Agribank: Khát vọng xanh và cuộc cách mạng trí tuệ nhân tạo trong hành trình hiện đại hóa tam nông

Hoạt động ngân hàng
Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) từ ngân hàng truyền thống sang mô hình “ngân hàng số xanh”, với trọng tâm là tín dụng nông nghiệp bền vững, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong thẩm định tín dụng và vai trò dẫn dắt dòng vốn phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Việt Nam.
aa

Sự chuyển mình của nền nông nghiệp Việt Nam trong kỷ nguyên số không chỉ là câu chuyện của những cánh đồng mẫu lớn hay những nhà màng hiện đại, mà còn là cuộc cách mạng sâu sắc trong tư duy quản trị dòng vốn và ứng dụng công nghệ đỉnh cao. Trong tâm thế của một ngân hàng thương mại lớn giữ vai trò chủ đạo tại khu vực nông thôn, Agribank đã và đang thực hiện một bước nhảy vọt: Từ một định chế tài chính truyền thống sang "ngân hàng số xanh". Đây là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa khát vọng đưa nông sản Việt vươn tầm quốc tế thông qua tín dụng nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ và việc triển khai AI như một "bộ não" mới trong thẩm định cho vay. Hành trình này không chỉ khẳng định vị thế của Agribank, mà còn góp phần quan trọng vào mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững của quốc gia, xứng đáng là một điển hình trong công cuộc đổi mới của ngành tài chính - ngân hàng Việt Nam.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Tín dụng xanh và sứ mệnh kiến tạo nền nông nghiệp bền vững

Ngày 22/12/2024, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, đồng thời xác định đây là đột phá chiến lược hàng đầu, động lực chính thúc đẩy lực lượng sản xuất hiện đại, đổi mới quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội và ngăn nguy cơ tụt hậu. Nghị quyết nâng khoa học, công nghệ và số hóa từ vai trò hỗ trợ lên trục chính sách cốt lõi trở thành thước đo năng lực quốc gia và hiệu quả quản trị, đồng thời khẳng định nguyên tắc trung tâm: Lấy người dân và doanh nghiệp làm trọng tâm.

Nông nghiệp luôn là "bệ đỡ" của nền kinh tế Việt Nam, nhưng để bệ đỡ ấy vững chắc trong bối cảnh biến đổi khí hậu và cạnh tranh toàn cầu, việc chuyển đổi sang mô hình sản xuất hiện đại là lộ trình không thể đảo ngược. Agribank đã xác định tín dụng nông nghiệp công nghệ cao và nông nghiệp hữu cơ là những ưu tiên chiến lược, đóng vai trò then chốt trong việc "xanh hóa" danh mục đầu tư. Việc đầu tư vào các lĩnh vực này không chỉ là thực hiện nhiệm vụ chính trị, mà còn là hướng đi tất yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh cho nông sản Việt Nam, đảm bảo an ninh lương thực và thực hiện cam kết Net Zero của Chính phủ.

Tín dụng xanh đang trở thành một trụ cột chiến lược trong định hướng phát triển của Agribank, không chỉ nhằm đáp ứng yêu cầu về ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị), mà còn tái cấu trúc danh mục tín dụng theo hướng bền vững. Với vai trò chủ lực trong lĩnh vực “tam nông”, Agribank có lợi thế đặc biệt để dẫn dắt dòng vốn vào các mô hình nông nghiệp sạch, nông nghiệp công nghệ cao, năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn. Việc mở rộng tín dụng xanh không đơn thuần là hỗ trợ khách hàng, mà còn là công cụ giảm thiểu rủi ro dài hạn, cải thiện chất lượng tài sản và nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn quốc tế. Trong giai đoạn tới, nếu được tích hợp chặt chẽ vào quy trình cấp tín dụng, định giá lãi suất và quản trị danh mục, tín dụng xanh sẽ trở thành đòn bẩy giúp Agribank chuyển từ tăng trưởng theo quy mô sang tăng trưởng theo chất lượng và bền vững.

Khung chính sách và các gói tín dụng ưu đãi quy mô lớn

Để tạo động lực cho các hộ nông dân và doanh nghiệp mạnh dạn chuyển đổi phương thức sản xuất, Agribank đã triển khai một hệ thống sản phẩm tín dụng đa dạng, bám sát các nghị định, quyết định của Chính phủ về phát triển nông thôn. Đặc biệt, Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn và sau đó là Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP đã mở ra cơ chế cho vay không có tài sản bảo đảm đối với các mô hình liên kết chuỗi giá trị và ứng dụng công nghệ cao, với mức cho vay lên tới 80% giá trị phương án sản xuất, kinh doanh. Đây được coi là một "luồng gió mới" giúp tháo gỡ nút thắt về vốn cho những dự án nông nghiệp đòi hỏi đầu tư lớn ban đầu nhưng thiếu tài sản thế chấp truyền thống.

Trên cơ sở đó, Agribank đã tích cực triển khai nhiều chương trình, gói tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Doanh số cho vay nông nghiệp sạch và ứng dụng công nghệ cao của Agribank đến hết năm 2025 đã đạt trên 25.000 tỉ đồng, chiếm khoảng 50% tổng nguồn vốn đầu tư của toàn ngành Ngân hàng cho lĩnh vực này. Điều này cho thấy vai trò dẫn dắt của Agribank trong việc định hướng dòng vốn vào những lĩnh vực có giá trị gia tăng cao và thân thiện với môi trường. Bảng 1 khái quát một số chương trình, gói tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đang triển khai tại Agribank.

Bảng 1: Một số chương trình, gói tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đang triển khai tại Agribank

Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo thường niên giai đoạn 2023 - 2024 và các thông báo triển khai của Agribank
Nguồn: Tổng hợp từ Báo cáo thường niên giai đoạn 2023 - 2024 và các thông báo triển khai của Agribank

Từ nguồn vốn của Agribank, những mô hình sản xuất quy mô lớn, ứng dụng công nghệ hiện đại đã không còn là hình ảnh trên sách báo mà hiện hữu sống động trên thực địa. Tại tỉnh Lâm Đồng, đó là những khu vườn rau, hoa quả ứng dụng công nghệ tưới nhỏ giọt và điều khiển khí hậu tự động. Tại Thành phố Cần Thơ, đó là những cánh đồng mẫu lớn với quy trình cơ giới hóa đồng bộ từ khâu làm đất đến thu hoạch. Những mô hình này không chỉ giúp tăng năng suất gấp nhiều lần, mà còn đảm bảo sản phẩm đạt các tiêu chuẩn khắt khe như VietGAP, GlobalGAP để xuất khẩu sang các thị trường khó tính như Nhật Bản, Liên minh châu Âu (EU).

Tại khu vực Tây Nguyên, Agribank Chi nhánh Đắk Lắk đã chuẩn bị nguồn lực tài chính lên tới 4.840 tỉ đồng cho niên vụ cà phê 2025 - 2026, với sự chú trọng đặc biệt vào việc chế biến sâu và canh tác bền vững. Việc giảm lãi suất cho các hộ nông nghiệp và HTX tại đây đã tạo điều kiện cho người dân thay đổi giống cây trồng, áp dụng công nghệ tưới tiết kiệm nước, góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt. Những ví dụ này cho thấy tín dụng của Agribank không chỉ là công cụ tài chính mà còn là đòn bẩy thay đổi tư duy sản xuất của người nông dân.

Cuộc cách mạng AI trong thẩm định tín dụng

Hiện nay, Agribank đã quyết liệt đưa AI vào nhiệm vụ cốt lõi trong quy trình nghiệp vụ: Thẩm định và chấm điểm tín dụng. Đây là một bước đột phá quan trọng, giúp ngân hàng giải quyết bài toán khó nhất trong cho vay nông nghiệp: Làm thế nào để đánh giá đúng rủi ro và ra quyết định cho vay nhanh chóng đối với những khách hàng không có báo cáo tài chính bài bản hay tài sản thế chấp rõ ràng.

Nền tảng của AI và dữ liệu lớn (Big Data) chính là dữ liệu. Agribank đã thực hiện một khối lượng công việc khổng lồ khi làm sạch dữ liệu của gần 11 triệu khách hàng cá nhân và hàng chục nghìn khách hàng tổ chức. Việc hợp tác với Bộ Công an để tích hợp dịch vụ xác thực điện tử qua VNeID trên ứng dụng Agribank Plus đã tạo ra một hệ sinh thái số an toàn và minh bạch. Đến nay, đã có 200.000 khách hàng xác thực hoàn toàn bằng VNeID, cho phép họ thực hiện các giao dịch và đăng ký vay vốn chỉ bằng vài thao tác trên điện thoại thông minh. Ngày 30/3/2026, Agribank phối hợp cùng Bộ Công an ra mắt mô hình thí điểm Kiosk thông minh và Hệ thống xác thực, cấp bản sao số tài liệu điện tử.

Agribank phối hợp cùng Bộ Công an ra mắt mô hình thí điểm Kiosk thông minh và Hệ thống xác thực, cấp bản sao số tài liệu điện tử (Nguồn ảnh: Agribank)
Agribank phối hợp cùng Bộ Công an ra mắt mô hình thí điểm Kiosk thông minh và Hệ thống xác thực, cấp bản sao số tài liệu điện tử (Nguồn ảnh: Agribank)

Bên cạnh việc khai thác thông tin lịch sử tín dụng của khách hàng từ Trung tâm Thông tin Tín dụng Quốc gia Việt Nam (CIC), Agribank đang từng bước ứng dụng AI để phân tích các nguồn dữ liệu phi truyền thống nhằm nâng cao hiệu quả đánh giá và quản trị rủi ro tín dụng. Đó là lịch sử thanh toán hóa đơn điện nước, hành vi chi tiêu qua ví điện tử, dữ liệu viễn thông và cả những dữ liệu về đặc điểm nông học của từng vùng miền. AI có khả năng xử lý hàng triệu điểm dữ liệu để đưa ra một "chân dung" khách hàng chính xác, từ đó dự báo khả năng trả nợ và đưa ra mức lãi suất phù hợp với từng mức độ rủi ro.

Việc ứng dụng AI không chỉ dừng lại ở khách hàng cá nhân. Theo định hướng của Hội đồng thành viên Agribank cuối năm 2025, ngân hàng đang xây dựng hệ thống AI và Big Data để tự động rà soát, so sánh và phát hiện những chồng chéo hoặc rủi ro trong hệ thống cơ chế, chính sách nội bộ. Điều này đảm bảo rằng các quy trình cho vay luôn tuân thủ pháp luật, minh bạch và giảm thiểu sai sót do yếu tố con người. Bảng 2 minh họa một số ứng dụng công nghệ then chốt đang triển khai tại Agribank.

Bảng 2: Một số ứng dụng công nghệ then chốt đang triển khai tại Agribank

Nguồn: Phân tích dựa trênBáo cáo công nghệ và chuyển đổi số của Agribank giai đoạn 2024 - 2025
Nguồn: Phân tích dựa trênBáo cáo công nghệ và chuyển đổi số của Agribank giai đoạn 2024 - 2025

Sự kết hợp giữa AI và dữ liệu dân cư đã khai sinh ra mô hình "3 bên - 1 điểm chạm" - mô hình hợp tác tiên phong giữa tài chính - hành chính - pháp lý. Tại các điểm giao dịch của Agribank, người dân có thể thực hiện đồng thời các thủ tục hành chính công và các dịch vụ ngân hàng thông qua hệ thống Kiosk thông minh. Công nghệ nhận dạng bằng AI giúp tự động hóa việc đối chiếu thông tin, giúp người nông dân không còn phải mang theo hàng tập hồ sơ giấy tờ mỗi khi đi vay vốn. Đây chính là biểu hiện rõ nét nhất của việc đưa công nghệ cao phục vụ những nhu cầu bình dị nhất của đời sống nông thôn.

Nông nghiệp hữu cơ: Khi dòng vốn xanh nuôi dưỡng sự sống

Nếu nông nghiệp công nghệ cao là câu chuyện của năng suất và hiện đại, thì nông nghiệp hữu cơ là câu chuyện của sự bền vững và sức khỏe cộng đồng. Agribank đã dành sự quan tâm đặc biệt cho mảng này thông qua gói tín dụng xanh 10.000 tỉ đồng với mức lãi suất rất thấp. Theo đó, Agribank đã hỗ trợ các mô hình trồng lúa phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long, chăn nuôi hữu cơ tại tỉnh Ninh Bình và trồng rau an toàn tại các tỉnh Tây Nguyên, tạo nên một chuỗi liên kết bền vững.

Năm 2024, Agribank đã mạnh mẽ tích hợp các tiêu chuẩn ESG vào quy trình cấp tín dụng. Điều này có nghĩa là các dự án nông nghiệp không chỉ được đánh giá qua khả năng sinh lời mà còn qua những tác động của chúng đối với môi trường và cộng đồng. Những dự án có chứng chỉ sản phẩm hữu cơ, sản phẩm có nhãn sinh thái hoặc áp dụng mô hình nông nghiệp carbon thấp luôn được ưu tiên tiếp cận vốn với những điều kiện ưu đãi nhất. Đây là một bước đi chiến lược nhằm định hình lại nền nông nghiệp theo hướng minh bạch và có trách nhiệm hơn.

Bên cạnh những thuật toán AI khô khan, Agribank vẫn duy trì một "mạng lưới mềm" vô cùng hiệu quả: Hơn 70.000 tổ vay vốn với gần 1,4 triệu thành viên. Đây chính là cầu nối quan trọng đưa tín dụng đến từng thôn, bản, giúp những hộ gia đình vùng sâu vùng xa tiếp cận được nguồn vốn chính thống. Mô hình tổ vay vốn không chỉ giúp Agribank quản lý nợ tốt hơn mà còn là nơi chia sẻ kinh nghiệm sản xuất. Tại tỉnh Hưng Yên, dư nợ cho vay nông nghiệp chiếm hơn 66% tổng dư nợ, trong đó vai trò của các tổ vay vốn là rất quan trọng. Thông qua các buổi sinh hoạt tổ, người nông dân được cán bộ ngân hàng hướng dẫn cách sử dụng ứng dụng di động, cách thanh toán điện tử và tiếp cận các thông tin về thị trường nông sản. Tỉ lệ nợ xấu qua kênh này luôn ở mức rất thấp, chứng tỏ hiệu quả của sự gắn kết cộng đồng và niềm tin giữa người dân với ngân hàng.

Từ những vùng núi phía Bắc đến những dải đất miền Trung nắng gió, Agribank luôn hiện diện để hỗ trợ an sinh xã hội và phát triển kinh tế. Với nguồn ngân sách hàng trăm tỉ đồng mỗi năm dành cho giáo dục, y tế và xây dựng nhà tình nghĩa, ngân hàng không chỉ là người cho vay mà còn là người bạn đồng hành trong hành trình thoát nghèo và làm giàu của nông dân.

Tầm nhìn chiến lược của Agribank trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam

Hướng tới năm 2030, Agribank đã đặt ra mục tiêu trở thành một tập đoàn tài chính hiện đại, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế. Với tổng tài sản vượt 2,6 triệu tỉ đồng và xếp hạng tín nhiệm ở mức cao nhất trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, Agribank đang đứng trước vận hội mới để dẫn dắt quá trình chuyển đổi xanh của nền kinh tế.

Agribank cũng cam kết tiếp tục đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, lấy khách hàng làm trung tâm. Việc thử nghiệm mở tài khoản trực tuyến hoàn toàn qua VNeID và sử dụng sinh trắc học trong giao dịch tại quầy là những bước đi nhằm xóa nhòa khoảng cách giữa nông thôn và thành thị trong việc tiếp cận dịch vụ tài chính. Trong tương lai, người nông dân chỉ cần một chiếc điện thoại có kết nối Internet là có thể quản lý toàn bộ dòng tiền của trang trại, từ vay vốn, mua vật tư nông nghiệp đến bán sản phẩm cho các đối tác quốc tế.

Hành trình của Agribank - từ những cánh đồng lúa truyền thống đến những phòng thí nghiệm dữ liệu AI - là minh chứng rõ nét cho sự chuyển mình của một Việt Nam năng động và đầy khát vọng. Bằng việc kết hợp hài hòa giữa "Xanh" và "Số", Agribank không chỉ đang cung cấp vốn cho nông nghiệp mà còn đang gieo mầm cho một tương lai thịnh vượng, bền vững và hiện đại cho toàn bộ khu vực tam nông. Đây chính là bản giao hưởng của niềm tin và công nghệ, nơi dòng máu Agribank luôn hòa cùng nhịp đập với trái tim của hàng triệu người nông dân Việt Nam, cùng nhau vươn mình tới những chân trời mới. Trong kỷ nguyên vươn mình của đất nước, Agribank sẽ tiếp tục phát huy vai trò là ngân hàng chủ lực trong đầu tư cho lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn; đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện đời sống người dân và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Tài liệu tham khảo

1. Báo cáo công nghệ và chuyển đổi số của Agribank giai đoạn 2024 - 2025.

2. Báo cáo thường niên giai đoạn 2023 - 2024 và các thông báo triển khai của Agribank.

3. Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn.

4. Nghị định số 116/2018/NĐ-CP ngày 07/9/2018 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP.

5. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị ban hành về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Nguyễn Xuân Phi
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)

Tin bài khác

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Khả năng thanh toán - ràng buộc nền tảng trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp của ngân hàng trung ương

Bài viết phân tích yêu cầu về khả năng thanh toán - điều kiện cốt lõi trong hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp (Emergency Liquidity Assistance - ELA) của ngân hàng trung ương (NHTW), thông qua việc so sánh kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn xử lý các cuộc khủng hoảng ngân hàng gần đây, từ đó đề xuất định hướng hoàn thiện khuôn khổ hỗ trợ thanh khoản khẩn cấp tại Việt Nam theo hướng linh hoạt, dựa trên đánh giá triển vọng và tăng cường phối hợp chính sách giữa các cơ quan liên quan.
Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Áp dụng Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế tại ngân hàng trung ương: Xu hướng quốc tế và khuyến nghị đối với Việt Nam

Trong bối cảnh Chuẩn mực Báo cáo Tài chính Quốc tế (IFRS) do Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Quốc tế ban hành ngày càng được áp dụng rộng rãi, việc nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế có ý nghĩa quan trọng trong xây dựng lộ trình áp dụng IFRS phù hợp cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), nhằm nâng cao minh bạch tài chính, năng lực quản trị và hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ.
Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Các nhân tố tác động đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng dịch vụ cho vay kỹ thuật số tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó làm rõ vai trò của các yếu tố công nghệ, tâm lý và tài chính cá nhân trong việc hình thành hành vi chấp nhận dịch vụ của khách hàng.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Quan hệ giữa thư tín dụng và cấp tín dụng trong pháp luật Việt Nam: Hướng tới sự hài hòa giữa hai tuyến pháp lý

Bài viết phân tích xung đột pháp lý phát sinh khi thư tín dụng (L/C) được tài trợ bằng vốn vay nhưng hợp đồng cơ sở bị vô hiệu, chỉ ra sự lệch pha giữa nguyên tắc thanh toán độc lập của L/C và logic kiểm soát rủi ro của cấp tín dụng, từ đó đề xuất vai trò của biện pháp khẩn cấp tạm thời như một “cầu nối” nhằm trì hoãn thanh toán, hạn chế tổn thất và hướng tới hài hòa hai tuyến pháp lý trong thực tiễn ngân hàng.
Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Tác động của yếu tố tâm lý và nhân khẩu học đến rủi ro thanh toán thẻ tín dụng

Bài viết này làm rõ vai trò của các yếu tố tâm lý và đặc điểm nhân khẩu học trong việc hình thành rủi ro chậm thanh toán thẻ tín dụng, qua đó cho thấy hành vi như quá tự tin và chấp nhận rủi ro tài chính, cùng với các yếu tố như hôn nhân, học vấn, nghề nghiệp và thu nhập, có ảnh hưởng đáng kể đến khả năng trả nợ của người dùng, đồng thời cung cấp cơ sở thực nghiệm quan trọng cho quản lý rủi ro và hoạch định chính sách tín dụng tiêu dùng.
Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và sự sẵn sàng thay đổi của nhân viên ngân hàng trong quá trình chuyển đổi số

Bài viết này phân tích và kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa khả năng thích ứng của nhân viên ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó khẳng định vai trò trung tâm của đổi mới, định hướng khách hàng và tổ chức học tập trong nâng cao hiệu quả chuyển đổi và hiệu suất hoạt động ngân hàng.
Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Basel III và yêu cầu hoàn thiện kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam

Bài viết này phân tích quá trình chuyển đổi kiểm toán nội bộ định hướng rủi ro tại Agribank trong bối cảnh Basel III hoàn thiện, qua đó nhận diện các điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất lộ trình nâng cấp vai trò kiểm toán nội bộ thành đối tác quản trị rủi ro chiến lược giai đoạn 2026 - 2030.
Xem thêm
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng