Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Chính sách
Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
aa

Tóm tắt: Già hóa dân số đang trở thành xu thế toàn cầu, tác động sâu rộng đến mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số nhanh và người cao tuổi đang trở thành một trong những động lực tăng trưởng mới cho kinh tế Việt Nam. Trong bối cảnh đó, phát triển kinh tế bạc được xem là hướng đi phù hợp, giúp Việt Nam không chỉ ứng phó hiệu quả với thách thức dân số mà còn mở ra không gian phát triển mới cho các lĩnh vực như y tế, du lịch, giáo dục, công nghệ và thị trường lao động. Bài viết phân tích cơ hội, thách thức trong phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam; từ đó, đưa ra hàm ý chính sách thúc đẩy phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam trong thời gian tới.

Từ khóa: Già hóa dân số, kinh tế bạc, người cao tuổi.

DEVELOPING THE SILVER ECONOMY IN VIETNAM:
OPPORTUNITIES, CHALLENGES, AND POLICY IMPLICATIONS

Abstract: Population aging is becoming a global trend, profoundly impacting all aspects of socio-economic life. Vietnam has entered a period of rapid population aging, and the elderly are becoming a new driving force for Vietnam's economic growth. In this context, developing a silver economy is considered a suitable direction, helping Vietnam not only effectively cope with demographic challenges but also opening up new development opportunities for sectors such as healthcare, tourism, education, technology, and the labor market. This article analyzes the opportunities and challenges in developing a silver economy in Vietnam; thereby, it proposes policy implications to promote the development of a silver economy in Vietnam in the coming years.

Keywords: Population aging, silver economy, elderly.

1. Đặt vấn đề

Trong hai thập kỷ qua, tuổi thọ trung bình của con người không ngừng gia tăng trên toàn cầu, đây là thành tựu quan trọng trong tiến trình phát triển của nhân loại. Bên cạnh những tiến bộ góp phần nâng cao tuổi thọ cho con người, xu hướng già hóa dân số gia đang dẫn đến tình trạng thiếu hụt lao động, gia tăng gánh nặng cho hệ thống phúc lợi xã hội, tạo áp lực đáng kể lên các cơ sở chăm sóc sức khỏe và đe dọa tới tăng trưởng kinh tế… của nhiều quốc gia. Già hóa dân số đang trở thành xu thế toàn cầu, tạo ra những thay đổi sâu sắc trong cơ cấu kinh tế - xã hội của các quốc gia; từ thách thức về an sinh, y tế, việc làm đến cơ hội phát triển những ngành kinh tế mới - kinh tế bạc.

Trong bối cảnh đó, phát triển kinh tế bạc được xem là một môi trường kinh tế, mà ở đó người cao tuổi là nguồn lực quan trọng trong việc thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế. Thực tế cho thấy, việc phát triển kinh tế bạc tại nhiều quốc gia giúp ứng phó hiệu quả với tình trạng già hóa dân số, thúc đẩy quá trình lão hóa lành mạnh, bảo đảm cuộc sống cho người cao tuổi và tạo ra một xã hội hòa nhập hơn, mở rộng thêm nhiều cơ hội kinh doanh mới, bảo đảm an toàn tài chính công và xây dựng nền tảng cho tăng trưởng kinh tế bền vững.

Già hóa dân số nhanh và số lượng người cao tuổi ngày càng tăng đang tạo ra những cơ hội song hành với những thách thức cho Việt Nam. Việt Nam đã bước vào giai đoạn già hóa dân số từ năm 2011, tốc độ gia tăng người cao tuổi ngày một nhanh. Năm 2025, số người cao tuổi (từ 60 tuổi trở lên) ở Việt Nam đạt khoảng 17 triệu người, chiếm hơn 17% tổng dân số, tăng đáng kể so với tỉ trọng 11,9% năm 2019, đưa Việt Nam vào nhóm các nước già hóa dân số nhanh nhất thế giới. Đáng chú ý, với tốc độ tăng trưởng dân số như hiện nay, đến năm 2030 Việt Nam sẽ có khoảng 18 - 19 triệu người cao tuổi, chiếm tỉ trọng xấp xỉ 20% dân số1. Thực trạng này mang đến cả thách thức lẫn cơ hội; tạo ra áp lực lớn về an sinh xã hội, nhưng cũng là động lực để tìm kiếm mô hình tăng trưởng mới, phát triển nhanh và bền vững đất nước.

Khái niệm “nền kinh tế bạc” (silver economy) bắt nguồn từ thuật ngữ “thị trường bạc” tại Nhật Bản, quốc gia có tỉ lệ người trên 65 tuổi cao nhất trong những năm 70 của thế kỷ XX, được sử dụng để chỉ thị trường cho người cao tuổi thuộc các lĩnh vực đa dạng như y tế, ngân hàng, ô tô, năng lượng, nhà ở, giải trí và du lịch…

Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD (2014) định nghĩa kinh tế bạc là “một môi trường mà những người trên 60 tuổi tương tác và phát triển tại nơi làm việc, tham gia vào hoạt động sáng tạo, thúc đẩy thị trường với tư cách là người tiêu dùng và có cuộc sống lành mạnh, năng động, hiệu quả”2.

Trong khi đó, Liên minh châu Âu (EU) cho rằng, kinh tế bạc là “tổng hợp tất cả các cơ hội, hoạt động kinh tế hiên có và mới nổi liên quan đến chi tiêu công và tiêu dùng để phục vụ nhu cầu của nhóm dân số từ 50 tuổi trở lên, bao gồm các sản phẩm và dịch vụ họ mua trực tiếp cũng như những hoạt động kinh tế khác mà hoạt động chi tiêu này tạo ra”3.

Từ các quan niệm trên có thể hiểu, kinh tế bạc là hệ sinh thái các ngành, nghề, sản phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của người cao tuổi; đồng thời, tận dụng trí tuệ, kinh nghiệm, kiến thức, nguồn lực của họ để tạo ra tăng trưởng mới. Mặc dù chưa có định nghĩa thống nhất, nhưng nhìn chung, kinh tế bạc có đặc trưng là sự tập trung vào những cơ hội phát sinh từ quá trình già hóa dân số, nhằm đáp ứng nhu cầu của số lượng người cao tuổi ngày càng tăng.

Trong bối cảnh Việt Nam đang chuyển nhanh từ cơ cấu dân số vàng sang cơ cấu dân số già, phát triển kinh tế bạc không chỉ là yêu cầu thích ứng mà còn là hướng đi chiến lược để bảo đảm an sinh xã hội, tạo động lực tăng trưởng mới và phát huy giá trị con người trong kỷ nguyên già hóa dân số.

2. Quan điểm, chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế bạc

Để tiến trình hội nhập quốc tế có hiệu quả, Đảng và Nhà nước ta đã chỉ ra các nguyên tắc, phương châm, biện pháp để hướng dẫn việc triển khai các chủ trương, chính sách về hội nhập quốc tế. Trong quá trình hội nhập, đi đôi với mục tiêu thu hút và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực bên ngoài, phải phát huy tối đa nội lực, đặc biệt coi trọng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có năng lực và kinh nghiệm, trong đó có nguồn lực từ người cao tuổi - một lực lượng xã hội đặc thù.

Đảng và Nhà nước ta luôn khẳng định người cao tuổi là bộ phận quan trọng của xã hội, là kho tàng tri thức và kinh nghiệm quý báu cần được tôn trọng và phát huy. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng (năm 2021) nhấn mạnh yêu cầu phát huy trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín của người cao tuổi trong đời sống xã hội. Ngày 09/9/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 72-NQ/TW về một số giải pháp đột phá, tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Nghị quyết xác định sức khỏe là vốn quý nhất của con người, là nền tảng quan trọng nhất cho hạnh phúc của mọi người, cho sự tồn vong của dân tộc và sự phát triển thịnh vượng, bền vững của đất nước; cho nên cần tăng cường bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho toàn dân, trong đó có người cao tuổi, thông qua các giải pháp đột phá về thể chế, y tế cơ sở, nhân lực, tài chính y tế và chuyển đổi số. Mục tiêu đến năm 2045 nâng tuổi thọ trung bình lên trên 80 tuổi và tăng số năm sống khỏe mạnh. Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng (năm 2026) phấn đấu đưa chỉ số phát triển con người (HDI) khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình tính từ lúc sinh đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm. Phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất4.

Quán triệt quan điểm của Đảng, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt “Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045” theo Quyết định số 383/QĐ-TTg ngày 21/02/2025, lần đầu tiên đưa cụm từ “kinh tế bạc” vào văn bản hành chính của Nhà nước, đánh dấu bước chuyển có ý nghĩa trong tư duy hoạch định chính sách, từ chăm sóc sang chủ động phát triển. Cùng với đó, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 23/12/2025 về tăng cường thực hiện công tác người cao tuổi thích ứng với già hóa dân số, theo đó, Chính phủ đã chỉ đạo thực hiện các giải pháp thúc đẩy dịch vụ chăm sóc sức khỏe chất lượng cao - một trụ cột cốt lõi của kinh tế bạc. Tại Hội nghị về tình hình phát triển kinh tế bạc trên thế giới và thích ứng chính sách, chiến lược của Việt Nam diễn ra ngày 11/3/2026, Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính khẳng định: “Phát triển kinh tế bạc bao trùm, toàn diện, đồng bộ, hài hòa giữa văn hóa với chính trị, kinh tế và xã hội, đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, nhân dân làm chủ; phát triển kinh tế bạc với tinh thần chuyển từ “gánh nặng già hóa” sang “cơ hội phát triển kinh tế” gắn với thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, Chiến lược quốc gia về người cao tuổi đến năm 2035, tầm nhìn đến năm 2045.

Trong phát triển kinh tế bạc, người cao tuổi ở Việt Nam không chỉ là lớp người từng trải, dày dạn kinh nghiệm, mà còn là kho tàng tri thức, văn hóa và bản lĩnh đã được tôi luyện qua nhiều chặng đường lịch sử. Ngày nay, trong bối cảnh dân số đang bước vào giai đoạn già hóa nhanh, việc phát huy nguồn lực người cao tuổi không chỉ là vấn đề nhân văn mà còn mang ý nghĩa chiến lược, góp phần vào sự phát triển bền vững quốc gia. Luật Việc làm năm 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2026) đã bổ sung các chính sách ưu tiên hỗ trợ người cao tuổi trong tiếp cận việc làm, đào tạo nghề, vay vốn khởi nghiệp; đồng thời khuyến khích họ tham gia các chương trình việc làm công ích, sản xuất, kinh doanh phù hợp với năng lực và kinh nghiệm. Việt Nam đã và đang hình thành khung chính sách thích ứng già hóa. Tuổi nghỉ hưu đã được điều chỉnh theo Bộ luật Lao động và Nghị định số 135/2020/NĐ-CP ngày 18/11/2020 của Chính phủ quy định về tuổi nghỉ hưu nhằm duy trì lực lượng lao động (nam lên 62 tuổi vào năm 2028, nữ lên 60 tuổi vào năm 2035). Đây là bước cụ thể hóa quan điểm “không để ai bị bỏ lại phía sau”, giúp kéo dài thời gian tham gia lao động xã hội, gia tăng thu nhập và phát huy giá trị cống hiến của người cao tuổi.

3. Cơ hội và thách thức trong phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam

3.1. Cơ hội

Già hóa dân số mở ra nguồn lực xã hội khổng lồ, một thế hệ “vàng” về kinh nghiệm sản xuất, quản trị, tri thức nghề nghiệp, có thể kích hoạt “kho báu tri thức” với hàng chục triệu người có kinh nghiệm sản xuất, quản lý, sáng tạo văn hóa - xã hội. Đây chính là cơ sở để hình thành và phát triển kinh tế bạc. Bởi người cao tuổi vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là chủ thể đóng góp tích cực và chủ động. Phát triển kinh tế bạc tạo cơ hội để người cao tuổi tiếp tục tham gia sản xuất, tư vấn, cố vấn nghề nghiệp. Tri thức và sáng tạo, tận dụng vốn sống, kinh nghiệm quản lý, nghiên cứu của người cao tuổi để đào tạo thế hệ trẻ, khởi xướng các dự án cộng đồng.

Theo dữ liệu dân cư quốc gia năm 2025, Việt Nam hiện có khoảng 17 triệu người cao tuổi, chiếm khoảng 17% dân số. Dự báo đến năm 2036, nhóm dân số 60 tuổi trở lên khoảng 21 triệu người, chiếm hơn 20% tổng dân số, đưa Việt Nam trở thành quốc gia có dân số già. Nếu chỉ nhìn người cao tuổi như đối tượng chăm sóc, an sinh thì đây là một gánh nặng lớn. Nhưng nếu coi họ là nguồn lực, là tài sản xã hội quý giá, đây lại chính là cơ hội để đất nước tận dụng trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và mạng lưới quan hệ xã hội phong phú mà họ sở hữu.

Từ thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, đa số người cao tuổi đều có khả năng chi tiêu và nhu cầu cao về các dịch vụ như chăm sóc sức khỏe, giải trí, du lịch dưỡng lão, tài chính và công nghệ. Nếu các doanh nghiệp có thể tạo ra một hệ thống sản phẩm, dịch vụ phù hợp, đa dạng thì đây chính là một lực lượng tiêu dùng đông đảo trong nền kinh tế. Quan trọng hơn, khi đời sống vật chất và tinh thần của người cao tuổi được cải thiện, họ sẽ khỏe mạnh hơn, yêu đời hơn, chất lượng cuộc sống được nâng cao. Việc này vừa giảm áp lực y tế, an sinh cho xã hội, vừa giàu tính nhân văn, đúng với chủ trương phát triển của Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Riêng người cao tuổi là đội ngũ trí thức, chuyên gia, cán bộ quản lý, doanh nhân, nghệ nhân, thợ lành nghề, nhà giáo, nhà khoa học chính là những kho tàng tri thức phong phú, với kinh nghiệm, vốn sống và uy tín được tích lũy qua nhiều thập niên sẽ là nguồn lực hết sức cần thiết trong bối cảnh Việt Nam đang phát triển nền kinh tế tri thức. Thực tế cho thấy, có khoảng 40% số người cao tuổi ở Việt Nam vẫn đang tham gia lao động ở nhiều lĩnh vực. Họ thường hoạt động trong nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và không ít người là chủ doanh nghiệp, cơ sở sản xuất, hợp tác xã. Bên cạnh đó, vẫn còn một số lượng không nhỏ người cao tuổi là chuyên gia, nhà khoa học, nghệ nhân - những người có giá trị đặc biệt đối với sự phát triển các ngành, nghề, khoa học và văn hóa, có thể làm cố vấn, giảng viên, chuyên gia tư vấn trong các lĩnh vực đòi hỏi kỹ năng lành nghề, có chiều sâu. Điều này giúp cho thế hệ trẻ rút ngắn thời gian học hỏi, giúp giảm thiểu rủi ro trong việc ra quyết định, tăng khả năng cạnh tranh của các tổ chức trong tiến trình hội nhập quốc tế.

3.2. Thách thức

Mặc dù cơ hội, tiềm năng để phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam là rất lớn; tuy nhiên, việc phát triển kinh tế bạc vẫn còn tồn tại những hạn chế như thiếu cơ chế, chính sách để kinh tế bạc phát triển đồng bộ; nguồn lực xã hội hóa để phát triển kinh tế bạc chưa được huy động đầy đủ, hợp tác công - tư vẫn còn hạn chế. Hệ thống chăm sóc dài hạn còn yếu, chất lượng chăm sóc người cao tuổi chưa cao, tạo gánh nặng cho gia đình, gia tăng sức ép cho người phụ nữ và tiêu hao nguồn lực ngân sách. Mặt khác, nhận thức của một số cộng đồng xã hội, tổ chức, doanh nghiệp cho rằng người cao tuổi là gánh nặng cho cộng đồng, gia đình, thế hệ tương lai, dẫn tới buông bỏ, lãng quên, không giúp đỡ, đầu tư, khai thác một cách tích cực nguồn lực này. Hiện nay, nhiều tổ chức, doanh nghiệp vẫn giữ quan niệm người cao tuổi là “lực lượng thụ động”, không còn năng suất lao động cao. Tư tưởng “nghỉ hưu là nghỉ hẳn” còn phổ biến, dẫn đến việc không tạo điều kiện để người cao tuổi tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh, nghiên cứu.

Cùng với đó, vẫn còn một bộ phận người cao tuổi khó theo kịp tiến bộ xã hội, khó hòa nhập với cuộc sống hiện đại, mất dần tính năng động, sáng tạo... Một số người cao tuổi gặp khó khăn trong việc tiếp cận công nghệ mới, ngoại ngữ hoặc làm việc với cường độ cao; sự thay đổi nhanh chóng của môi trường hội nhập quốc tế cũng tạo ra khoảng cách thế hệ trong nhận thức, phong cách làm việc, khiến họ kém tự tin và dễ bị loại khỏi hệ thống lao động chính thức. Không ít người cao tuổi có tri thức, kinh nghiệm và năng lực quản lý, song do thiếu cơ hội và chính sách hỗ trợ để tiếp tục đóng góp nhiều hơn cho xã hội.

Bên cạnh đó, hệ thống dịch vụ, sản phẩm và hạ tầng phục vụ người cao tuổi ở nước ta vẫn còn thiếu và yếu. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, hơn 67% số người cao tuổi Việt Nam sống ở khu vực nông thôn, chủ yếu thuộc nhóm thu nhập thấp; tỉ lệ nghèo ở nhóm này cao gần gấp đôi so với mức trung bình cả nước5. Nhiều địa phương chưa có cơ sở chăm sóc chuyên biệt; các mô hình dưỡng lão, dịch vụ chăm sóc tại nhà, sản phẩm y tế, du lịch, giáo dục dành cho người cao tuổi còn manh mún, quy mô nhỏ. Cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này chưa đủ mạnh.

4. Hàm ý chính sách

Một là, Chính phủ sớm ban hành các cơ chế, chính sách, định hướng cụ thể để kinh tế bạc phát triển bền vững; theo đó, cần xây dựng Chiến lược quốc gia về phát triển kinh tế bạc, đưa nội dung này vào Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và Chương trình hành động về dân số. Đặc biệt, cần xây dựng luật hoặc nghị định chuyên biệt về sử dụng lao động cao tuổi, trong đó quy định khuyến khích doanh nghiệp, tổ chức sử dụng người cao tuổi làm cố vấn, chuyên gia. Đồng thời, thực hiện miễn, giảm thuế cho hoạt động khởi nghiệp hoặc hợp tác của người cao tuổi. Sớm cụ thể hóa khái niệm kinh tế bạc trong Luật Người cao tuổi (sửa đổi) và các văn bản pháp lý có liên quan. Bên cạnh đó, Nhà nước cần ban hành chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng, đất đai để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực như dịch vụ dưỡng lão, y tế lão khoa, công nghệ chăm sóc và du lịch cao tuổi; phát triển bảo hiểm chăm sóc dài hạn, mở rộng độ bao phủ bảo hiểm y tế và giảm gánh nặng chi phí khám, chữa bệnh cho người cao tuổi.

Hai là, phát triển thị trường và hạ tầng dịch vụ, khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm phù hợp cho người cao tuổi từ dinh dưỡng, chăm sóc sức khỏe, thiết bị hỗ trợ đến công nghệ thông minh, khu sinh hoạt văn hóa, thể thao cho người già và thúc đẩy thương mại điện tử cùng nền tảng số thân thiện, kết nối dịch vụ cho người cao tuổi. Xây dựng hệ thống dữ liệu kết nối nhu cầu thị trường với nguồn nhân lực người cao tuổi. Phát triển hạ tầng và nguồn nhân lực chăm sóc chuyên nghiệp. Ứng dụng công nghệ số, robot hỗ trợ, y tế từ xa và hệ thống giám sát sức khỏe thông minh trong chăm sóc người cao tuổi. Bên cạnh chính sách và thị trường, việc xây dựng môi trường sống và hạ tầng xã hội thân thiện, từ giao thông, nhà ở đến không gian đô thị thích ứng với dân số già, có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo điều kiện để người cao tuổi tiếp tục đóng góp cho xã hội.

Ba là, tổ chức các mô hình phù hợp cho người cao tuổi, khai thác nguồn lực tri thức và lao động, thiết kế các chương trình làm việc bán thời gian, tư vấn, cố vấn cho người cao tuổi thành lập mạng lưới “Câu lạc bộ tri thức người cao tuổi”, “Doanh nghiệp của người cao tuổi”, “Hội quán cao niên”, chương trình Mentoring (đồng hành) giữa người cao tuổi và người trẻ khởi nghiệp để gắn kết đa thế hệ vào các chương trình giáo dục, bảo tồn văn hóa và phát triển cộng đồng trở thành thiết chế xã hội gắn kết cộng đồng, nâng cao chất lượng cuộc sống người cao tuổi. Tổ chức vinh danh các danh hiệu và trao các giải thưởng cho người cao tuổi khởi nghiệp, đóng góp cho cộng đồng, đồng thời khuyến khích gia đình và cộng đồng tôn trọng, tạo điều kiện để người cao tuổi sống có ích. Tôn vinh những người cao tuổi còn đang tích cực cống hiến, nêu gương người tốt, việc tốt. Xây dựng hình ảnh người cao tuổi hiện đại, có tri thức, chủ động và không ngừng học hỏi. Đầu tư xây dựng mạng lưới trung tâm dưỡng lão, bệnh viện lão khoa cho người cao tuổi, đặc biệt tại những địa phương có tỉ lệ già hóa dân số cao. Song song đó, đẩy mạnh đào tạo và chuẩn hóa đội ngũ nhân lực chăm sóc người cao tuổi.

Bốn là, xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về người cao tuổi và cơ chế giám sát chính sách hiệu quả. Thống kê, cập nhật thường xuyên dữ liệu về dân số cao tuổi, nhu cầu chăm sóc, việc làm, thu nhập. Tập trung đa dạng hóa nguồn vốn và có cơ chế khuyến khích, huy động từ nguồn vốn xã hội, quỹ hưu trí tự nguyện trong Nhân dân để phát triển dịch vụ chăm sóc người cao tuổi. Xây dựng quỹ hỗ trợ sáng kiến của người cao tuổi. Mở rộng các trung tâm dịch vụ việc làm cho người cao tuổi tại các tỉnh, thành phố lớn. Đẩy mạnh hợp tác công - tư, khuyến khích các doanh nghiệp và start-up tham gia phát triển dịch vụ chăm sóc, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực y tế và đời sống người cao tuổi. Có chính sách miễn giảm thuế cho doanh nghiệp và hợp tác xã cung cấp sản phẩm, dịch vụ cho người cao tuổi, ưu tiên tín dụng cho các dự án du lịch, y tế, nhà ở thích ứng với bối cảnh già hóa dân số.

Năm là, đổi mới nhận thức xã hội về người cao tuổi, coi họ không chỉ là đối tượng thụ hưởng chính sách an sinh, mà là nguồn lực quan trọng và thị trường tiềm năng trong phát triển kinh tế - xã hội. Việc đẩy mạnh truyền thông, giáo dục cộng đồng nhằm lan tỏa hình ảnh người cao tuổi năng động, sáng tạo, sống khỏe - sống vui - sống có ích sẽ góp phần thay đổi định kiến xã hội. Phát huy vai trò người cao tuổi, khuyến khích họ tham gia các hoạt động kinh tế - xã hội phù hợp với năng lực, kinh nghiệm và nhu cầu. Chú trọng phối hợp giữa xây dựng chính sách cụ thể, nhận thức tích cực và hành động mạnh mẽ để người cao tuổi trở thành động lực tăng trưởng kinh tế.

5. Kết luận

Kinh tế bạc là vấn đề có ý nghĩa chiến lược không chỉ đối với phát triển kinh tế bền vững, mà còn trở thành động lực quan trọng cho phát triển kinh tế ở Việt Nam, nhất là trong bối cảnh già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng trên toàn cầu. Trong bối cảnh nước ta hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới, việc phát huy nguồn lực người cao tuổi là yêu cầu khách quan và là cơ hội đối với người cao tuổi. Chính vì vậy, phát triển kinh tế bạc không chỉ là một giải pháp kinh tế mà còn là chiến lược nhân văn của các quốc gia trước xu hướng già hóa dân số toàn cầu. Với cách tiếp cận chủ động, ứng dụng khoa học công nghệ và lấy con người làm trung tâm, Việt Nam hoàn toàn có thể từng bước xây dựng nền kinh tế bạc năng động, bền vững và nhân văn - nơi người cao tuổi trở thành nguồn lực quý giá cho sự phát triển đất nước. Trong bối cảnh già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng ở cả thế giới và Việt Nam, việc phát triển kinh tế bạc đã trở thành xu thế tất yếu, khi nguồn lực từ kinh tế bạc được khơi thông, chắc chắn sẽ tạo ra động lực tăng trưởng mới cho kinh tế Việt Nam trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.y

1 Nguyên Minh (2026), “Kinh tế bạc: Chuyển từ gánh nặng thành cơ hội”. Báo Thanh niên, ngày 12/3/2026, tr. 8.

2 OECD (2014), The Economic Benefit of Promoting Healthy Ageing and Community Care.

3 EU (2018), The Silver Economy. Publications Office of the European Union.

4 Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II, tr. 376.

5 Cục Thống kê (2021), Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019: Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam, Hà Nội, tháng 7/2021, tr. 21.

Tài liệu tham khảo:

1. Cục Thống kê (2021), Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019: Già hóa dân số và người cao tuổi ở Việt Nam, Hà Nội, tháng 7/2021.

2. Đảng Cộng sản Việt Nam (2026), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV. Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tập II.

3. Phạm Minh Chính (2026), Phát biểu tại Hội nghị về tình hình phát triển kinh tế bạc trên thế giới và thích ứng chính sách, chiến lược của Việt Nam, ngày 11/3/2026.

4. Phạm Ngọc Hòa (2024), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn. Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.

5. Lê Minh Hoan (2026), Kinh tế bạc và mùa thu vàng của xã hội. Hồ sơ sự kiện (Chuyên san của Tạp chí Cộng sản).

6. Nguyên Minh (2026), “Kinh tế bạc: Chuyển từ gánh nặng thành cơ hội”. Báo Thanh niên, ngày 12/3/2026.

7. OECD (2014), The Economic Benefit of Promoting Healthy Ageing and Community Care.

8. EU (2018), The Silver Economy. Publications Office of the European Union.

ThS. Phạm Ngọc Hòa
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Đồng Tháp

Tin bài khác

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Bài viết phân tích xu hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 trên các phương diện quy mô, cơ cấu và động lực tăng trưởng, đồng thời đánh giá những thách thức, cơ hội và đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút FDI trong giai đoạn tới.
Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng gia tăng, xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và sức mạnh hàng hải, mà phải được đặt trên nền tảng quản trị biển hiện đại, nâng cao năng lực khoa học - công nghệ cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Xem thêm
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Bài viết phân tích xu hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 trên các phương diện quy mô, cơ cấu và động lực tăng trưởng, đồng thời đánh giá những thách thức, cơ hội và đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút FDI trong giai đoạn tới.
Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng gia tăng, xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và sức mạnh hàng hải, mà phải được đặt trên nền tảng quản trị biển hiện đại, nâng cao năng lực khoa học - công nghệ cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy