốn trụ cột cơ bản, gồm: Con người, Công nghệ, Quản trị và Tác động; trong đó, mỗi trụ cột được chia thành ba tiểu trụ cột thành phần. Trụ cột Con người đánh giá năng lực số của cá nhân, doanh nghiệp và chính phủ; trụ cột Công nghệ phản ánh mức độ phát triển của hạ tầng số, khả năng tiếp cận công nghệ và mức độ sẵn sàng cho các công nghệ tương lai; còn trụ cột Quản trị xem xét chất lượng thể chế, an ninh mạng và mức độ bao trùm của môi trường số; trụ cột Tác động đo lường những kết quả kinh tế và xã hội do chuyển đổi số mang lại (NRI, 2020). Nghiên cứu tập trung vào các điều kiện đầu vào nền tảng và môi trường hỗ trợ liên quan trực tiếp đến xu hướng tiếp nhận tiền mã hóa tại Việt Nam nên không sử dụng trụ cột Tác động. Các chỉ tiêu NRI được đo theo thang điểm 0-100; điểm càng cao thể hiện mức độ sẵn sàng số càng tốt.

3.1. Con người

Đặc điểm nguồn nhân lực được xem là một nhóm nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến mức độ tiếp nhận tiền mã hóa, trong đó tỉ lệ dân số trong độ tuổi lao động thường được sử dụng như một chỉ báo phản ánh quy mô nhóm người dùng tiềm năng. Về mặt đo lường, chỉ tiêu này được xác định bằng tỉ lệ dân số từ 15 đến 64 tuổi trên tổng dân số (%). Một số nghiên cứu thực nghiệm cho thấy lực lượng lao động trong độ tuổi làm việc có tác động tích cực đến mức độ tiếp nhận tiền mã hóa, do nhóm dân số này thường có khả năng tiếp cận công nghệ, tham gia thị trường lao động, tạo thu nhập và sử dụng các dịch vụ tài chính số cao hơn (Nguyen Hoang Hai và cộng sự, 2023; Sergio và Wedemeier, 2025). Bên cạnh chỉ tiêu dân số trong độ tuổi lao động, nghiên cứu cũng sử dụng một số chỉ báo từ NRI nhằm bổ sung góc nhìn về mức độ sẵn sàng số hóa của người dân. Guo và cộng sự (2025) cũng sử dụng NRI như là chỉ báo đo lường sự phát triển công nghệ và nhận thấy đây là yếu tố tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng tiền điện tử. Trong nghiên cứu này, trụ cột Con người trong NRI được xem xét thông qua ba tiểu trụ cột gồm Cá nhân, Doanh nghiệp và Chính phủ. Trong đó, tiểu trụ cột Cá nhân phản ánh năng lực, mức độ sẵn sàng và khả năng sử dụng công nghệ của người dân; tiểu trụ cột Doanh nghiệp thể hiện khả năng ứng dụng công nghệ và mức độ tham gia của khu vực tư nhân trong môi trường số; còn tiểu trụ cột Chính phủ phản ánh năng lực sử dụng công nghệ của khu vực công trong cung cấp dịch vụ và thúc đẩy chuyển đổi số. Khi đặt trong bối cảnh tiền mã hóa, các chỉ báo này có ý nghĩa bổ trợ trong việc nhận diện khả năng những chủ thể trong nền kinh tế tiếp cận, sử dụng và thích ứng với các nền tảng tài chính số.

3.2. Công nghệ

Hạ tầng số và năng lực công nghệ là điều kiện nền tảng quyết định khả năng tiếp cận và tham gia thị trường tiền mã hóa ở cấp độ cá nhân lẫn quốc gia. Về bản chất, tiền mã hóa là một loại tài sản thuần túy không tồn tại độc lập mà gắn liền hoàn toàn với nền tảng công nghệ từ hệ thống công nghệ chuỗi khối lưu trữ và xác thực giao dịch, đến thiết bị đầu cuối, kết nối Internet và ví điện tử mà người dùng sử dụng hằng ngày. Do đó, các quốc gia có hạ tầng công nghệ phát triển hơn về nguyên tắc sẽ tạo ra môi trường thuận lợi hơn cho sự phổ biến của tiền mã hóa, trong khi những quốc gia còn hạn chế về hạ tầng số sẽ đối mặt với rào cản tiếp cận đáng kể hơn. Trong đó, tiếp cận điện năng được sử dụng như một chỉ báo phản ánh điều kiện hạ tầng cơ bản, được đo lường bằng tỉ lệ dân số được tiếp cận điện năng trên tổng dân số (%). Nguyen Hoang Hai và cộng sự (2023) cũng sử dụng chỉ tiêu này và cho thấy tiếp cận điện năng có liên hệ tích cực với mức độ tiếp nhận tiền mã hóa ở cấp quốc gia. Bên cạnh đó, nghiên cứu sử dụng trụ cột Công nghệ và các tiểu trụ cột thành phần trong NRI nhằm bổ sung góc nhìn về mức độ sẵn sàng công nghệ của Việt Nam trong tương quan quốc tế giai đoạn 2021 - 2025 (NRI, 2021, 2022, 2023, 2024, 2025). Cụ thể, trụ cột Công nghệ được xem xét thông qua tiểu trụ cột Khả năng tiếp cận để phản ánh điều kiện tiếp cận hạ tầng và dịch vụ số; tiểu trụ cột Nội dung số thể hiện mức độ phát triển của hệ sinh thái thông tin, dữ liệu và dịch vụ trực tuyến; tiểu trụ cột Công nghệ tương lai sẽ phản ánh năng lực chuẩn bị và thích ứng với các công nghệ mới. Trong bối cảnh tiền mã hóa, ý nghĩa của các chỉ báo này không chỉ nằm ở khả năng phản ánh hạ tầng số mà còn ở việc cho thấy mức độ sẵn sàng của nền kinh tế đối với các mô hình tài chính số dựa trên công nghệ mới.

3.3. Quản trị

Theo nghiên cứu này, yếu tố quản trị được xem xét thông qua trụ cột Quản trị và các tiểu trụ cột thành phần trong NRI của Việt Nam trong tương quan quốc tế giai đoạn 2021 - 2025. Cụ thể, trụ cột Quản trị bao gồm ba tiểu trụ cột là Niềm tin, Điều tiết và Bao trùm (NRI, 2021, 2022, 2023, 2024, 2025). Trong các tiểu trụ cột của trụ cột Quản trị, tiểu trụ cột Niềm tin phản ánh mức độ an toàn, tin cậy và minh bạch của môi trường số; tiểu trụ cột Điều tiết thể hiện chất lượng khuôn khổ quản lý và năng lực điều chỉnh các hoạt động trong không gian số; và tiểu trụ cột Bao trùm phản ánh khả năng mở rộng tiếp cận công bằng đối với các dịch vụ và cơ hội số. Đối với tiền mã hóa, nghiên cứu nhận thấy nhóm chỉ báo này cho phép đánh giá mức độ sẵn sàng của môi trường thể chế trong việc vừa hỗ trợ đổi mới tài chính số, vừa kiểm soát các rủi ro phát sinh, qua đó tạo nền tảng cho quá trình tiếp nhận tài sản mã hóa an toàn và bền vững hơn. Ở khía cạnh khác, Copestake và cộng sự (2023) cho rằng, tại những quốc gia có nền tảng kinh tế vĩ mô kém ổn định hoặc khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính truyền thống còn hạn chế, người dân có xu hướng sử dụng tiền mã hóa như một công cụ lưu trữ giá trị, chuyển tiền và thay thế cho các dịch vụ tài chính truyền thống. Tuy nhiên, sự gia tăng nhanh chóng của tài sản mã hóa cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro đối với ổn định tài chính, bao gồm làm suy yếu hiệu quả chính sách tiền tệ, gia tăng biến động dòng vốn và tạo ra nguy cơ lan truyền rủi ro sang hệ thống tài chính truyền thống. Thực tiễn cũng cho thấy mức độ tiếp nhận tiền mã hóa ngày càng chịu tác động mạnh từ các yếu tố kinh tế vĩ mô và địa chính trị (TRM, 2026). Trong khi tiền mã hóa tại các quốc gia phát triển chủ yếu mang tính đầu cơ, ở nhiều nền kinh tế mới nổi, tiền mã hóa ngày càng được sử dụng như một công cụ lưu trữ giá trị, chuyển tiền xuyên biên giới và thay thế cho các dịch vụ tài chính truyền thống.

4. Thực trạng tiếp nhận tiền mã hóa của Việt Nam

4.1. Tiếp nhận tiền mã hóa của Việt Nam qua chỉ số tiếp nhận tiền mã hóa

Thực tiễn quốc tế cho thấy thị trường tiền mã hóa tiếp tục mở rộng nhanh trong những năm gần đây, dù đồng thời đối mặt với nhiều biến động lớn như sự sụp đổ của sàn giao dịch sản phẩm phái sinh có liên quan đến tiền điện tử - FTX và xu hướng siết chặt quản lý tại nhiều quốc gia, qua đó làm nổi bật các vấn đề về rủi ro hệ thống và quản trị thị trường (Esparcia và cộng sự, 2024; Vidal-Tomás và cộng sự, 2023). Theo Hình 1, Việt Nam liên tục nằm trong nhóm quốc gia có mức độ tiếp nhận tiền mã hóa cao hơn đáng kể so với mức trung bình toàn cầu trong giai đoạn 2021 - 2025 (Chainalysis, 2021, 2022, 2023, 2024, 2025). Mặc dù chỉ số tiếp nhận của Việt Nam giảm từ mức 1,00 năm 2021 xuống 0,24 năm 2025 nhưng vẫn duy trì vị thế nổi bật trên bảng xếp hạng toàn cầu. Cụ thể, Việt Nam đứng đầu thế giới về chỉ số tiếp nhận tiền mã hóa trong hai năm liên tiếp 2021 - 2022 (Chainalysis, 2021, 2022), sau đó vẫn duy trì vị trí thứ 3 năm 2023, thứ 5 năm 2024 và thứ 4 năm 2025 (Chainalysis, 2023, 2024, 2025). Đáng chú ý, trong giai đoạn 2023 - 2025, Việt Nam luôn nằm trong nhóm 5 quốc gia dẫn đầu toàn cầu, cùng với các thị trường lớn như Ấn Độ, Hoa Kỳ, Pakistan, Nigeria, Indonesia và Brazil. Điều này cho thấy mức độ tiếp nhận tiền mã hóa tại Việt Nam không phải là hiện tượng nhất thời của giai đoạn tăng nóng năm 2021, mà còn phản ánh một xu hướng có tính bền tương đối trong nhóm nền kinh tế mới nổi.

Tiếp nhận tiền mã hóa và nhân tố tác động: Góc nhìn từ chỉ số sẵn sàng mạng lưới

Mặc dù duy trì vị thế cao trên bảng xếp hạng toàn cầu nhưng xu hướng tiếp nhận tiền mã hóa tại Việt Nam có dấu hiệu giảm dần sau năm 2021. Sự suy giảm này cần được đặt trong bối cảnh điều chỉnh chung của thị trường tiền mã hóa toàn cầu bởi vì trong bối cảnh điều kiện kinh tế vĩ mô đầy thách thức; hàng loạt vụ phá sản và thất bại trong ngành công nghiệp tiền điện tử, tổng vốn hóa thị trường tiền điện tử kết thúc năm 2022 (tính đến ngày 01/01/2023) đã đạt ở mức 829 tỉ USD và con số này ghi nhận sự giảm 64% so với đầu năm (Win và cộng sự, 2022), phản ánh giai đoạn “crypto winter” - chỉ thị trường tiền điện tử đang hoạt động kém hiệu quả sau chu kỳ tăng trưởng nóng. Bên cạnh đó, sự sụp đổ của TerraUSD/Luna vào tháng 5/2022 đã lan rộng sang toàn thị trường, khiến Bitcoin giảm xuống mức thấp nhất trong 16 tháng (Yip, 2022), trong khi vụ FTX nộp đơn phá sản vào tháng 11/2022 cùng khoảng 130 công ty liên quan tiếp tục làm suy giảm mạnh niềm tin của nhà đầu tư (Reiff, 2025; Win và cộng sự, 2022).

Có thể thấy rằng, xét trong tương quan với mức trung bình toàn cầu cũng như các khu vực ASEAN và APAC, kết quả tại Hình 1 cho thấy Việt Nam vẫn duy trì mức độ tiếp nhận tiền mã hóa tương đối cao trong suốt giai đoạn nghiên cứu (2021 - 2025). Điều này phản ánh sự phát triển của nền kinh tế số, sự phổ biến của các nền tảng giao dịch trực tuyến và xu hướng gia tăng nhu cầu tiếp cận các tài sản số của người dân. Đồng thời, kết quả cũng cho thấy tiền mã hóa đang dần trở thành một bộ phận đáng chú ý trong hệ sinh thái tài chính số tại Việt Nam, bất chấp những biến động mạnh của thị trường quốc tế. Từ góc độ nghiên cứu, Việt Nam có thể được xem là một trường hợp điển hình để phân tích các yếu tố thúc đẩy mức độ tiếp nhận tiền mã hóa trong bối cảnh nền kinh tế mới nổi đang đẩy mạnh chuyển đổi số và hội nhập tài chính, nơi sự lan tỏa của tiền mã hóa phản ánh sự giao thoa giữa đổi mới công nghệ, tâm lý thị trường và sự chuyển dịch hành vi tài chính của người dân trong xã hội số.

4.2. Tiếp nhận tiền mã hóa của Việt Nam qua khối lượng giao dịch bán lẻ

Quy mô này cho thấy mức độ tiếp nhận tại Việt Nam không chỉ biểu hiện qua thứ hạng chỉ số mà còn thông qua giá trị giao dịch thực tế ở cấp độ người dùng cá nhân và nhà đầu tư bán lẻ. Điểm nổi bật này được thể hiện rõ qua dữ liệu về khối lượng giao dịch tiền mã hóa bán lẻ trong quý I/2026 (Bảng 1). Khối lượng hoạt động tiền mã hóa bán lẻ toàn cầu trong quý I/2026 đạt 979 tỉ USD, giảm 11% so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, Việt Nam cũng ghi nhận xu hướng giảm khi khối lượng giao dịch đạt 31,6 tỉ USD, thấp hơn 22% so với mức 40,4 tỉ USD của quý I/2025. Tuy nhiên, việc Việt Nam vẫn đứng thứ 8 trong nhóm 10 thị trường tiền mã hóa bán lẻ lớn nhất thế giới cho thấy sự suy giảm này chủ yếu phản ánh tác động của chu kỳ điều chỉnh chung trên thị trường toàn cầu hơn là sự suy yếu căn bản của nền tảng người dùng trong nước. Nói cách khác, dù hoạt động giao dịch có thu hẹp trong ngắn hạn, Việt Nam vẫn duy trì cường độ tham gia đáng kể và tiếp tục là một thị trường tiền mã hóa bán lẻ nổi bật trên thế giới.

Tiếp nhận tiền mã hóa và nhân tố tác động: Góc nhìn từ chỉ số sẵn sàng mạng lưới

Thị trường tiền mã hóa toàn cầu năm 2025 tiếp tục đối mặt với biến động mạnh. Tổng vốn hóa thị trường giảm 10,4% so với năm trước và kết thúc năm ở mức 3,0 nghìn tỉ USD, trong đó riêng quý IV giảm 23,7% (Zhong và cộng sự, 2025). Tuy nhiên, sự suy giảm về giá không đồng nghĩa với việc thị trường mất đi hoàn toàn sức hút, bởi khối lượng giao dịch trung bình hằng ngày vẫn đạt mức cao nhất trong năm là 161,8 tỉ USD, trong khi vốn hóa stablecoin tăng 48,9%, lên mức kỷ lục 311,0 tỉ USD (Zhong và cộng sự, 2025). Điều này cho thấy thị trường tiền mã hóa đang chuyển sang trạng thái thận trọng hơn, có chọn lọc hơn, gắn nhiều hơn với hạ tầng tài chính số và nhu cầu sử dụng tài sản số vẫn tiếp tục mở rộng.

4.3. Mức độ sở hữu tiền mã hóa tại Việt Nam

Sở hữu tiền mã hóa trong dân số cũng là một chỉ báo quan trọng phản ánh mức độ tham gia thực tế của người dùng. Bảng 2 cho thấy mức độ sở hữu tiền mã hóa tại Việt Nam duy trì ở mức tương đối cao trong giai đoạn 2021 - 2024, đồng thời phản ánh sự gia tăng đáng kể về quy mô người dùng trên phạm vi toàn cầu. Năm 2021, khoảng 6,1% dân số Việt Nam sở hữu tiền mã hóa, cho thấy Việt Nam đã nằm trong nhóm quốc gia có mức độ tham gia đáng chú ý ngay từ giai đoạn thị trường tăng trưởng mạnh. Đến năm 2023, tỉ lệ này được ghi nhận ở mức khoảng 18,73% dân số, thể hiện sự mở rộng nhanh của nhóm người dùng tiền mã hóa trong nước. Năm 2024, mặc dù tỉ lệ sở hữu của Việt Nam giảm còn khoảng 17,4%, mức này vẫn cao hơn đáng kể so với tỉ lệ sở hữu toàn cầu là 6,8%. Ở cấp độ thế giới, số người sở hữu tiền mã hóa tăng từ khoảng 295 triệu người vào cuối năm 2021 lên khoảng 562 triệu người vào năm 2024. Điều này cho thấy, dù thị trường trải qua giai đoạn điều chỉnh sau năm 2021 và chịu tác động từ các cú sốc lớn như Terra/Luna và FTX, quy mô người dùng toàn cầu vẫn tiếp tục mở rộng. Đối với Việt Nam, tỉ lệ sở hữu cao hơn mặt bằng chung thế giới củng cố nhận định rằng mức độ tiếp nhận tiền mã hóa không chỉ thể hiện qua thứ hạng Chainalysis mà còn được phản ánh qua quy mô tham gia thực tế của người dân.

Tiếp nhận tiền mã hóa và nhân tố tác động: Góc nhìn từ chỉ số sẵn sàng mạng lưới

5. Yếu tố thúc đẩy tiếp nhận tiền mã hóa

5.1. Con người

Nếu nhìn từ bối cảnh thúc đẩy tiếp nhận tiền mã hóa, mức độ tiếp nhận tiền mã hóa của Việt Nam được hỗ trợ bởi một số yếu tố thuận lợi. Trước hết, Bảng 3 cho thấy trụ cột Con người của Việt Nam trong NRI có xu hướng cải thiện ở giai đoạn 2021 - 2025 với điểm số tăng từ 44,26 năm 2021 lên 47,25 năm 2025 (NRI, 2021, 2022, 2023, 2024, 2025). Mức điểm này chứng tỏ Việt Nam luôn cao hơn nhóm thu nhập trung bình thấp và đến năm 2025 đã vượt nhẹ mức trung bình khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cho thấy nền tảng sẵn sàng số hóa của các chủ thể trong nền kinh tế Việt Nam đang được cải thiện. Xét theo các tiểu trụ cột, Cá nhân là điểm mạnh nổi bật khi điểm số của Việt Nam duy trì ở mức cao và vượt cả nhóm thu nhập trung bình thấp lẫn khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong hầu hết giai đoạn nghiên cứu. Điều này phản ánh khả năng tiếp cận, sử dụng và thích ứng công nghệ của người dân Việt Nam tương đối thuận lợi, qua đó hỗ trợ quá trình tiếp nhận các dịch vụ tài chính số, bao gồm tiền mã hóa. Tuy nhiên, tiểu trụ cột Doanh nghiệp còn biến động và có xu hướng giảm về cuối giai đoạn nghiên cứu (2021 - 2025) cho thấy năng lực ứng dụng công nghệ của khu vực tư nhân vẫn là điểm cần tiếp tục cải thiện. Trong khi đó, tiểu trụ cột Chính phủ cải thiện đáng kể từ năm 2023 trở đi đã phản ánh vai trò ngày càng rõ hơn của khu vực công trong thúc đẩy chuyển đổi số và tạo lập môi trường thuận lợi cho các hoạt động tài chính số.

Tiếp nhận tiền mã hóa và nhân tố tác động: Góc nhìn từ chỉ số sẵn sàng mạng lưới

Bên cạnh trụ cột Con người và các tiểu trụ cột thành phần trong NRI, Hình 2 thể hiện lực lượng dân số trong độ tuổi lao động của Việt Nam lớn, mức độ tiếp cận công nghệ ngày càng sâu rộng và khả năng thích ứng nhanh với các nền tảng số tạo ra một nền tảng xã hội thuận lợi cho việc tiếp nhận các sản phẩm tài chính mới. Khi người dùng có thể tiếp cận dễ dàng các ứng dụng, sàn giao dịch, ví điện tử và cộng đồng thông tin trực tuyến, chi phí tham gia vào thị trường tiền mã hóa cũng giảm xuống đáng kể. Có thể thấy rằng, Việt Nam có một số điều kiện nền tảng giúp thúc đẩy tiếp nhận tiền mã hóa, đồng thời là nền kinh tế có tốc độ số hóa nhanh, lực lượng dân số trẻ và khả năng thích ứng công nghệ khá mạnh trong khu vực.

Tiếp nhận tiền mã hóa và nhân tố tác động: Góc nhìn từ chỉ số sẵn sàng mạng lưới

5.2. Công nghệ

Bên cạnh sự thay đổi tích cực về yếu tố con người, Bảng 4 cho thấy trụ cột Công nghệ của Việt Nam trong NRI có xu hướng cải thiện ở giai đoạn 2021 - 2025 với điểm số tăng từ 46,15 năm 2021 lên 52,02 năm 2025 (NRI, 2021, 2022, 2023, 2024, 2025). Mức điểm này luôn cao hơn nhóm thu nhập trung bình thấp và đến năm 2025 đã vượt mức trung bình khu vực châu Á - Thái Bình Dương, phản ánh nền tảng công nghệ của Việt Nam đang được cải thiện tương đối rõ. Xét theo các tiểu trụ cột, Khả năng tiếp cận là điểm mạnh nổi bật khi Việt Nam duy trì mức điểm cao và vượt cả nhóm thu nhập trung bình thấp lẫn khu vực châu Á - Thái Bình Dương trong toàn bộ giai đoạn nghiên cứu. Điều này cho thấy điều kiện tiếp cận hạ tầng số, kết nối và các nền tảng công nghệ của Việt Nam tương đối thuận lợi, qua đó hỗ trợ người dùng tham gia các dịch vụ tài chính số, bao gồm tiền mã hóa. Tuy nhiên, hai tiểu trụ cột Nội dung số và Công nghệ tương lai vẫn là những điểm cần tiếp tục cải thiện. Nội dung số của Việt Nam có sự phục hồi sau năm 2023, nhưng nhìn chung vẫn thấp hơn mức trung bình khu vực châu Á - Thái Bình Dương, cho thấy hệ sinh thái thông tin, dữ liệu và dịch vụ số còn dư địa phát triển. Tương tự, tiểu trụ cột Công nghệ tương lai dù cải thiện so với giai đoạn đầu nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với khu vực nên đã phản ánh năng lực hấp thụ và ứng dụng các công nghệ mới như chuỗi khối, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các hạ tầng công nghệ mới cần tiếp tục được nâng cao. Nhìn chung, nền tảng công nghệ của Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp nhận tiền mã hóa, nhưng để quá trình này diễn ra bền vững hơn, Việt Nam cần cải thiện hơn nữa chất lượng nội dung số và năng lực làm chủ các công nghệ tương lai.

Tiếp nhận tiền mã hóa và nhân tố tác động: Góc nhìn từ chỉ số sẵn sàng mạng lưới

Ngoài ra, Hình 3 cho thấy khả năng tiếp cận điện năng của Việt Nam duy trì ở mức cao trong giai đoạn nghiên cứu. Đây là điều kiện hạ tầng cơ bản nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với quá trình phát triển kinh tế số và tài chính số, bởi các hoạt động liên quan đến tiền mã hóa phụ thuộc trực tiếp vào khả năng sử dụng thiết bị điện tử, kết nối Internet, ví điện tử và các nền tảng giao dịch trực tuyến. So với ASEAN, APAC và mức trung bình toàn cầu, khả năng tiếp cận điện năng cao cho thấy Việt Nam đang sở hữu nền tảng hạ tầng tương đối thuận lợi để hỗ trợ quá trình lan tỏa các sản phẩm tài chính số. Điều này củng cố thêm nhận định từ Bảng 4 rằng yếu tố công nghệ, bao gồm cả hạ tầng số và hạ tầng cơ bản, là một trong những điều kiện quan trọng thúc đẩy mức độ tiếp nhận tiền mã hóa tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra ngày càng mạnh mẽ.

Tiếp nhận tiền mã hóa và nhân tố tác động: Góc nhìn từ chỉ số sẵn sàng mạng lưới

5.3. Quản trị

Trong bối cảnh tiền mã hóa phát triển nhanh nhưng còn nhiều rủi ro về pháp lý, bảo mật, gian lận và bảo vệ nhà đầu tư, năng lực quản trị số giữ vai trò quan trọng trong việc định hướng quá trình tiếp nhận tài sản số. Kết quả ở Bảng 5 cho thấy điểm số trụ cột Quản trị của Việt Nam tăng từ 52,59 điểm năm 2021 lên 61,59 điểm năm 2025, qua đó đã phản ánh sự cải thiện tương đối rõ của môi trường quản trị số. So với nhóm thu nhập trung bình thấp, Việt Nam duy trì lợi thế trong toàn bộ giai đoạn 2021 - 2025 và đồng thời khoảng cách với khu vực châu Á - Thái Bình Dương cũng được thu hẹp một cách đáng kể vào năm 2025. Điểm nổi bật nhất nằm ở tiểu trụ cột Niềm tin, khi điểm số của Việt Nam tăng khá tích cực từ 52,74 lên 80,60 điểm. Sự cải thiện này cho thấy môi trường số đang có chuyển biến tích cực về mức độ an toàn, độ tin cậy và khả năng tạo dựng niềm tin cho các chủ thể tham gia. Đây là điều kiện cần thiết đối với các hoạt động tài chính số, bởi người dùng chỉ có thể mở rộng hành vi giao dịch, lưu trữ và đầu tư trên môi trường số khi cảm nhận được mức độ an toàn nhất định. Tuy vậy, kết quả của tiểu trụ cột Điều tiết lại cho thấy một chiều hướng thận trọng hơn. Mặc dù Việt Nam duy trì điểm số cao hơn nhóm quốc gia thu nhập trung bình thấp trong phần lớn giai đoạn, chỉ tiêu này giảm xuống còn 51,12 điểm vào năm 2025 và thấp hơn mức trung bình khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Điều này hàm ý rằng năng lực điều tiết chưa theo kịp tốc độ phát triển của các hoạt động tài chính số mới, trong đó có tiền mã hóa. Đây cũng là điểm nghẽn quan trọng khi thị trường tài sản số có đặc trưng xuyên biên giới, biến động mạnh và khó kiểm soát bằng các công cụ quản lý truyền thống. Đối với tiểu trụ cột Bao trùm, điểm số của Việt Nam có cải thiện nhẹ từ 48,40 năm 2021 lên 53,05 năm 2025, nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với mức trung bình khu vực. Kết quả này cho thấy quá trình phát triển môi trường số tại Việt Nam đã có sự mở rộng, song mức độ tiếp cận công bằng và toàn diện giữa các nhóm chủ thể vẫn cần tiếp tục được củng cố. Nhìn chung, Bảng 5 cho thấy Việt Nam đã đạt tiến bộ đáng kể về niềm tin và quản trị số nhưng năng lực điều tiết và tính bao trùm vẫn là hai khía cạnh cần được hoàn thiện để hỗ trợ quá trình tiếp nhận tiền mã hóa theo hướng an toàn, minh bạch và bền vững hơn.

Bảng 5. Điểm số trụ cột Quản trị và các tiểu trụ cột thành phần trong NRI của Việt Nam so với tương quan quốc tế giai đoạn 2021 - 2025

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ NRI (2021 - 2025)
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ NRI (2021 - 2025)

Nghiên cứu gần đây của Hạ Thị Thiều Dao và Nguyễn Ngọc Hải Yến (2026) cũng lý giải thêm về sự chưa hoàn chỉnh trong khung pháp lý về tài sản số. Khi ranh giới pháp lý giữa tài sản số, phương tiện thanh toán, hàng hóa số hay sản phẩm đầu tư chưa được định hình đầy đủ, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân đều đối mặt với sự bất định nhất định trong nhận diện rủi ro và tuân thủ. Điều này khiến thị trường có thể phát triển nhanh về bề rộng nhưng thiếu nền tảng ổn định về chiều sâu. Khi đặt Việt Nam trong so sánh với các quốc gia khác, có thể nhận thấy Việt Nam không hoàn toàn giống nhóm quốc gia phát triển cao, nơi tiền mã hóa được tiếp nhận trên nền tảng tài chính số trưởng thành và cơ chế giám sát tương đối hoàn thiện. Việt Nam cũng không hoàn toàn trùng khớp với nhóm quốc gia mà tiền mã hóa lan rộng chủ yếu do bất ổn kinh tế vĩ mô hoặc khủng hoảng niềm tin nghiêm trọng vào hệ thống tài chính chính thức. Thay vào đó, Việt Nam nằm ở vị trí trung gian, nơi động lực tiếp nhận được hình thành đồng thời từ sức hấp dẫn của công nghệ mới, tâm lý đầu tư của xã hội số và khoảng trống điều tiết trong giai đoạn chuyển tiếp.

6. Khuyến nghị chính sách và đề xuất cho Việt Nam

6.1. Tăng cường giáo dục tài chính số

Kết quả phân tích cho thấy, Việt Nam sở hữu lượng người dùng có mức độ sẵn sàng công nghệ ngày càng cao, đồng thời quá trình số hóa diễn ra nhanh chóng đã góp phần thúc đẩy mức độ tiếp nhận tiền mã hóa. Tuy nhiên, khi số lượng người tham gia thị trường gia tăng cùng với sự phổ biến của các nền tảng giao dịch số, nhu cầu nâng cao hiểu biết tài chính số và năng lực quản trị rủi ro cũng trở nên cấp thiết hơn. Điều này xuất phát từ đặc điểm của thị trường tiền mã hóa là biến động mạnh, chứa đựng nhiều rủi ro về thông tin, bảo mật và gian lận công nghệ. Vì vậy, Việt Nam cần đẩy mạnh các chương trình giáo dục tài chính số hướng đến người dân, đặc biệt là nhóm lao động trẻ, sinh viên và nhóm thường xuyên sử dụng các nền tảng số. Nội dung giáo dục cần tập trung vào nguyên lý hoạt động của chuỗi khối, đặc điểm của tài sản số, quản trị rủi ro đầu tư, bảo mật thông tin cá nhân, nhận diện hành vi gian lận tài chính và kỹ năng đánh giá nguồn thông tin trên môi trường trực tuyến. Bên cạnh nhà đầu tư cá nhân, các chương trình nâng cao hiểu biết tài chính số cũng cần được mở rộng đến doanh nghiệp, tổ chức trung gian và cán bộ quản lý nhằm nâng cao khả năng thích ứng với quá trình chuyển đổi số của hệ thống tài chính.

6.2. Phát triển hạ tầng số

Kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ tiếp nhận tiền mã hóa tại Việt Nam có liên hệ đáng kể với tốc độ mở rộng của Internet, điện thoại thông minh và các nền tảng tài chính số. Đồng thời, tỉ lệ tiếp cận điện năng cao trong nhiều năm qua đã tạo điều kiện cho người dùng duy trì kết nối thường xuyên với môi trường số và các nền tảng giao dịch trực tuyến. Tuy nhiên, quá trình phát triển tài sản số không chỉ phụ thuộc vào khả năng tiếp cận Internet mà còn phụ thuộc vào chất lượng hạ tầng số và mức độ an toàn của hệ thống giao dịch. Trong bối cảnh các hoạt động tài chính số ngày càng mở rộng, nguy cơ tấn công mạng, đánh cắp dữ liệu và gian lận công nghệ cũng gia tăng tương ứng. Do đó, Chính phủ cần tiếp tục đầu tư vào hạ tầng Internet tốc độ cao, hệ thống thanh toán điện tử, nền tảng xác thực điện tử nhằm nâng cao tính ổn định và an toàn của các giao dịch tài chính số. Đồng thời, các cơ quan chức năng cần tăng cường đầu tư cho hạ tầng an ninh mạng và hệ thống bảo mật dữ liệu nhằm giảm thiểu rủi ro đối với người dùng trong môi trường giao dịch số. Việc phát triển đồng bộ hạ tầng số không chỉ hỗ trợ thị trường tài sản số mà còn tạo nền tảng cho quá trình chuyển đổi số của hệ thống tài chính và nền kinh tế nói chung.

6.3. Hoàn thiện khuôn khổ quản trị

Kết quả phân tích cho thấy mức độ tiếp nhận tiền mã hóa tại Việt Nam tăng khá nhanh trong khi khuôn khổ pháp lý vẫn chưa hoàn thiện tương ứng với tốc độ phát triển của thị trường. Thực trạng này làm gia tăng khoảng trống quản lý đối với các hoạt động đầu tư, giao dịch và cung cấp dịch vụ liên quan đến tài sản số. Cơ quan quản lý cần xây dựng cơ chế phân loại tài sản số theo đặc điểm và chức năng sử dụng thay vì tiếp cận theo một nhóm chung duy nhất. Việc phân loại rõ ràng sẽ tạo cơ sở cho hoạt động cấp phép, quản lý giao dịch và xử lý tranh chấp trong thực tiễn. Bên cạnh đó, cần ban hành quy định cụ thể đối với các nền tảng cung cấp dịch vụ tài sản số như sàn giao dịch, ví lưu trữ hoặc trung gian thanh toán liên quan đến tài sản số. Các quy định này cần tập trung vào yêu cầu công bố thông tin, quản trị rủi ro, xác minh danh tính khách hàng và phòng, chống rửa tiền. Trong điều kiện hiện nay, Việt Nam nên ưu tiên cơ chế quản lý theo lộ trình và có kiểm soát thay vì cấm hoàn toàn hoặc mở cửa thị trường quá nhanh khi năng lực giám sát còn hạn chế.

Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao hiểu biết tài chính số, phát triển hạ tầng số và tăng cường năng lực giám sát sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng quá trình tiếp nhận tiền mã hóa theo hướng an toàn, minh bạch và bền vững hơn trong thời gian tới.

Tài liệu tham khảo:

1. Alnasaa, M., Gueorguiev, N., Honda, J., Mauro, P., Primus, K., & Rozhkov, D. (2022), Crypto, corruption, and capital controls: Cross-Country Correlations. IMF Working Papers.

2. Chainalysis (2021), The 2021 Global Crypto Adoption Index: Worldwide adoption jumps over 880% with P2P platforms driving cryptocurrency usage in emerging markets. https://www.chainalysis.com/blog/2021-global-crypto-adoption-index/

3. Chainalysis (2022), The 2022 Global Crypto Adoption Index: Emerging markets lead in grassroots adoption, China remains active despite ban, and Crypto Fundamentals Appear Healthy. https://www.chainalysis.com/blog/2022-global-crypto-adoption-index/

4. Chainalysis (2023), The 2023 Global Crypto Adoption Index: Central & Southern Asia are leading the way in Grassroots Crypto Adoption. https://www.chainalysis.com/blog/2023-global-crypto-adoption-index/

5. Chainalysis (2024), The 2024 Geography of Crypto Report: A comprehensive analysis of global cryptocurrency trends. https://www.chainalysis.com/wp-content/uploads/2024/10/the-2024-geography-of-crypto-report-release.pdf

6. Chainalysis (2025), The 2025 Global Adoption Index: India and the United States lead cryptocurrency adoption. https://www.chainalysis.com/blog/2025-global-crypto-adoption-index/

7. Copestake, A., Anh, H. L., Papageorgiou, E., & Tan, B. J. (2023), Macro-Financial Implications of Foreign Crypto Assets for small developing economies. IMF Fintech Note 2023/012, International Monetary Fund, Washington, DC. https://doi.org/10.5089/9798400258367.063

8. Crypto.com Research & Insights Team (2023), Crypto market sizing: Global Crypto Owners reached 425M. Crypto.com. https://crypto.com/en/research/2023-crypto-market-sizing-report

9. Esparcia, C., Escribano, A., & Jareño, F. (2024), Assessing the crypto market stability after the FTX collapse: A study of high frequency volatility and connectedness. International Review of Financial Analysis, 94, 103287. https://doi.org/10.1016/j.irfa.2024.103287

10. Feyen, E. H. B., Kawashima, Y., & Mittal, R. (2022), Crypto-Assets Activity around the World: Evolution and Macro-Financial Drivers. World Bank Policy Research Working Paper. https://doi.org/10.1596/1813-9450-9962

11. Guo, Y., Yousef, E., & Naseer, M. M. (2025), Examining the Drivers and Economic and Social Impacts of Cryptocurrency Adoption. Fintech, 4(1). https://doi.org/10.3390/fintech4010005

12. Hạ Thị Thiều Dao và Nguyễn Ngọc Hải Yến (2026), Quản lý và giám sát tài sản mã hóa: Kinh nghiệm Thái Lan và bài học đối với Việt Nam. Tạp chí Ngân hàng, số 5 (Tháng 3/2026), 49-60.

13. Hon, H., Wang, K., Bolger, M., Wu, W., & Zhou, J. (2022), Crypto market sizing: Global Crypto Owners reaching 300M. Crypto.com. https://crypto.com/en/research/2022-crypto-market-sizing-report

14. Kanga, D., Oughton, C., Harris, L., & Murinde, V. (2022), The diffusion of Fintech, financial inclusion and income per capita. The European Journal of Finance, 28(1), 108-136. https://doi.org/10.1080/1351847X.2021.1945646

15. Le, H. (2022), Vietnam in global top 10 for cryptocurrency ownership rate. Vietnamnet Global. https://vietnamnet.vn/en/vietnam-in-global-top-10-for-cryptocurrency-ownership-rate-814640.html

16. Magazzino, C., Gattone, T., & Horky, F. (2025), Economic and financial development as determinants of crypto adoption. International Review of Financial Analysis, 103. https://doi.org/10.1016/j.irfa.2025.104217

17. NRI (2020), Network Readiness Index 2020: Accelerating digital transformation in a post-Covid Global Economy. Portulans Institute.

18. NRI (2021), Network Readiness Index 2021: Shaping the Global Recovery: How digital technologies can make the post-Covid world more equal. Portulans Institute.

19. NRI (2022), Network Readiness Index 2022: Stepping into the new digital era. How and why digital natives will change the world. Portulans Institute.

20. NRI (2023), Network Readiness Index 2023: Trust in a Network Society: A crisis of the digital age? Portulans Institute.

21. NRI (2024), Network Readiness Index 2024: Building a digital tomorrow: Public-Private Partnerships for digital readines. Portulans Institute.

22. NRI (2025), Network Readiness Index 2025: AI Governance in a Global Context: Policy and regulatory approaches. Portulans Institute.

23. Nguyen Hoang Hai, Pham Thi Bich Ngoc, Pham Thanh Binh & Luu Ngoc Hiep (2023), Factors affecting the adoption of cryptocurrency. VNU Journal of Economics and Business, 3(4), 1-12. https://doi.org/10.57110/vnujeb.v2i6.194

24. Nguyen, T. (2022), Vietnam comes 11th in cryptocurrency owner ratio: UNCTAD. The Investor. https://theinvestor.vn/vietnam-comes-11th-in-cryptocurrency-owner-ratio-unctad-d1445.html

25. Reiff, N. (2025), FTX Crypto Exchange Collapse: Causes, consequences, and lessons. https://www.investopedia.com/what-went-wrong-with-ftx-6828447

26. Sergio, I., & Wedemeier, J. (2025), Global surge: Exploring cryptocurrency adoption with evidence from spatial models. Financial Innovation, 11(1). https://doi.org/10.1186/s40854-025-00765-0

27. Stupak, V. (2025), Economic Risk and Cryptocurrency: What drives Global Digital Asset Adoption? Journal of risk and financial management, 18(8). https://doi.org/10.3390/jrfm18080453

28. Triple-A (2024), The State of Global Cryptocurrency Ownership in 2024. Triple-A.

29. TRM (2026), Q1 2026 Global Crypto Adoption Index. https://www.trmlabs.com/resources/blog/q1-2026-global-crypto-adoption-index

30. Vidal-Tomás, D., Briola, A., & Aste, T. (2023), FTX’s downfall and Binance’s consolidation: The fragility of centralised digital finance. Physica A: Statistical mechanics and its applications, 625, 129044. https://doi.org/10.1016/j.physa.2023.129044

31. Win, W., Hor, B., Lee, S., Dee, W., & Zhong (2022), 2022 Annual Crypto Industry Report. CoinGecko. https://assets.coingecko.com/reports/2022/CoinGecko-2022-Annual-Crypto-Industry-Report.pdf

32. World Bank (2026a), Access to electricity (% of population). https://data.worldbank.org/indicator/EG.ELC.ACCS.ZS

33. World Bank (2026b), Labor force participation rate for ages 15-24, total (%) (national estimate). https://data.worldbank.org/indicator/SL.TLF.ACTI.1524.NE.ZS

34. Yip, R. (2022), An event study on the May 2022 Stablecoin Market Crash (Research Memorandum No. 09/2022; pp. 1-23). Hong Kong Monetary Authority.

35. Zhong, Lee, S., Win, W., Dee, W., & Khei, C. (2025), 2025 Annual Crypto Industry Report. CoinGecko. https://assets.coingecko.com/reports/2025/CoinGecko-2025-Annual-Crypto-Industry-Report.pdf?utm_campaign=2025-annual-report&utm_source=web&utm_medium=display

PGS.,TS. Hạ Thị Thiều Dao *, Bùi Thị Diễm Mi
* Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh, ** NHTMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh

Tin bài khác

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên AI Agent: Ứng xử trước xu hướng tái cấu trúc lao động trí tuệ tại Việt Nam

Phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên AI Agent: Ứng xử trước xu hướng tái cấu trúc lao động trí tuệ tại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của tác nhân trí tuệ nhân tạo (AI Agent) đối với quá trình tái cấu trúc lao động trí tuệ và yêu cầu kỹ năng trong nền kinh tế số, đồng thời đề xuất các định hướng phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cộng tác với trí tuệ nhân tạo (AI), thích ứng với chuyển đổi số và tăng cường năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên AI.
Đảm bảo an toàn hệ sinh thái số: Bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng

Đảm bảo an toàn hệ sinh thái số: Bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng

Để bảo đảm an toàn dữ liệu và tài khoản của khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng trên môi trường mạng, bên cạnh nỗ lực của ngành Ngân hàng trong việc nâng cấp hạ tầng công nghệ bảo mật, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành liên quan trong công tác phòng, chống lừa đảo trực tuyến. Bởi lẽ, nếu các mắt xích trong hệ sinh thái số không được bảo vệ đồng bộ, thì ngay cả lớp xác thực sinh trắc học, dù hiện đại đến đâu, cũng khó phát huy hiệu quả tuyệt đối.
Đánh giá trải nghiệm người dùng ứng dụng di động của Tổ chức tài chính vi mô CEP: Bằng chứng từ phân tích dữ liệu trực tuyến

Đánh giá trải nghiệm người dùng ứng dụng di động của Tổ chức tài chính vi mô CEP: Bằng chứng từ phân tích dữ liệu trực tuyến

Bài viết tiến hành đánh giá trải nghiệm người dùng ứng dụng di động của Tổ chức tài chính vi mô CEP, qua đó làm rõ vai trò của việc nâng cao trải nghiệm người dùng, đồng thời đưa ra một số hạn chế và đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tài chính vi mô trong bối cảnh chuyển đổi số.
Quản trị dữ liệu chủ động trong ngành Ngân hàng: Định hướng và khung triển khai tại Việt Nam

Quản trị dữ liệu chủ động trong ngành Ngân hàng: Định hướng và khung triển khai tại Việt Nam

Bài viết này phân tích khái niệm, đặc trưng và vai trò của quản trị dữ liệu chủ động trong bối cảnh chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đề xuất định hướng và khung triển khai nhằm nâng cao hiệu quả quản trị dữ liệu, hỗ trợ ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và tăng cường năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam.
Kiểm soát rủi ro về tính riêng tư đối với ví điện tử tại Việt Nam: Thách thức và khuyến nghị

Kiểm soát rủi ro về tính riêng tư đối với ví điện tử tại Việt Nam: Thách thức và khuyến nghị

Bài viết này phân tích những rủi ro về quyền riêng tư trong dịch vụ ví điện tử tại Việt Nam từ góc độ người dùng, công nghệ và chính sách, đồng thời đề xuất các giải pháp tăng cường kiểm soát rủi ro, bảo vệ dữ liệu cá nhân và thúc đẩy phát triển hệ sinh thái thanh toán số an toàn, bền vững.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích yêu cầu phát triển hệ sinh thái ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC). Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết lập luận rằng dịch vụ ngân hàng tại IFC cần chuyển từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp xuyên suốt hành trình nhà đầu tư. Khung phân tích chỉ ra năng lực cạnh tranh của IFC là kết quả đầu ra của hệ sinh thái gồm sản phẩm, công nghệ, dữ liệu, pháp lý và quản trị rủi ro. Đánh giá bối cảnh Việt Nam cho thấy cơ hội lớn nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn về định danh xuyên biên giới, chuẩn hóa dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và rủi ro bên thứ ba. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình chính sách ba giai đoạn nhằm phát triển hạ tầng tài chính số an toàn, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực hội nhập tài chính toàn cầu của Việt Nam.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Xem thêm
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy