Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Chính sách
Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng gia tăng, xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và sức mạnh hàng hải, mà phải được đặt trên nền tảng quản trị biển hiện đại, nâng cao năng lực khoa học - công nghệ cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.
aa

Tóm tắt: Biển và đại dương ngày càng giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển, an ninh và vị thế của các quốc gia trong thế kỷ XXI. Trong bối cảnh toàn cầu hóa, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, cách mạng khoa học - công nghệ và những biến động địa chính trị ngày càng sâu sắc, khái niệm quốc gia biển mạnh đã có những thay đổi căn bản, vượt ra ngoài cách tiếp cận truyền thống dựa chủ yếu vào khai thác tài nguyên và sức mạnh hàng hải. Quốc gia biển mạnh được nhận diện bởi năng lực quản trị biển hiện đại, trình độ khoa học và công nghệ biển, khả năng phát triển kinh tế biển xanh, bảo tồn hệ sinh thái biển, bảo đảm quốc phòng, an ninh và chủ quyền quốc gia trên biển, đồng thời tham gia hiệu quả vào các cơ chế hợp tác và quản trị đại dương toàn cầu.

Từ khóa: Quốc gia biển mạnh, kinh tế biển xanh, chủ quyền quốc gia, Việt Nam.

BUILDING A STRONG MARITIME NATION THROUGH MODERN OCEAN GOVERNANCE,
BLUE ECONOMY DEVELOPMENT, AND THE SAFEGUARDING OF NATIONAL SOVEREIGNTY

Abstract: Seas and oceans are playing an increasingly vital role in the development, security, and international standing of nations in the twenty-first century. Amid globalization, the green and digital transitions, rapid advances in science and technology, and increasingly complex geopolitical dynamics, the concept of a strong maritime nation has undergone a fundamental transformation, extending well beyond the traditional approach centered primarily on marine resource exploitation and maritime power. A strong maritime nation is characterized by its capacity for modern ocean governance, advanced marine science and technology, the ability to develop a sustainable blue economy, conserve marine ecosystems, safeguard national defense, security, and sovereignty at sea, and actively participate in global ocean governance and international cooperation mechanisms.

Keywords: Strong maritime nation, blue economy, national sovereignty, Vietnam.

Ảnh minh họa (Nguồn: PT và AI)
Ảnh minh họa (Nguồn: PT và AI)

1. Từ tư duy khai thác biển đến kinh tế biển xanh và quản trị biển

Trong lịch sử phát triển của nhân loại, biển luôn giữ vị trí quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của các quốc gia. Biển không chỉ là không gian sinh tồn, giao thương và giao lưu văn hóa, mà còn là nguồn cung cấp tài nguyên, năng lượng và động lực cho tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, quá trình khai thác, làm chủ và phát huy các giá trị từ biển luôn gắn với sự hình thành và phát triển của nhiều quốc gia.

Từ góc độ lịch sử, quan niệm về quốc gia biển mạnh thường được gắn với sức mạnh hàng hải. Nhà chiến lược hải quân người Mỹ Alfred Thayer Mahan cho rằng, sức mạnh biển là yếu tố quyết định vị thế và ảnh hưởng của một quốc gia trong hệ thống quốc tế. Theo cách tiếp cận này, quốc gia biển mạnh được nhận diện thông qua năng lực kiểm soát các tuyến hàng hải, quy mô đội tàu thương mại, tiềm lực hải quân và tiềm lực khai thác các nguồn lợi từ biển. Đây cũng là nền tảng để nhiều quốc hàng hải như Anh, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và sau này là Hoa Kỳ vươn lên trở thành các cường quốc biển.

Tuy nhiên, bước sang thế kỷ XXI, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, quá trình toàn cầu hóa, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, biến đổi khí hậu và những thách thức môi trường toàn cầu, nội hàm của khái niệm quốc gia biển mạnh đã có sự thay đổi sâu sắc. Nếu như trước đây biển chủ yếu được nhìn nhận dưới góc độ không gian khai thác tài nguyên và phát triển kinh tế thì ngày nay biển còn được xem là một bộ phận hữu cơ của hệ sinh thái toàn cầu, có vai trò quyết định đối với an ninh môi trường, an ninh năng lượng, an ninh lương thực và sự phát triển bền vững của nhân loại.

Sự chuyển biến này phản ánh quá trình thay đổi từ tư duy “chinh phục biển” sang tư duy “quản trị biển”; từ mục tiêu tối đa hóa khai thác tài nguyên sang sử dụng hợp lý, hiệu quả và bền vững các nguồn vốn tự nhiên biển; từ phát triển kinh tế biển theo chiều rộng sang phát triển kinh tế biển xanh dựa trên tri thức, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Trong bối cảnh đó, sức mạnh biển không còn được đo lường đơn thuần bằng sản lượng khai thác tài nguyên, quy mô đội tàu hay năng lực quân sự trên biển mà ngày càng được đánh giá bởi chất lượng thể chế quản trị biển, trình độ khoa học và công nghệ biển, năng lực bảo tồn hệ sinh thái biển, khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và hiệu quả khai thác các giá trị kinh tế mới từ biển.

Trên thế giới, nhiều quốc gia đã điều chỉnh chiến lược phát triển biển theo hướng lấy quản trị đại dương và phát triển bền vững làm trung tâm. Liên hợp quốc đã thông qua Mục tiêu phát triển bền vững số 14 (SDG 14) về bảo tồn và sử dụng bền vững đại dương, biển và tài nguyên biển. Khái niệm kinh tế biển xanh (Blue Economy) được nhiều tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, Ngân hàng Thế giới, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Liên minh Bảo tồn Thiên nhiên Quốc tế (IUCN) thúc đẩy như một mô hình phát triển mới nhằm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và bảo đảm công bằng xã hội. Theo đó, biển không chỉ là nguồn tài nguyên để khai thác mà còn là nguồn vốn tự nhiên cần được bảo tồn, phục hồi và sử dụng hiệu quả cho các thế hệ hiện tại và tương lai.

Từ những thay đổi đó, có thể hiểu quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI là quốc gia có năng lực khai thác, sử dụng hợp lý và hiệu quả các nguồn lực biển; có nền kinh tế biển phát triển hiện đại, xanh và bền vững; có trình độ khoa học, công nghệ biển tiên tiến; có năng lực quản trị biển và đại dương hiện đại; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh, chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển; đồng thời có khả năng tham gia và đóng góp tích cực vào các cơ chế quản trị đại dương khu vực và toàn cầu.

Theo cách tiếp cận này, sức mạnh biển quốc gia được cấu thành bởi nhiều trụ cột có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Đó là sức mạnh kinh tế biển với các ngành kinh tế biển hiện đại, có khả năng cạnh tranh quốc tế; sức mạnh khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển; năng lực quản trị tổng hợp tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; chất lượng môi trường biển và mức độ lành mạnh của các hệ sinh thái biển; năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu và các rủi ro thiên tai biển; cùng với sức mạnh quốc phòng, an ninh và thực thi pháp luật trên biển. Trong đó, quản trị biển hiện đại đóng vai trò là yếu tố trung tâm, bảo đảm sự cân bằng giữa khai thác, sử dụng và bảo tồn các nguồn lực biển.

Đối với Việt Nam, quốc gia có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng ở Biển Đông, với hơn 3.260 km bờ biển, hàng nghìn đảo và quần đảo cùng vùng biển rộng lớn, việc xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ là yêu cầu phát triển kinh tế mà còn là nhiệm vụ chiến lược gắn liền với bảo đảm chủ quyền, an ninh quốc gia, mở rộng không gian phát triển và nâng cao vị thế đất nước.

Trong bối cảnh thế giới đang chuyển mạnh sang mô hình phát triển xanh, kinh tế tuần hoàn và kinh tế carbon thấp, việc tiếp cận quốc gia biển mạnh theo hướng quản trị biển hiện đại, phát triển bền vững và lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo làm động lực sẽ là cơ sở lý luận quan trọng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu trở thành quốc gia biển mạnh, thịnh vượng và phát triển bền vững vào giữa thế kỷ XXI.

2. Sự phát triển trong tư duy của Đảng về xây dựng quốc gia biển mạnh

Nhận thức của Đảng về biển và xây dựng quốc gia biển mạnh được hình thành, bổ sung và phát triển gắn với yêu cầu phát triển đất nước trong từng giai đoạn. Từ chỗ coi biển là không gian sinh tồn, địa bàn chiến lược về quốc phòng, an ninh và phát triển kinh tế, tư duy về biển từng bước được mở rộng theo hướng phát triển bền vững, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia. Quá trình phát triển đó được thể hiện rõ qua các chủ trương, nghị quyết của Đảng từ đầu thời kỳ đổi mới đến nay.

Thứ nhất, hình thành nhận thức về biển là không gian phát triển chiến lược

Trong những năm đầu của thời kỳ đổi mới, Đảng ta đã sớm nhận thức được vai trò chiến lược của biển đối với sự nghiệp phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 06/5/1993 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt là văn kiện đầu tiên đặt nền móng cho việc hình thành tư duy phát triển kinh tế biển trong điều kiện mới.

Tiếp đó, Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 22/9/1997 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa tiếp tục khẳng định vị trí của biển trong chiến lược công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, coi khai thác hiệu quả tiềm năng biển là một động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đặc trưng của giai đoạn này là tư duy phát triển biển chủ yếu dựa trên khai thác tiềm năng và lợi thế tự nhiên của biển nhằm phục vụ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm sinh kế cho nhân dân vùng ven biển, hải đảo và góp phần củng cố thế trận quốc phòng, an ninh trên biển. Đây là nền tảng quan trọng cho việc hình thành các chiến lược phát triển biển ở tầm quốc gia trong giai đoạn tiếp theo.

Thứ hai, xác lập mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển

Một bước phát triển mang tính đột phá trong tư duy của Đảng về biển được thể hiện tại Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020. Lần đầu tiên trong các văn kiện của Đảng, mục tiêu “đưa nước ta trở thành quốc gia mạnh về biển, làm giàu từ biển” được xác lập một cách toàn diện và rõ ràng.

Nghị quyết số 09-NQ/TW đã đặt biển vào vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển đất nước, coi kinh tế biển là động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Đồng thời, khẳng định yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển.

So với giai đoạn trước, điểm mới của Nghị quyết số 09-NQ/TW không chỉ là việc xác lập mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia mạnh về biển mà còn là sự thay đổi trong cách nhìn nhận vai trò của biển đối với sự phát triển đất nước. Biển được đặt trong mối quan hệ thống nhất giữa phát triển kinh tế, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ chủ quyền và mở rộng hợp tác quốc tế. Đây là bước chuyển quan trọng, tạo tiền đề cho việc hình thành tư duy phát triển biển theo hướng toàn diện hơn ở giai đoạn sau.

Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, vấn đề bảo vệ môi trường biển, bảo tồn hệ sinh thái biển, thích ứng với biến đổi khí hậu hay phát triển kinh tế biển xanh chưa thực sự trở thành những nội dung trọng tâm trong hoạch định chính sách.

Thứ ba, chuyển từ tư duy khai thác biển sang phát triển bền vững biển và xây dựng quốc gia biển mạnh toàn diện

Sự phát triển mới trong tư duy của Đảng được thể hiện tập trung tại Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 và Nghị quyết về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.

Nếu như Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 tập trung vào mục tiêu trở thành quốc gia mạnh về biển thì Nghị quyết số 36-NQ/TW đã phát triển tư duy đó lên một tầm cao mới: Xây dựng quốc gia biển mạnh trên nền tảng phát triển bền vững. Đây là sự chuyển đổi có ý nghĩa chiến lược từ tư duy khai thác tài nguyên biển là chủ yếu sang tư duy quản trị biển và đại dương, sử dụng hợp lý các nguồn vốn tự nhiên biển, bảo đảm hài hòa giữa phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái và nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân.

Nghị quyết số 36-NQ/TW xác định phát triển bền vững kinh tế biển phải dựa trên tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo vệ môi trường biển, thích ứng với biến đổi khí hậu và sử dụng hiệu quả tài nguyên biển. Đồng thời lần đầu tiên, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển được xác định là một trong những động lực quan trọng cho phát triển biển trong dài hạn.

Đặc biệt, Nghị quyết số 36-NQ/TW đã xác định ba khâu đột phá chiến lược gồm: Hoàn thiện thể chế và chính sách phát triển bền vững kinh tế biển; phát triển khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực biển chất lượng cao; xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng biển đồng bộ, hiện đại. Đây là những yếu tố nền tảng để nâng cao năng lực quản trị biển quốc gia, tăng cường sức cạnh tranh của các ngành kinh tế biển và tạo lập động lực mới cho phát triển đất nước trong bối cảnh chuyển đổi xanh và chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trên phạm vi toàn cầu.

Trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt và mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đã ban hành Nghị quyết mới về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh. Nghị quyết là xác lập hàng loạt tư duy mới về phát triển biển. Theo đó, Nghị quyết chuyển từ tư duy phát triển kinh tế biển sang xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh; từ khai thác tài nguyên sang quản trị, khai thác hiệu quả không gian biển quốc gia dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; định hướng phát triển quốc gia có năng lực quản trị biển hiện đại, kinh tế biển phát triển, khoa học, công nghệ biển tiên tiến, có năng lực bảo vệ chủ quyền biển, đảo và vị thế quốc tế về biển; phát triển toàn diện sức mạnh quốc gia trên biển, đưa biển thực sự trở thành một trong những trụ cột quan trọng của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Nghị quyết cũng đề xuất mô hình quản trị biển hiện đại, thống nhất, liên thông, dựa trên dữ liệu và quy hoạch không gian biển quốc gia; bảo đảm quản lý tổng hợp, quản trị đồng bộ mặt biển, đáy biển, lòng đất dưới biển, các đảo, vùng ven biển và vùng trời trên biển; đồng thời bảo đảm sự kết nối chặt chẽ giữa đất liền với biển đảo, giữa phát triển kinh tế với quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường. Nghị quyết đề ra mục tiêu tổng quát đến năm 2030; tầm nhìn đến năm 2045, trong đó đề ra 6 nhóm mục tiêu cụ thể với 32 mục tiêu cụ thể cần đạt được trong giai đoạn 2026 - 2030 tạo tiền đề xây dựng và phát triển quốc gia biển mạnh.

Có thể khẳng định rằng, tư duy của Đảng về xây dựng quốc gia biển mạnh đã có bước phát triển rõ rệt cả về mục tiêu, nội hàm và phương thức thực hiện. Nếu ở giai đoạn đầu, trọng tâm là khai thác tiềm năng biển phục vụ phát triển kinh tế thì các nghị quyết ban hành sau này từng bước chuyển sang cách tiếp cận phát triển bền vững, coi biển là không gian phát triển tổng hợp, gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao hiệu quả quản trị. Sự phát triển về tư duy này là cơ sở quan trọng để tiếp tục hoàn thiện chủ trương, chính sách xây dựng Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh trong giai đoạn mới.

3. Thực tiễn xây dựng quốc gia biển mạnh ở Việt Nam

3.1. Những thành tựu nổi bật

Quá trình xây dựng quốc gia biển mạnh ở Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao vị thế quốc gia trên biển.

Thứ nhất, thống nhất nhận thức về vị trí, vai trò của biển

Nhận thức về vị trí, vai trò của biển trong hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội ngày càng được nâng cao. Biển đã thực sự trở thành không gian phát triển chiến lược của đất nước.

Với phần lớn dân số cả nước sinh sống tại 21/34 tỉnh, thành phố ven biển. Đây cũng là nơi tập trung các trung tâm kinh tế, công nghiệp, dịch vụ, cảng biển, khu kinh tế ven biển, căn cứ quốc phòng quan trọng. Kinh tế biển đóng góp khoảng 50% GRDP cả nước, trong đó nhiều địa phương ven biển thuộc nhóm dẫn đầu về thu nhập bình quân.

Thứ hai, kinh tế biển và các ngành kinh tế liên quan đến biển có bước phát triển đáng kể

Hệ thống cảng biển quốc gia từng bước được đầu tư theo hướng hiện đại, kết nối ngày càng hiệu quả với các hành lang kinh tế và mạng lưới logistics khu vực. Các ngành hàng hải, dầu khí, thủy sản, du lịch biển, công nghiệp ven biển và dịch vụ biển tiếp tục duy trì vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nhiều trung tâm kinh tế biển, khu kinh tế ven biển, khu công nghiệp ven biển đã hình thành và trở thành cực tăng trưởng của các vùng kinh tế trọng điểm.

Đặc biệt, các ngành kinh tế biển mới đang từng bước phát triển như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, kinh tế tuần hoàn biển, dịch vụ hậu cần nghề cá hiện đại và các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng công nghệ biển. Đây là những lĩnh vực có tiềm năng trở thành động lực tăng trưởng mới trong giai đoạn tới.

Thứ ba, công tác điều tra cơ bản, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển có nhiều chuyển biến tích cực

Hệ thống pháp luật về biển ngày càng được hoàn thiện; quy hoạch không gian biển quốc gia, quy hoạch tổng thể khai thác và sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ từng bước được triển khai. Công tác quan trắc, giám sát tài nguyên và môi trường biển được tăng cường; nhiều khu bảo tồn biển, khu dự trữ sinh quyển ven biển và các vùng sinh thái quan trọng được thiết lập, góp phần bảo tồn đa dạng sinh học và nâng cao khả năng chống chịu của các hệ sinh thái biển.

Thứ tư, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh, năng lực quản lý nhà nước, thực thi pháp luật trên biển

Các lực lượng Hải quân, Cảnh sát biển, Bộ đội Biên phòng, Kiểm ngư và các lực lượng chức năng khác từng bước được hiện đại hóa, góp phần bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên biển, đồng thời duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển.

Những kết quả đạt được cho thấy chủ trương xây dựng quốc gia mạnh về biển của Đảng đã từng bước được hiện thực hóa trên thực tế, tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam tiếp tục phát triển theo hướng quốc gia biển mạnh, thịnh vượng và bền vững trong thế kỷ XXI.

3.2. Những vấn đề đặt ra trong bối cảnh phát triển mới

Bước vào giai đoạn phát triển mới, quá trình xây dựng quốc gia biển mạnh ở Việt Nam đang đứng trước những yêu cầu và thách thức mới mang tính toàn cầu.

Thứ nhất, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn trên biển ngày càng gia tăng, kéo theo những biến động phức tạp về địa chính trị, địa kinh tế và an ninh hàng hải. Điều này đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục nâng cao năng lực quản trị biển, tăng cường khả năng bảo vệ chủ quyền và chủ động tham gia các cơ chế hợp tác khu vực, quốc tế về biển và đại dương.

Thứ hai, xu thế chuyển đổi xanh và chuyển dịch năng lượng toàn cầu đang mở ra những không gian phát triển mới trên biển. Các lĩnh vực như điện gió ngoài khơi, hydro xanh, năng lượng đại dương, kinh tế tuần hoàn biển và kinh tế carbon thấp đang trở thành những ngành kinh tế chiến lược của nhiều quốc gia biển.

Sự phát triển mạnh mẽ của kinh tế số biển, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, công nghệ vệ tinh và công nghệ biển sâu đang làm thay đổi căn bản phương thức quản lý, khai thác và sử dụng biển. Trong tương lai, năng lực tiếp cận và làm chủ dữ liệu đại dương sẽ trở thành một yếu tố cấu thành quan trọng của sức mạnh biển quốc gia.

Đồng thời, các cơ chế tài chính xanh, thị trường carbon, tín chỉ carbon xanh và các mô hình kinh tế dựa trên hệ sinh thái biển đang mở ra cơ hội mới để khai thác giá trị kinh tế từ bảo tồn thiên nhiên biển. Đây vừa là cơ hội vừa là thách thức đối với Việt Nam trong quá trình chuyển đổi từ mô hình phát triển biển dựa vào khai thác tài nguyên sang mô hình phát triển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Những vấn đề mới nêu trên cho thấy xây dựng quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI không chỉ là bài toán phát triển kinh tế biển đơn thuần mà còn là quá trình nâng cao năng lực quản trị biển quốc gia, làm chủ khoa học - công nghệ biển, bảo vệ môi trường biển, tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia trên biển và chủ động thích ứng với những biến đổi sâu sắc của thời đại.

4. Hướng tới mô hình quốc gia biển mạnh của Việt Nam trong giai đoạn mới

4.1. Cách tiếp cận xây dựng quốc gia biển mạnh

Từ những phân tích về sự phát triển trong tư duy của Đảng và thực tiễn phát triển biển ở Việt Nam thời gian qua có thể thấy rằng, mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI không đơn thuần là phát triển các ngành kinh tế biển hay gia tăng khai thác tài nguyên biển. Trong bối cảnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và những biến động ngày càng phức tạp của môi trường an ninh biển quốc tế, quốc gia biển mạnh cần được tiếp cận như một mô hình phát triển tổng hợp, trong đó biển vừa là không gian sinh tồn, không gian phát triển, vừa là không gian chiến lược bảo đảm an ninh, quốc phòng và nâng cao vị thế quốc gia.

Theo cách tiếp cận đó, quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI có thể được hiểu là quốc gia có năng lực khai thác, quản lý và sử dụng hiệu quả, bền vững các nguồn lực biển; có nền kinh tế biển phát triển hiện đại, xanh và có khả năng cạnh tranh quốc tế; có trình độ khoa học, công nghệ biển tiên tiến; có hệ thống quản trị biển tổng hợp, thống nhất và hiệu quả; có môi trường biển lành mạnh, hệ sinh thái biển được bảo tồn và phục hồi; đồng thời có đủ tiềm lực quốc phòng, an ninh để bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia và các lợi ích quốc gia trên biển.

Đối với Việt Nam, quốc gia biển mạnh không chỉ được đo bằng quy mô kinh tế biển hay mức độ khai thác tài nguyên biển, mà còn được đánh giá bởi khả năng làm chủ khoa học, công nghệ biển, năng lực quản trị biển hiện đại, chất lượng môi trường biển, trình độ hội nhập quốc tế và sức mạnh tổng hợp quốc gia trên biển. Đây cũng là sự phát triển mới trong tư duy về biển của Đảng, phản ánh xu thế phát triển của thế giới từ khai thác biển sang quản trị biển và phát triển bền vững biển.

4.2. Những trụ cột cấu thành quốc gia biển mạnh

Thứ nhất, nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo biển tiên tiến

Trong thế kỷ XXI, khoa học và công nghệ biển ngày càng trở thành yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của các quốc gia biển. Một quốc gia biển mạnh phải có khả năng điều tra cơ bản biển, làm chủ dữ liệu đại dương, công nghệ biển sâu, công nghệ quan trắc và dự báo biển, công nghệ năng lượng biển, công nghệ sinh học biển và các nền tảng số phục vụ quản trị biển. Đối với Việt Nam, khoa học, công nghệ biển cần trở thành động lực đột phá để rút ngắn khoảng cách phát triển, tạo lợi thế cạnh tranh mới và nâng cao năng lực làm chủ không gian biển quốc gia.

Thứ hai, nguồn nhân lực biển chất lượng cao, có năng lực hội nhập quốc tế về biển và đại dương

Quốc gia biển mạnh không thể hình thành nếu thiếu đội ngũ nhân lực có trình độ cao trong các lĩnh vực khoa học biển, công nghệ biển, quản trị biển, luật biển quốc tế, kinh tế biển và quốc phòng, an ninh biển. Đồng thời, cần xây dựng năng lực tham gia sâu rộng vào các cơ chế quản trị đại dương khu vực và toàn cầu, chủ động đóng góp vào giải quyết các vấn đề biển chung của nhân loại.

Thứ ba, hệ thống quản trị và quản lý biển tổng hợp, thống nhất, hiện đại

Đây là một trong những đặc trưng quan trọng nhất của quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI. Quản trị biển không chỉ là quản lý tài nguyên biển mà còn bao gồm quản lý tổng hợp không gian biển, vùng bờ, môi trường biển và các hoạt động phát triển trên biển. Hệ thống quản trị biển hiện đại phải dựa trên dữ liệu số, bằng chứng khoa học, sự phối hợp liên ngành và khả năng dự báo, thích ứng linh hoạt trước các biến động của môi trường tự nhiên và kinh tế - xã hội.

Thứ tư, nền kinh tế biển phát triển xanh và bền vững

Kinh tế biển vẫn là nền tảng vật chất của quốc gia biển mạnh. Tuy nhiên, khác với giai đoạn trước, động lực tăng trưởng trong tương lai sẽ không chủ yếu đến từ khai thác tài nguyên mà đến từ các ngành kinh tế biển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, logistics biển hiện đại, công nghiệp sinh học biển, kinh tế số biển và các ngành kinh tế biển mới nổi khác.

Thứ năm, quốc phòng, an ninh biển hiện đại và đủ sức bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo

Sức mạnh biển quốc gia luôn gắn liền với năng lực bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền và các lợi ích quốc gia trên biển. Quốc phòng, an ninh biển phải đủ khả năng kiểm soát hiệu quả vùng biển, vùng trời và không gian ngầm dưới đáy biển; bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển; đồng thời chủ động ứng phó với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống trên biển.

Năm trụ cột trên có mối quan hệ hữu cơ, tác động qua lại và bổ trợ lẫn nhau, tạo thành cấu trúc nền tảng của mô hình quốc gia biển mạnh Việt Nam trong thế kỷ XXI. Trong đó, khoa học, công nghệ biển và quản trị biển hiện đại đóng vai trò là động lực đột phá; kinh tế biển xanh là nền tảng vật chất; quốc phòng, an ninh biển là điều kiện bảo đảm; còn nguồn nhân lực chất lượng cao và hội nhập quốc tế là yếu tố kết nối Việt Nam với không gian biển và đại dương toàn cầu.

4.3. Một số định hướng lớn để hiện thực hóa mục tiêu quốc gia biển mạnh

Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng quốc gia biển mạnh trong thế kỷ XXI, Việt Nam cần triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ, quản trị và quốc phòng, an ninh biển trên cơ sở phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế biển và phù hợp với xu thế phát triển của thời đại.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và hiện đại hóa quản trị biển quốc gia

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia biển thành công đều xây dựng được hệ thống quản trị biển hiện đại, thống nhất và hiệu quả. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách về biển theo hướng đồng bộ, hiện đại, bảo đảm quản lý tổng hợp tài nguyên và bảo vệ môi trường biển dựa trên tiếp cận hệ sinh thái và quy hoạch không gian biển.

Đồng thời, cần đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý biển; xây dựng cơ sở dữ liệu biển quốc gia thống nhất; hình thành hệ thống quản trị biển thông minh dựa trên dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ số tiên tiến nhằm nâng cao chất lượng dự báo, hoạch định chính sách và quản lý không gian biển.

Thứ hai, tạo đột phá về khoa học, công nghệ biển, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số

Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư diễn ra mạnh mẽ, khoa học, công nghệ biển cần được xác định là động lực đột phá để nâng cao năng lực cạnh tranh và sức mạnh biển quốc gia.

Cần ưu tiên đầu tư cho điều tra cơ bản biển, nghiên cứu biển sâu, công nghệ đại dương, công nghệ năng lượng biển, công nghệ sinh học biển, công nghệ quan trắc và dự báo biển hiện đại. Đồng thời, đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật, công nghệ vệ tinh, công nghệ số song sinh (Digital Twin) và tự động hóa trong quản lý, khai thác và sử dụng không gian biển.

Đây cũng là con đường để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển với các quốc gia biển tiên tiến, tạo bước nhảy vọt trong quản trị và phát triển biển.

Thứ ba, phát triển kinh tế biển xanh trở thành động lực tăng trưởng mới

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng biển theo hướng xanh, tuần hoàn, carbon thấp cần được coi là định hướng chiến lược lâu dài. Trong đó, ưu tiên phát triển các ngành kinh tế biển dựa trên tri thức, công nghệ và đổi mới sáng tạo như năng lượng tái tạo ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, công nghiệp sinh học biển, logistics biển hiện đại, dịch vụ hàng hải chất lượng cao, kinh tế số biển và các ngành kinh tế biển mới nổi.

Đồng thời, cần thúc đẩy các mô hình kinh tế dựa vào hệ sinh thái biển, phát triển tín chỉ carbon xanh, khai thác hợp lý các giá trị của tài nguyên và dịch vụ hệ sinh thái biển nhằm tạo nguồn lực mới cho tăng trưởng và bảo tồn.

Thứ tư, xây dựng nguồn nhân lực biển chất lượng cao và nâng cao năng lực hội nhập quốc tế về biển

Quốc gia biển mạnh trước hết phải là quốc gia có đội ngũ nhân lực biển chất lượng cao. Vì vậy, cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực biển quốc gia gắn với yêu cầu phát triển các ngành kinh tế biển hiện đại và khoa học, công nghệ biển tiên tiến.

Bên cạnh đó, cần chủ động tham gia các cơ chế quản trị đại dương khu vực và toàn cầu; tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu khoa học biển, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao công nghệ và huy động nguồn lực cho phát triển biển bền vững; từng bước nâng cao vai trò và vị thế của Việt Nam trong các vấn đề biển và đại dương quốc tế.

Thứ năm, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển biển với bảo đảm quốc phòng, an ninh và bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo

Xây dựng quốc gia biển mạnh phải luôn gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Cần tiếp tục xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân trên biển vững chắc; hiện đại hóa các lực lượng thực thi pháp luật trên biển; nâng cao năng lực giám sát, kiểm soát vùng biển, vùng trời và không gian ngầm dưới biển.

Đồng thời, kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế biển với củng cố quốc phòng, an ninh; giữa phát triển các trung tâm kinh tế biển, đô thị biển, đảo tiền tiêu với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển; bảo đảm môi trường hòa bình, ổn định để phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Trong giai đoạn phát triển mới, xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ là mục tiêu riêng của chiến lược biển mà cần trở thành một hợp phần quan trọng trong chiến lược phát triển quốc gia. Đó là quá trình chuyển đổi từ khai thác biển sang làm chủ biển; từ phát triển kinh tế biển truyền thống sang kinh tế biển xanh và kinh tế biển tri thức; từ quản lý biển theo ngành sang quản trị biển hiện đại dựa trên khoa học, công nghệ và dữ liệu. Đây chính là con đường để Việt Nam phát huy hiệu quả các nguồn lực biển, nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia trên biển và hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia biển mạnh, thịnh vượng và phát triển bền vững vào giữa thế kỷ XXI.

5. Kết luận

Trong thế kỷ XXI, biển và đại dương ngày càng trở thành không gian chiến lược, quyết định năng lực cạnh tranh và vị thế của nhiều quốc gia. Đối với Việt Nam, xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ nhằm phát triển kinh tế mà còn là nhiệm vụ chiến lược gắn với bảo vệ chủ quyền, bảo đảm quốc phòng, an ninh.

Sự phát triển trong tư duy của Đảng cho thấy bước chuyển từ khai thác tiềm năng biển sang xây dựng quốc gia biển mạnh trên nền tảng phát triển bền vững, phù hợp với xu thế quản trị đại dương và phát triển kinh tế biển xanh. Trong bối cảnh chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sức mạnh biển quốc gia ngày càng được quyết định bởi năng lực khoa học - công nghệ, hiệu quả quản trị biển, phát triển kinh tế biển xanh và khả năng bảo vệ vững chắc chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển. Đây là những nền tảng quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh và phát triển bền vững.

Tài liệu tham khảo

1. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2007 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020.

2. Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

3. Nghị quyết số 03-NQ/TW ngày 06/5/1993 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong những năm trước mắt.

4. Chỉ thị số 20-CT/TW ngày 22/9/1997 của Bộ Chính trị về đẩy mạnh phát triển kinh tế biển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

5. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Báo cáo tổng kết 08 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.

6. Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2026), Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo.

7. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2021), Báo cáo hiện trạng tài nguyên và môi trường biển, hải đảo quốc gia giai đoạn 2016-2020.

8. Đảng Cộng sản Việt Nam (2021), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

9. Intergovernmental Oceanographic Commission - UNESCO (2021), The United Nations Decade of Ocean Science for Sustainable Development (2021-2030), UNESCO, Paris.

10. Nguyễn Chu Hồi (2020), Kinh tế biển xanh - Các vấn đề và cách tiếp cận cho Việt Nam, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

11. Nguyễn Ngọc Sơn, Nguyễn Hữu Tới, Lê Thị Thanh (2026), "Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam sau 8 năm thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW: Kết quả, hạn chế và định hướng chính sách", Tạp chí Môi trường, số 5/2026.

12. Nguyễn Thanh Tùng (2026), "Cơ sở lý luận và thực tiễn về sự cần thiết sửa đổi, bổ sung Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo", Tạp chí Môi trường, số 5/2026.

13. Nghị quyết Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.

14. OECD (2016), The Ocean Economy in 2030, OECD Publishing, Paris.

15. Quốc hội (2015), Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

16. Quốc hội (2020), Luật Bảo vệ môi trường, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội.

17. Quyết định số 892/QĐ-TTg ngày 26/7/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

18. Quyết định số 1117/QĐ-TTg ngày 07/10/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch tổng thể khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên vùng bờ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

19. Tổng Bí thư - Chủ tịch Nước Tô Lâm (2026), "Vì một nền văn minh sinh thái, một Việt Nam xanh và một đại dương hòa bình, bền vững", Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam (VOV), ngày 05/6/2026.

20. United Nations (2015), Transforming Our World: The 2030 Agenda for Sustainable Development, United Nations, New York.

21. United Nations (2023), The Sustainable Development Goals Report 2023: Special Edition, United Nations, New York.

22. United Nations Environment Programme - UNEP (2023), Turning the Tide: How to Finance a Sustainable Ocean Recovery, UNEP, Nairobi.

23. World Bank and United Nations Department of Economic and Social Affairs (2017), The Potential of the Blue Economy: Increasing Long-term Benefits of the Sustainable Use of Marine Resources for Small Island Developing States and Coastal Least Developed Countries, World Bank, Washington, D.C.

24. World Economic Forum (2024), The Future of the Blue Economy and Ocean Governance, World Economic Forum, Geneva.

TS. Nguyễn Đình Đáp, ThS. Nguyễn Thị Ngọc *; Nguyễn Thị Hồng Hà **
* Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam; ** Cục Môi trường - Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Tin bài khác

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bất định chính sách thương mại của Hoa Kỳ không chỉ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực ứng phó trước các cú sốc từ môi trường kinh tế quốc tế và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính - ngân hàng.
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Xem thêm
Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng gia tăng, xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và sức mạnh hàng hải, mà phải được đặt trên nền tảng quản trị biển hiện đại, nâng cao năng lực khoa học - công nghệ cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy