Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Hoạt động ngân hàng
Trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam (Co-opBank) đang khẳng định vai trò hạt nhân trong việc kết nối, phát triển nền tảng số dùng chung và hỗ trợ hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) nâng cao năng lực quản trị, mở rộng dịch vụ tài chính số, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển bền vững khu vực kinh tế hợp tác.
aa

Tóm tắt: Chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu tất yếu đối với hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD), trong đó có hệ thống QTDND. Trong bối cảnh khung pháp lý về TCTD là hợp tác xã (HTX), giám sát QTDND và cơ cấu lại hệ thống đang tiếp tục được hoàn thiện, Co-opBank có vai trò quan trọng trong việc kết nối, hỗ trợ, chuẩn hóa quy trình, phát triển nền tảng số dùng chung, hỗ trợ hệ thống QTDND chuyển đổi số và nâng cao năng lực phục vụ thành viên của các QTDND. Bài viết phân tích vai trò của Co-opBank trong tiến trình chuyển đổi số cùng hệ thống QTDND, các kết quả bước đầu, những thách thức đặt ra và một số định hướng triển khai trong giai đoạn tới.

Từ khóa: Co-opBank, QTDND, chuyển đổi số, ngân hàng số, tài chính toàn diện.

CO-OPBANK: A KEY DRIVER OF DIGITAL TRANSFORMATION
IN PEOPLE'S CREDIT FUND SYSTE

Abstract: Digital transformation is becoming an inevitable requirement for the system of credit institutions, including the network of People's Credit Funds. In the context of an evolving legal framework governing cooperative credit institutions, comprising Co-operative Bank of Viet Nam (Co-opBank), People's Credit Funds, People's Credit Fund supervision and the restructuring of system play pivotal role in connecting, supporting, and standardizing operational processes, developing shared digital platforms, facilitating digital transformation across People's Credit Fund network, and enhancing the capacity of People's Credit Fund to serve their members. This article analyzes the role of Co-opBank in the digital transformation process of People's Credit Fund system, highlights initial achievements, discusses emerging challenges, and proposes several directions for implementation in the coming period.

Keywords: Co-opBank, People's Credit Fund, digital transformation, digital banking, financial inclusion.

1. Chuyển đổi số và yêu cầu đặt ra đối với hệ thống QTDND

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ trong toàn bộ nền kinh tế nói chung, ngành Ngân hàng nói riêng, hệ thống TCTD là HTX đang đứng trước yêu cầu đổi mới mạnh mẽ, toàn diện về quản trị mô hình hoạt động, hạ tầng công nghệ, phương thức cung ứng dịch vụ và năng lực quản trị rủi ro. Đối với hệ thống QTDND, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi cạnh tranh gia tăng từ các ngân hàng thương mại (NHTM), các tổ chức công nghệ tài chính (Fintech) với sản phẩm, dịch vụ số đang từng bước tham gia vào thị trường ngách vốn có của QTDND. Trong bối cảnh đó các QTDND vừa phải bảo đảm an toàn hoạt động, vừa từng bước đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của thành viên và người dân tại địa bàn nông nghiệp, nông thôn, vùng sâu, vùng xa để duy trì gắn kết khách hàng.

Khác với các NHTM có tiềm lực tài chính, công nghệ và nhân sự lớn, đa số các QTDND hoạt động với quy mô nhỏ, địa bàn hẹp, nguồn lực hạn chế và năng lực đầu tư công nghệ chưa đồng đều. Do đó, nếu mỗi QTDND tự triển khai chuyển đổi số một cách riêng lẻ sẽ gặp nhiều khó khăn về chi phí, nhân sự, an toàn thông tin, khả năng tích hợp hệ thống cũng như việc đáp ứng tuân thủ các yêu cầu quản lý ngày càng cao.

Trong bối cảnh đó, vai trò của Co-opBank có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Co-opBank và QTDND đều là TCTD được tổ chức hoạt động theo mô hình HTX; Co-opBank không chỉ là đầu mối điều hòa mà là ngân hàng của tất cả các QTDND nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống QTDND. Đây là cơ sở để Co-opBank phát huy vai trò ngân hàng đầu mối trong quá trình chuẩn hóa, kết nối và hỗ trợ chuyển đổi số đối với các QTDND. Thông qua việc phát triển các nền tảng số như CF-eBank, ngân hàng số, CFeBiz, Payment Hub, PRMS và các công cụ hỗ trợ vận hành, Co-opBank có thể giúp QTDND tiếp cận công nghệ hiện đại với chi phí hợp lý, đồng thời bảo đảm tính an toàn, đồng bộ và khả năng kiểm soát trên phạm vi toàn hệ thống.

Có thể nói, chuyển đổi số đối với hệ thống QTDND không đơn thuần là việc đưa công nghệ vào hoạt động ngân hàng, mà là quá trình tái cấu trúc phương thức vận hành, chuẩn hóa quy trình, nâng cao năng lực quản trị, mở rộng kênh tiếp cận dịch vụ tài chính và củng cố niềm tin của thành viên đối với mô hình TCTD là HTX.

2. Vai trò hạt nhân của Co-opBank trong chuyển đổi số hệ thống QTDND

Trong cấu trúc TCTD là HTX ở Việt Nam, khác với mô hình NHTM truyền thống hoạt động với mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận, Co-opBank hoạt động với sứ mệnh xuyên suốt là điều hòa vốn, hỗ trợ, liên kết và bảo đảm an toàn cho hệ thống QTDND. Hoạt động của Co-opBank gắn chặt với sự ổn định và phát triển bền vững của gần 1.200 QTDND trên toàn quốc. Chính đặc thù này tạo nên cách tiếp cận riêng của Co-opBank trong chuyển đổi số: Lấy hệ thống QTDND làm trung tâm, lấy an toàn làm nền tảng, lấy hiệu quả phục vụ thành viên làm thước đo và lấy tài chính toàn diện làm mục tiêu dài hạn.

Trong tiến trình chuyển đổi số ngành Ngân hàng hiện nay, hệ thống QTDND đang đứng trước yêu cầu phải đổi mới mạnh mẽ mô hình hoạt động nhằm thích ứng với xu thế thanh toán số, ngân hàng số và nhu cầu ngày càng cao của khách hàng đối với các dịch vụ ngân hàng hiện đại. Tuy nhiên, với đặc thù phần lớn QTDND có quy mô nhỏ, hoạt động tại khu vực nông thôn, năng lực tài chính và công nghệ còn hạn chế, việc tự triển khai chuyển đổi số theo hướng độc lập đang đặt ra rất nhiều khó khăn về chi phí đầu tư, nguồn nhân lực, an toàn bảo mật và khả năng kết nối hệ thống.

Do đó, vai trò của Co-opBank không chỉ đơn thuần là ngân hàng cung ứng dịch vụ cho QTDND, mà thực chất đang từng bước trở thành trung tâm hạ tầng số, trung tâm kết nối và trung tâm hỗ trợ chuyển đổi số cho toàn hệ thống QTDND nhằm giúp các QTDND có thể tiếp cận công nghệ hiện đại với chi phí hợp lý, đồng thời bảo đảm tính đồng bộ, an toàn và khả năng kết nối trên phạm vi toàn quốc. Đây chính là vai trò Co-opBank cần tiếp tục phát huy trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đang cơ cấu lại tổng thể hệ thống QTDND và Co-opBank giai đoạn 2025 - 2030, định hướng đến năm 2045.

3. Những khoảng trống cần lấp đầy trong chuyển đổi số hệ thống QTDND

Mặc dù đã đạt được những kết quả tích cực, quá trình chuyển đổi số của hệ thống QTDND vẫn đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức và còn khoảng cách đáng kể so với mặt bằng chung của ngành Ngân hàng. Những khó khăn này không chỉ xuất phát từ yếu tố công nghệ mà còn liên quan đến mô hình tổ chức, nguồn lực tài chính, năng lực nhân sự, mức độ sẵn sàng về dữ liệu và yêu cầu tuân thủ ngày càng cao trong hoạt động ngân hàng.

Trước hết, hạ tầng công nghệ và năng lực bảo đảm an toàn thông tin còn ở mức yếu và rời rạc, chưa đồng đều giữa các QTDND. Đặc biệt là khu vực nông nghiệp, nông thôn, việc đầu tư hệ thống thiết bị, đường truyền, phần mềm nghiệp vụ và công cụ bảo mật chuyên sâu còn gặp khó khăn do nguồn lực hạn chế. Mức độ kết nối và tích hợp với các nền tảng dùng chung chưa cao, ảnh hưởng đến khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu, mở rộng dịch vụ số và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về an toàn thông tin, phòng, chống gian lận và bảo vệ dữ liệu khách hàng.

Bên cạnh đó, nguồn dữ liệu chưa thực sự trở thành nguồn lực phục vụ quản trị và phát triển dịch vụ. Mặc dù hoạt động của các QTDND tạo ra lượng tương đối lớn dữ liệu về thành viên, khách hàng, giao dịch, tiền gửi, tín dụng và thanh toán, song phần lớn trong tình trạng “có dữ liệu nhưng chưa sẵn sàng dùng dữ liệu”. Các luồng thông tin chủ yếu là giao dịch đơn lẻ, lưu trữ phân tán và chưa được cấu trúc chuẩn hóa. Việc khai thác dữ liệu để phục vụ phân tích hành vi khách hàng, vận hành hay hỗ trợ ra quyết định, nâng cao chất lượng phục vụ thành viên, cảnh báo sớm rủi ro và phát triển sản phẩm phù hợp với từng địa bàn còn hạn chế. Đây là một trong những điểm nghẽn quan trọng cần được tháo gỡ thông qua việc chuẩn hóa dữ liệu, tăng cường kết nối hệ thống và từng bước hình thành năng lực quản trị dựa trên dữ liệu trong hệ thống QTDND.

Sản phẩm, dịch vụ số dành cho các thành viên QTDND còn nhiều dư địa để phát triển. Trong khi các NHTM đã đẩy mạnh ngân hàng số toàn diện thì phần lớn QTDND vẫn chủ yếu cung cấp các dịch vụ truyền thống, hoặc hỗ trợ qua các kênh điện tử sơ khai như SMS, giao dịch tại quầy. Các điểm chạm số như Mobile Banking, Web banking, thanh toán điện tử, định danh trực tuyến, dịch vụ số cho hộ sản xuất và hộ kinh doanh cần tiếp tục được mở rộng; hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ số phù hợp với năng lực vận hành của QTDND và hành vi sử dụng dịch vụ của thành viên cần tiếp tục phát triển nhằm nâng cao trải nghiệm khách hàng, tăng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, ngân hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh của khu vực TCTD là HTX.

Một thách thức quan trọng khác đối với hệ thống QTDND là năng lực tổ chức triển khai và nguồn nhân lực số. Chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng không chỉ là đầu tư công nghệ mà còn đòi hỏi thay đổi tư duy quản trị, quy trình nghiệp vụ và phương thức phục vụ thành viên. Tuy nhiên, nhiều QTDND có quy mô nhỏ, nguồn lực tài chính và nhân sự còn hạn chế, cán bộ thường kiêm nhiệm nhiều nhiệm vụ nên gặp khó khăn trong việc xây dựng kế hoạch, bố trí nhân sự chuyên trách và duy trì nguồn lực triển khai. Điều này đòi hỏi sự hỗ trợ đồng bộ về đào tạo, hướng dẫn nghiệp vụ, hỗ trợ kỹ thuật, chuẩn hóa quy trình và phát triển các nền tảng dùng chung.

4. Co-opBank xây dựng hệ sinh thái số đồng hành cùng hệ thống QTDND

Trong bối cảnh chuyển đổi số đang trở thành yêu cầu tất yếu của ngành Ngân hàng, Co-opBank đã chủ động xây dựng và triển khai hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ và nền tảng công nghệ theo hướng đồng bộ, lấy hệ thống QTDND làm trung tâm. Với vai trò ngân hàng đầu mối của hệ thống QTDND, Co-opBank không chỉ thực hiện chức năng điều hòa vốn, hỗ trợ thanh khoản và bảo đảm an toàn hệ thống mà còn đóng vai trò dẫn dắt, hỗ trợ các QTDND tiếp cận công nghệ, chuẩn hóa hoạt động và từng bước tham gia vào tiến trình chuyển đổi số quốc gia.

Hệ sinh thái số của Co-opBank được phát triển theo hướng kết hợp giữa hạ tầng thanh toán hiện đại, các công cụ hỗ trợ quản trị, vận hành và bộ sản phẩm dịch vụ số phục vụ trực tiếp thành viên, khách hàng của QTDND. Nổi bật trong đó là các nền tảng Co-opBank Mobile Banking, CF-eBank, Co-opBank CFeBiz, hệ thống Payment Hub cùng các dịch vụ thu hộ, chi hộ, chi trả lương và các giải pháp hỗ trợ vận hành từ xa. Thông qua các nền tảng này, các QTDND có thể kết nối trực tiếp với hệ thống công nghệ của Co-opBank, thực hiện giao dịch nhanh chóng, an toàn, đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý dòng tiền, giảm chi phí vận hành và mở rộng khả năng cung ứng dịch vụ ngân hàng số tại địa phương.

Trong số các giải pháp đã triển khai, hệ thống ngân hàng điện tử CF-eBank tiếp tục khẳng định vai trò là hạ tầng thanh toán trọng yếu kết nối Co-opBank với mạng lưới QTDND trên toàn quốc. Tính đến ngày 30/4/2026, đã có 1.013 QTDND tham gia hệ thống, chiếm khoảng 87% tổng số QTDND đang hoạt động, tăng mạnh so với 663 QTDND vào năm 2022. Giai đoạn 2022 - 2025, doanh số chuyển tiền đi qua CF-eBank tăng từ 40.485 tỉ đồng lên 146.229 tỉ đồng; doanh số chuyển tiền đến tăng từ 19.191 tỉ đồng lên 130.587 tỉ đồng. Riêng trong bốn tháng đầu năm 2026, các QTDND đã thực hiện hơn 1,1 triệu giao dịch chuyển tiền với tổng giá trị vượt 100 nghìn tỉ đồng thông qua hệ thống này. Bên cạnh chức năng thanh toán, CF-eBank còn hỗ trợ mở mới hàng chục nghìn hợp đồng tiền gửi điện tử và triển khai dịch vụ chi lương cho hàng trăm QTDND, góp phần thúc đẩy quá trình số hóa các hoạt động nghiệp vụ trong toàn hệ thống.

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Song song với việc phát triển hạ tầng thanh toán, Co-opBank cũng từng bước hoàn thiện bộ giải pháp tài chính số dành cho thành viên QTDND, hộ gia đình và hộ kinh doanh. Các sản phẩm như Mobile Banking, định danh điện tử eKYC, thẻ chip Co-opBank Napas tích hợp tính năng thấu chi, tài khoản số đẹp, Alias, loa thanh toán và các giải pháp bán hàng số đã góp phần nâng cao trải nghiệm khách hàng và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính hiện đại tại khu vực nông thôn. Việc kết nối với các công ty Fintech, hệ thống thuế điện tử (eTax) và các dịch vụ chi trả an sinh xã hội cũng tạo điều kiện để các QTDND từng bước trở thành điểm cung ứng dịch vụ tài chính số thiết yếu tại địa phương.

Nhờ sự phát triển đồng bộ của hệ sinh thái số, quy mô hoạt động ngân hàng số của Co-opBank đã tăng trưởng mạnh trong những năm gần đây. Giai đoạn 2022 - 2025, số lượng giao dịch số tăng từ 1,6 triệu lên gần 13,8 triệu giao dịch; giá trị giao dịch tăng từ gần 36 nghìn tỉ đồng lên hơn 200 nghìn tỉ đồng. Đến ngày 30/4/2026, tỉ trọng giao dịch trên các kênh số đạt khoảng 90% tổng số giao dịch của ngân hàng. Số lượng tài khoản thanh toán đạt hơn 583.000 tài khoản, tăng trên 460% so với cuối năm 2021; trong đó hơn 280.000 tài khoản thuộc cán bộ, thành viên và khách hàng do QTDND giới thiệu. Cùng với đó, hơn 457.000 khách hàng đã đăng ký và kích hoạt Co-opBank Mobile Banking, gần 193.000 thẻ chip Co-opBank Napas được phát hành cho cán bộ và thành viên QTDND. Đáng chú ý, quy mô tiền gửi không kỳ hạn (CASA) tăng gần bốn lần trong cùng giai đoạn, cho thấy mức độ gắn kết ngày càng cao của khách hàng với hệ sinh thái số của Co-opBank.

Bên cạnh việc phát triển sản phẩm, dịch vụ, Co-opBank đặc biệt chú trọng hỗ trợ các QTDND chuẩn hóa hoạt động quản trị và vận hành theo hướng số hóa. Các hệ thống như PRMS, CFeAM và CFePCF được triển khai nhằm hỗ trợ quản lý dữ liệu, báo cáo, giám sát từ xa và khởi tạo dịch vụ trực tuyến, giúp nâng cao tính minh bạch, tăng cường năng lực quản trị rủi ro và rút ngắn thời gian tiếp cận các sản phẩm, dịch vụ mới. Đồng thời, Co-opBank phối hợp với Hiệp hội QTDND Việt Nam nghiên cứu, xây dựng hơn 30 bộ quy trình, quy chế và hướng dẫn nghiệp vụ mẫu nhằm hỗ trợ các QTDND chuẩn hóa hoạt động quản trị, điều hành và triển khai sản phẩm dịch vụ số một cách đồng bộ trong toàn hệ thống.

Co-opBank: Hạt nhân thúc đẩy chuyển đổi số hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân

Một trong những điểm nhấn đáng chú ý là việc triển khai mô hình đại lý thanh toán giữa Co-opBank và QTDND theo quy định của NHNN. Mô hình này giúp mở rộng mạng lưới cung ứng dịch vụ thanh toán hiện đại tới các khu vực nông nghiệp, nông thôn, đồng thời phát huy lợi thế về độ phủ và sự am hiểu địa bàn của các QTDND. Qua đó, người dân ở vùng sâu, vùng xa có thêm cơ hội tiếp cận các dịch vụ ngân hàng số một cách thuận tiện, an toàn và chi phí hợp lý.

Nhận thức rõ con người là yếu tố quyết định thành công của chuyển đổi số, Co-opBank cũng đẩy mạnh công tác đào tạo và hỗ trợ vận hành cho hệ thống QTDND. Giai đoạn 2022 - 2025, ngân hàng đã tổ chức 26 khóa đào tạo với hơn 10.395 lượt cán bộ tham gia, tập trung vào các lĩnh vực như thanh toán, tín dụng, kế toán, kiểm toán, an toàn bảo mật, quản trị rủi ro và vận hành các nền tảng công nghệ số. Các chương trình đào tạo chuyên sâu về CF-eBank, Payment Hub và đại lý thanh toán đã giúp đội ngũ cán bộ QTDND từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực phục vụ thành viên và khách hàng.

Cùng với hỗ trợ kỹ thuật và đào tạo, Co-opBank triển khai nhiều cơ chế khuyến khích chuyển đổi số như chia sẻ doanh thu dịch vụ ngân hàng số, hỗ trợ phí SMS Banking và miễn 100% phí chuyển tiền, thanh toán hóa đơn, phí duy trì dịch vụ số cho QTDND, cán bộ, thành viên và khách hàng do QTDND giới thiệu. Các chính sách này không chỉ góp phần giảm chi phí hoạt động mà còn tạo động lực thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và mở rộng hệ sinh thái số trong toàn hệ thống.

Những kết quả đạt được cho thấy chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng giúp nâng cao năng lực quản trị, khả năng cạnh tranh và chất lượng phục vụ của hệ thống QTDND. Đồng thời, quá trình này cũng góp phần mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, ngân hàng hiện đại cho người dân khu vực nông nghiệp, nông thôn, qua đó thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển kinh tế địa phương. Nỗ lực đó đã được ghi nhận khi Co-opBank tiếp tục được Hiệp hội các liên đoàn Quỹ tín dụng thế giới (World Council of Credit Unions - WOCCU) trao giải thưởng Digital Growth Award 2026, đánh dấu lần thứ hai ngân hàng nhận được giải thưởng này sau năm 2023. Đây không chỉ là sự ghi nhận đối với những kết quả chuyển đổi số của Co-opBank mà còn khẳng định hiệu quả của mô hình phát triển hạ tầng số dùng chung, góp phần nâng cao vị thế của hệ thống QTDND trong cộng đồng tín dụng hợp tác quốc tế.

5. Định hướng phát triển chuyển đổi số cùng hệ thống QTDND đến năm 2030

Trong giai đoạn tới, chuyển đổi số cùng hệ thống QTDND của Co-opBank cần được nhìn nhận như một cấu phần quan trọng trong chiến lược phát triển và cơ cấu lại hệ thống các TCTD là HTX. Mục tiêu không chỉ là mở rộng sản phẩm, dịch vụ số, mà còn là hình thành năng lực số dùng chung cho toàn hệ thống, góp phần nâng cao an toàn hoạt động, hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh của QTDND.

Dựa trên mức độ sẵn sàng và nền tảng hiện tại của các Quỹ, Co-opBank hoạch định lộ trình chuyển đổi số qua ba giai đoạn then chốt:

Giai đoạn 1 (2026 - 2028): Tập trung chuẩn hóa nền tảng và hoàn thiện thể chế, với mục tiêu chính là chuẩn hóa nền móng thể chế, hoàn thiện các quy định nội bộ, củng cố hạ tầng công nghệ, an toàn thông tin, dữ liệu, cơ chế phối hợp giữa Co-opBank với các QTDND và từng bước hình thành nền tảng tổ chức cho chuyển đổi số đồng bộ trong hệ thống.

Giai đoạn 2 (2029 - 2030): Tập trung triển khai thí điểm theo cụm và phát triển nền tảng dùng chung. Đây là giai đoạn có ý nghĩa quan trọng nhằm kiểm nghiệm mô hình, lựa chọn nhóm QTDND có mức độ sẵn sàng phù hợp để thí điểm các giải pháp số, nền tảng thanh toán, báo cáo, quản trị dữ liệu, công cụ hỗ trợ vận hành và phục vụ thành viên; trên cơ sở đó rút kinh nghiệm và hoàn thiện mô hình trước khi mở rộng chung cho toàn hệ thống.

Giai đoạn 3 (sau năm 2030): Hướng tới tích hợp, mở rộng và tối ưu hóa hệ sinh thái số. Trọng tâm của giai đoạn này là tăng cường liên thông dữ liệu, mở rộng các dịch vụ số phục vụ thành viên, cảnh báo rủi ro, tối ưu trải nghiệm người dùng, nâng cao năng lực phân tích dữ liệu và từng bước hình thành hệ sinh thái tài chính số gắn với khu vực kinh tế tập thể, HTX.

Để hiện thực hóa lộ trình này, Co-opBank cần tiếp tục triển khai đồng bộ năm nhóm giải pháp: (i) Hoàn thiện về thể chế và tiếp tục rà soát, hoàn thiện các quy định nội bộ, quy trình nghiệp vụ, cơ chế phối hợp, phân định rõ trách nhiệm giữa Co-opBank với các QTDND trong quá trình chuyển đổi số; (ii) Phát triển nguồn nhân lực số; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cho cán bộ Co-opBank và thu hút nguồn nhân lực có năng lực công nghệ - ngân hàng; từng bước hình thành tư duy chuyển đổi số, văn hóa số và năng lực vận hành dịch vụ số trong toàn hệ thống. Đây là giải pháp "gốc rễ" để biến công nghệ thành sức mạnh thực tế; (iii) Chuẩn hóa về quy trình và xây dựng nền tảng dữ liệu tập trung: Hỗ trợ các QTDND chuẩn hóa các quy trình nghiệp vụ, dữ liệu đầu vào, báo cáo và phương thức trao đổi thông tin, tạo cơ sở cho quản trị, giám sát và cảnh báo rủi ro, hỗ trợ ra quyết định dựa trên dữ liệu; (iv) Phát triển các nền tảng số dùng chung và tăng cường tích hợp: Ưu tiên phát triển hạ tầng thanh toán, kênh giao dịch điện tử, hệ thống báo cáo, công cụ quản lý tích hợp linh hoạt và các nền tảng số dùng chung, giúp các QTDND dễ dàng tiếp cận các dịch vụ hiện đại mà không cần đầu tư hạ tầng riêng lẻ tốn kém; (v) Xây dựng cơ chế hỗ trợ tài chính, kỹ thuật đặc thù cho QTDND: Tiếp tục hỗ trợ các QTDND về chi phí triển khai phù hợp, tư vấn kỹ thuật, đào tạo vận hành, an toàn thông tin và xử lý sự cố, bảo đảm chuyển đổi số được triển khai an toàn, hiệu quả và bền vững.

6. Những vấn đề QTDND cần lưu ý trong hành trình chuyển đổi số

Chuyển đổi số đang mở ra cơ hội lớn để các QTDND đổi mới mô hình hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế số. Tuy nhiên, đối với hệ thống QTDND, đây không chỉ là quá trình đầu tư công nghệ mà còn là quá trình thay đổi toàn diện về tư duy quản trị, mô hình vận hành và phương thức phục vụ thành viên. Thực tiễn triển khai thời gian qua cho thấy, để chuyển đổi số thực sự phát huy hiệu quả, các QTDND cần đặc biệt lưu ý một số vấn đề trọng tâm sau:

Thứ nhất, người đứng đầu QTDND phải thực sự đóng vai trò “hạt nhân chuyển đổi số”

Một trong những rào cản lớn nhất hiện nay không nằm ở công nghệ, mà nằm ở nhận thức và quyết tâm triển khai của đội ngũ lãnh đạo QTDND. Chuyển đổi số không thể chỉ giao cho bộ phận công nghệ thông tin hay cán bộ nghiệp vụ triển khai riêng lẻ, mà cần được xác định là chiến lược phát triển lâu dài của đơn vị.

Người đứng đầu QTDND cần trực tiếp tham gia định hướng, chỉ đạo và đồng hành trong quá trình triển khai chuyển đổi số; đồng thời chủ động thay đổi tư duy quản trị từ mô hình quản lý thủ công sang mô hình quản trị dựa trên dữ liệu và công nghệ. Đây là yếu tố quyết định đến tốc độ và hiệu quả chuyển đổi số tại mỗi QTDND.

Thứ hai, chuyển đổi số phải gắn với nhu cầu thực tế của thành viên và khách hàng

Đối với QTDND, mục tiêu cốt lõi của chuyển đổi số không phải là chạy theo công nghệ hiện đại bằng mọi giá, mà là nâng cao chất lượng phục vụ thành viên và giữ chân khách hàng trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng lớn từ các NHTM và công ty Fintech.

Các QTDND cần ưu tiên triển khai những dịch vụ số đơn giản, thiết thực và phù hợp với đặc điểm khách hàng tại địa phương. Đồng thời, việc triển khai cần đặt trải nghiệm khách hàng làm trung tâm, bảo đảm dịch vụ dễ sử dụng, thuận tiện và phù hợp với khả năng tiếp cận công nghệ của người dân khu vực nông thôn.

Thứ ba, cần chủ động tham gia hệ sinh thái số dùng chung của Co-opBank

Do đặc thù quy mô nhỏ và nguồn lực hạn chế, các QTDND khó có khả năng đầu tư độc lập hệ thống công nghệ hiện đại. Vì vậy, việc tham gia hệ sinh thái số dùng chung do Co-opBank triển khai sẽ giúp các QTDND giảm chi phí đầu tư, tiếp cận công nghệ hiện đại, tăng khả năng kết nối hệ thống, bảo đảm an toàn vận hành; nhanh chóng triển khai dịch vụ số tới thành viên.

Các QTDND cần chủ động tham gia các nền tảng như CF-eBank, CfeBiz, CFePCF, Mobile Banking, Payment Hub và mô hình Đại lý thanh toán để tận dụng lợi thế hạ tầng dùng chung và cơ chế hỗ trợ từ Co-opBank; đóng góp chi phí để cùng Co-opBank vận hành, bảo dưỡng, bảo trì, nâng cấp các nền tảng dùng chung này và đầu tư phát triển các nền tảng dùng chung khác cung cấp cho hệ thống QTDND phục vụ thành viên và khách hàng trên địa bàn.

Đây không chỉ là giải pháp công nghệ, mà còn là cơ chế liên kết hệ thống giúp nâng cao sức cạnh tranh chung của toàn mạng lưới QTDND nói riêng, hệ thống TCTD là HTX nói chung.

Thứ tư, cần đặc biệt chú trọng an toàn thông tin và bảo vệ dữ liệu khách hàng

Trong môi trường số, rủi ro công nghệ và tội phạm mạng đang ngày càng gia tăng, đặc biệt tại các tổ chức tài chính cơ sở có nguồn lực công nghệ còn hạn chế. Do đó, các QTDND cần xác định an toàn thông tin là yêu cầu bắt buộc trong toàn bộ quá trình chuyển đổi số, như: Tuân thủ nghiêm các quy định về bảo mật dữ liệu; tăng cường kiểm soát tài khoản và giao dịch; phối hợp chặt chẽ với Co-opBank trong công tác giám sát, cảnh báo gian lận; thường xuyên cập nhật các phương thức lừa đảo công nghệ cao; nâng cao nhận thức bảo mật cho cán bộ và khách hàng. Đồng thời, cần chú trọng làm sạch dữ liệu khách hàng, chuẩn hóa thông tin thành viên và triển khai xác thực sinh trắc học theo quy định của NHNN và Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ).

Thứ năm, cần chuẩn bị nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số

Nguồn nhân lực là yếu tố quyết định sự thành công của chuyển đổi số. Trong khi đó, hiện nay nhiều QTDND còn thiếu cán bộ có kiến thức về công nghệ, ngân hàng số và quản trị dữ liệu. Do đó, các QTDND cần chủ động cử cán bộ tham gia các chương trình đào tạo chuyển đổi số; hình thành đội ngũ cán bộ đầu mối công nghệ; nâng cao kỹ năng sử dụng các nền tảng số; xây dựng văn hóa làm việc trên môi trường số. Đặc biệt, việc đào tạo không chỉ tập trung vào kỹ năng vận hành hệ thống mà còn phải nâng cao tư duy quản trị số và khả năng thích ứng với mô hình hoạt động mới.

Thứ sáu, chuyển đổi số phải đi theo lộ trình phù hợp, tránh đầu tư dàn trải

Đối với các QTDND, chuyển đổi số cần được triển khai từng bước, phù hợp với quy mô hoạt động, năng lực tài chính và khả năng quản trị của từng đơn vị. Việc đầu tư dàn trải, chạy theo xu hướng công nghệ mà thiếu định hướng rõ ràng có thể làm gia tăng chi phí, giảm hiệu quả và phát sinh rủi ro vận hành.

Tuy nhiên, bên cạnh việc Co-opBank đầu tư, phát triển các nền tảng số và hạ tầng công nghệ dùng chung cho toàn hệ thống, bản thân mỗi QTDND cũng cần có trách nhiệm đầu tư, nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, thiết bị, đường truyền, hệ thống bảo mật, quy trình vận hành và năng lực nhân sự số tại đơn vị mình. Đây là điều kiện cần thiết để QTDND có thể đáp ứng khung kiến trúc công nghệ do NHNN định hướng, đồng thời kết nối an toàn, thông suốt với các nền tảng dùng chung của Co-opBank.

Các QTDND cần ưu tiên số hóa các dịch vụ thiết yếu trước, tận dụng hạ tầng dùng chung của Co-opBank, triển khai theo từng giai đoạn, kết hợp chặt chẽ giữa chuyển đổi số với nâng cao chất lượng dịch vụ truyền thống. Đây là cách tiếp cận phù hợp để bảo đảm chuyển đổi số diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững đối với mô hình TCTD là HTX.

7. Một số hàm ý chính sách và khuyến nghị

Từ thực tiễn chuyển đổi số cùng hệ thống QTDND, có thể rút ra một số hàm ý chính sách quan trọng.

Một là, NHNN cần ban hành cơ chế chính sách, thiết kế kiến trúc công nghệ, bộ tiêu chí kỹ thuật, mô hình vận hành chuyên biệt cho chuyển đổi số hệ thống QTDND và mô hình tài chính giữa Co-opBank và QTDND. Trên cơ sở định hướng tại Quyết định số 3579/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030 và Quyết định số 3580/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 2030, NHNN cần giữ vai trò cơ quan quản lý nhà nước trong việc xây dựng chuẩn chung về kiến trúc công nghệ, tiêu chí kỹ thuật, tiêu chuẩn kết nối, chuẩn dữ liệu, an toàn thông tin..., mô hình chia sẻ chi phí và cơ chế phối hợp giữa Co-opBank với hệ thống QTDND.

Việc có một khung chính sách và bộ tiêu chuẩn kỹ thuật thống nhất do NHNN ban hành là cần thiết để bảo đảm toàn hệ thống triển khai đồng bộ, tránh tình trạng mỗi đơn vị thực hiện theo một cách khác nhau. Theo đó, Co-opBank với vai trò ngân hàng đầu mối có trách nhiệm tổ chức triển khai, đầu tư nền tảng dùng chung, hỗ trợ kết nối, hướng dẫn kỹ thuật và vận hành hệ thống; các QTDND có trách nhiệm tuân thủ chuẩn chung, nâng cấp hạ tầng công nghệ tại đơn vị, bảo đảm điều kiện kết nối, an toàn thông tin.

Việc đầu tư nền tảng số dùng chung cho hệ thống QTDND đòi hỏi nguồn lực lớn, dài hạn cả về nguồn vốn và nguồn nhân lực. Do vậy, rất cần sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc bổ sung vốn điều lệ cho Co-opBank nhằm nâng cao năng lực tài chính để thực hiện tốt nhiệm vụ tại Đề án "Cơ cấu lại tổng thể hệ thống QTDND và Ngân hàng Hợp tác xã giai đoạn 2016 - 2030, định hướng đến năm 2045" (Quyết định số 1266/QĐ-NHNN ngày 11/6/2026 của Thống đốc NHNN). Đây là giải pháp quan trọng, cốt lõi, mang tính quyết định để Co-opBank thực hiện vai trò ngân hàng đầu mối, trung tâm thanh toán, cung ứng dịch vụ ngân hàng số hiện đại dùng chung và hỗ trợ hiệu quả hệ thống QTDND.

Hai là, chuyển đổi số đối với QTDND cần được tiếp cận theo mô hình hệ thống, theo đó, Co-opBank giữ vai trò ngân hàng trung tâm đầu mối hỗ trợ, kết nối và phát triển các nền tảng số dùng chung, giúp các QTDND tiếp cận dịch vụ ngân hàng số hiện đại mà không phải đầu tư hạ tầng riêng lẻ vượt quá năng lực tài chính và nhân sự.

Ba là, cần gắn chuyển đổi số với yêu cầu cơ cấu lại, bảo đảm an toàn hoạt động, quản trị rủi ro. Việc triển khai các sản phẩm, dịch vụ số phải đi đôi với chuẩn hóa quy trình nghiệp vụ, bảo vệ dữ liệu khách hàng, bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng và nâng cao năng lực giám sát, cảnh báo rủi ro đối với hệ thống QTDND.

Bốn là, cần nâng cao năng lực tài chính, công nghệ và nhân sự cho Co-opBank để thực hiện tốt vai trò hỗ trợ chuyển đổi số cho hệ thống QTDND. Đồng thời, cần có cơ chế hỗ trợ đặc thù đối với các QTDND có quy mô nhỏ, địa bàn hoạt động ở khu vực nông nghiệp, nông thôn nhằm giúp các đơn vị này tiếp cận dịch vụ số với chi phí hợp lý, an toàn và phù hợp với năng lực vận hành.

Năm là, QTDND có trách nhiệm chia sẻ chi phí cùng Co-opBank đầu tư, vận hành, bảo dưỡng, bảo trì và nâng cấp các nền tảng số dùng chung nhằm tăng cường mối quan hệ hợp tác lâu dài, công khai, minh bạch giữa chia sẻ chi phí và chia sẻ lợi ích theo nguyên tắc hoạt động của loại hình HTX.

8. Kết luận

Chuyển đổi số cùng hệ thống QTDND là yêu cầu dài hạn, gắn với quá trình cơ cấu lại, nâng cao năng lực quản trị, bảo đảm an toàn hệ thống và mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính tại khu vực nông nghiệp, nông thôn. Trong bối cảnh khung pháp lý về TCTD là HTX, bảo hiểm tiền gửi, giám sát QTDND và cơ cấu lại hệ thống tiếp tục được hoàn thiện, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết.

Với vai trò là ngân hàng trung tâm của các QTDND, Co-opBank đang từng bước khẳng định vị trí hạt nhân thông qua phát triển nền tảng số, chuẩn hóa quy trình, đào tạo nhân lực, hỗ trợ vận hành, mở rộng dịch vụ ngân hàng số và tham gia bảo đảm an toàn hệ thống. Những kết quả đạt được cho thấy chuyển đổi số đã tạo chuyển biến tích cực trong phương thức giao dịch, quy mô khách hàng, mức độ sử dụng kênh số và khả năng kết nối giữa Co-opBank với hệ thống QTDND.

Trong thời gian tới, để Co-opBank phát huy hiệu quả vai trò đầu mối chuyển đổi số trong hệ thống QTDND, cần tiếp tục có sự định hướng, hỗ trợ cơ chế, chính sách từ NHNN; trong đó chú trọng phát triển nền tảng số dùng chung, bảo đảm an toàn thông tin, kết nối dữ liệu, nâng cao năng lực giám sát và giải pháp căn cơ là tăng cường năng lực tài chính cho Co-opBank, bao gồm bổ sung vốn điều lệ, nguồn vốn trung dài hạn và nguồn lực đầu tư công nghệ.

Có thể khẳng định, với sự chỉ đạo đúng hướng, cơ chế hỗ trợ phù hợp của NHNN và sự tích cực chủ động tham gia của các QTDND, chuyển đổi số sẽ trở thành động lực quan trọng thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phát triển bền vững hệ thống QTDND, khu vực kinh tế tập thể, HTX; đồng thời góp phần thực hiện mục tiêu tài chính toàn diện quốc gia.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo cáo hoạt động của Co-opBank các năm 2023, 2024, 2025.

2. Chiến lược chuyển đổi số của Co-opBank.

3. Luật Các tổ chức tín dụng số năm 2024 (đã được sửa đổi, bổ sung).

4. Quyết định số 2345/QĐ-NHNN ngày 18/12/2023 của Thống đốc NHNN về triển khai các giải pháp an toàn,

bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng.

5. Quyết định số 3579/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2030.

6. Quyết định số 3580/QĐ-NHNN ngày 03/11/2025 của Thống đốc NHNN phê duyệt Chiến lược dữ liệu ngành Ngân hàng đến năm 2030.

7. Quyết định số 1266/QĐ-NHNN ngày 11/6/2026 của Thống đốc NHNN về việc phê duyệt Đề án "Cơ cấu lại tổng thể hệ thống QTDND và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm 2045".

8. Thông tư số 50/2024/TT-NHNN ngày 31/10/2024 của Thống đốc NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng.

9. Thông tư số 62/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc NHNN quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của tổ chức tín dụng là hợp tác xã, tổ chức tài chính vi mô.

10. Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN.

11. Thông tin giới thiệu, sản phẩm dịch vụ và mô hình đại lý thanh toán giữa Co-opBank và QTDND.

TS. Khuất Duy Tuấn
Thành viên Hội đồng quản trị Co-opBank

Tin bài khác

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Minh bạch và thực chất: “Chìa khóa” để ngành Ngân hàng phát triển an toàn, bền vững

Ngày 03/7/2026, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức Hội nghị Sơ kết hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm và triển khai nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2026. Hội nghị nhằm sơ kết, đánh giá những kết quả trong điều hành chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng 6 tháng đầu năm 2026, đồng thời nhận diện những cơ hội, thách thức, khó khăn, đề ra giải pháp, định hướng thời gian tới. Thống đốc Phạm Đức Ấn và Ban Lãnh đạo NHNN điều hành Hội nghị. Tham dự Hội nghị còn có lãnh đạo các đơn vị Vụ, Cục thuộc NHNN, lãnh đạo các tổ chức, Hiệp hội trong Ngành, các tổ chức tín dụng (TCTD) và chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới điểm cầu NHNN chi nhánh các khu vực.
Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Điều hành tín dụng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế, góp phần hỗ trợ tăng trưởng

Những tháng đầu năm 2026, nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn ngân hàng, thúc đẩy tín dụng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp và đạt được những kết quả tích cực. Tính đến ngày 29/6/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 20 triệu tỉ đồng, tăng 7,73% so với cuối năm 2025. Về cơ bản, cơ cấu tín dụng theo đúng định hướng, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), trong đó cơ cấu tín dụng phù hợp với cơ cấu ngành kinh tế. Vốn tín dụng tiếp tục hướng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên.
Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Ngân hàng Phong cách sống: Phân tích so sánh các mô hình toàn cầu và hàm ý chiến lược cho thị trường Việt Nam

Bài viết phân tích sự chuyển dịch của ngành Ngân hàng từ mô hình cung cấp sản phẩm sang xây dựng hệ sinh thái số gắn với phong cách sống, làm rõ các mô hình tiêu biểu trên thế giới và đề xuất những hàm ý chiến lược giúp ngân hàng thương mại Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng và phát triển bền vững trong kỷ nguyên số.
Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Xây dựng bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững tại Việt Nam

Bài viết đề xuất bộ chỉ số đánh giá phát triển ngân hàng số bền vững gồm 06 trụ cột và 18 chỉ tiêu thành phần, góp phần cung cấp công cụ đo lường toàn diện phục vụ chuyển đổi số ngành Ngân hàng theo hướng an toàn và bền vững.
Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Tổng quan nghiên cứu về hoạt động giám sát ngân hàng thông qua trắc lượng thư mục bằng phần mềm VOSviewer

Bài viết này sử dụng phương pháp trắc lượng thư mục với công cụ VOSviewer 1.6.20 để tổng quan và phân tích về hoạt động giám sát ngân hàng giai đoạn 2010 - 2025, qua đó làm rõ xu hướng phát triển, các chủ đề nghiên cứu trọng tâm và mạng lưới học thuật quốc tế trong lĩnh vực này.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích yêu cầu phát triển hệ sinh thái ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC). Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết lập luận rằng dịch vụ ngân hàng tại IFC cần chuyển từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp xuyên suốt hành trình nhà đầu tư. Khung phân tích chỉ ra năng lực cạnh tranh của IFC là kết quả đầu ra của hệ sinh thái gồm sản phẩm, công nghệ, dữ liệu, pháp lý và quản trị rủi ro. Đánh giá bối cảnh Việt Nam cho thấy cơ hội lớn nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn về định danh xuyên biên giới, chuẩn hóa dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và rủi ro bên thứ ba. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình chính sách ba giai đoạn nhằm phát triển hạ tầng tài chính số an toàn, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực hội nhập tài chính toàn cầu của Việt Nam.
Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Tăng cường vai trò của ngân hàng thương mại trong ứng phó với biến đổi khí hậu tại Việt Nam

Bài viết phân tích vai trò của các ngân hàng thương mại (NHTM) trong phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, trên cơ sở đánh giá thực trạng, khung pháp lý và những hạn chế hiện nay, từ đó đề xuất giải pháp nhằm tăng cường huy động và phân bổ vốn cho mục tiêu ứng phó biến đổi khí hậu và phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Xem thêm
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam