Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Chính sách
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
aa

Tóm tắt: Bài viết này làm rõ vai trò của trọng tài thương mại trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam thông qua thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam (VIAC). Từ việc phân tích khung pháp lý, thực trạng áp dụng và những vướng mắc hiện nay, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp, góp phần đẩy nhanh xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng.

Từ khóa: Giải quyết tranh chấp, hợp đồng tín dụng, trọng tài thương mại.

RESOLVING CREDIT CONTRACT DISPUTES THROUGH COMMERCIAL ARBITRATION:
EVIDENCE FROM VIETNAM INTERNATIONAL ARBITRATION CENTRE

Abstract: This article clarifies the role of commercial arbitration in resolving credit contract disputes at Vietnamese commercial banks through practical experiences at Vietnam International Arbitration Centre (VIAC). By analyzing the legal framework, current practices, and existing challenges, the article proposes several solutions to enhance the effectiveness of dispute resolution, thereby contributing to accelerating non-performing loan settlement and ensuring the safety and stability of banking operations.

Keywords: Dispute resolution, credit contract, commercial arbitration.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh nền kinh tế đối mặt với nhiều biến động và thách thức, hoạt động cấp tín dụng của hệ thống NHTM luôn tiềm ẩn những rủi ro bất khả kháng. Hệ quả tất yếu là áp lực nợ xấu có xu hướng gia tăng, kéo theo sự bùng nổ của các vụ việc tranh chấp phát sinh từ hợp đồng tín dụng và hợp đồng bảo đảm. Khi các khoản nợ lâm vào tình trạng tranh chấp kéo dài, dòng vốn của hệ thống ngân hàng bị ngưng trệ, gây ảnh hưởng trực tiếp đến tính thanh khoản và sự an toàn của toàn hệ thống tài chính. Thực trạng này đặt ra yêu cầu cấp bách về việc tìm kiếm một cơ chế giải quyết tranh chấp tối ưu, giúp giải phóng dòng tiền và xử lý nợ xấu một cách triệt để.

Khi hệ thống Tòa án ngày càng quá tải, trọng tài thương mại được xem là một giải pháp rất phù hợp với nhu cầu của các ngân hàng. Khác với quy trình kiện tụng truyền thống, trọng tài thương mại giúp giải quyết tranh chấp nhanh hơn nhờ thủ tục linh hoạt, đồng thời bảo mật tuyệt đối thông tin để giữ uy tín cho cả ngân hàng lẫn khách hàng. Đặc biệt, phán quyết của trọng tài mang tính chung thẩm, có hiệu lực thi hành ngay mà không phải trải qua nhiều cấp xét xử kéo dài (như sơ thẩm, phúc thẩm). Ngoài ra, các trọng tài viên đều là những chuyên gia có kiến thức sâu về tài chính, ngân hàng, giúp đảm bảo các quyết định đưa ra luôn chính xác và có tính thuyết phục cao.

Chính vì vậy, việc mở rộng và chủ động áp dụng phương thức trọng tài thương mại trong hoạt động ngân hàng không còn là một lựa chọn mang tính tham khảo, mà đã trở thành xu thế tất yếu khách quan. Các NHTM cần từng bước thay đổi tư duy quản trị rủi ro pháp lý, chuyển từ sự phụ thuộc hoàn toàn vào hệ thống Tòa án sang cơ chế trọng tài. Việc tối ưu hóa công cụ này thông qua thực tiễn tại VIAC sẽ là bước đi chiến lược, góp phần hoàn thiện hành lang xử lý nợ xấu và nâng cao hiệu quả kinh doanh của toàn ngành Ngân hàng trong giai đoạn mới.

2. Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại tại Việt Nam

Nền tảng pháp lý cốt lõi điều chỉnh hoạt động giải quyết tranh chấp bằng trọng tài tại Việt Nam hiện nay là Luật Trọng tài thương mại năm 2010. Để cụ thể hóa các quy định trong thực tiễn, Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại. Đây là văn bản pháp lý quan trọng đóng vai trò định hình mối quan hệ phối hợp và hỗ trợ tư pháp giữa hệ thống Tòa án và các trung tâm trọng tài, đặc biệt là trong việc xác định thẩm quyền, giải quyết yêu cầu hủy phán quyết trọng tài hoặc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Bên cạnh khung pháp lý chung về trọng tài, việc áp dụng phương thức này trong lĩnh vực ngân hàng còn tìm thấy sự tương thích và đồng bộ sâu sắc với pháp luật chuyên ngành là Luật Các tổ chức tín dụng (TCTD) năm 2024. Tại các quy định về xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm, Luật Các TCTD năm 2024 tiếp tục khuyến khích và mở rộng quyền tự chủ của các ngân hàng trong việc lựa chọn các phương thức đồng thuận để đẩy nhanh tiến độ thu hồi vốn. Sự giao thoa giữa quyền tự định đoạt của các TCTD theo pháp luật ngân hàng và bản chất thỏa thuận tự nguyện của Luật Trọng tài thương mại năm 2010 tạo ra một hành lang pháp lý vững chắc, cho phép các bên thiết lập cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án một cách hợp pháp.

Gốc rễ phát sinh thẩm quyền của Hội đồng trọng tài bắt nguồn từ điều khoản trọng tài được các bên thiết lập. Theo quy định tại Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP, thỏa thuận trọng tài có thể được ghi trực tiếp thành một điều khoản trong hợp đồng tín dụng mẫu của ngân hàng hoặc dưới hình thức một văn bản thỏa thuận riêng, miễn là được xác lập dưới dạng văn bản. Về mặt hiệu lực, thỏa thuận trọng tài hoàn toàn độc lập với hợp đồng tín dụng; việc hợp đồng bị vô hiệu, sửa đổi hay chấm dứt không làm mất đi hiệu lực của điều khoản trọng tài. Tuy nhiên, để đảm bảo giá trị pháp lý tuyệt đối khi xảy ra tranh chấp, các NHTM phải kiểm soát chặt chẽ điều kiện có hiệu lực: Người xác lập thỏa thuận phải đúng thẩm quyền đại diện, nội dung không vi phạm điều cấm và tên của tổ chức trọng tài phải được chỉ định một cách rõ ràng, chính xác.

Cuối cùng, để một phán quyết trọng tài sau khi ban hành có giá trị cưỡng chế trên thực tế, hành lang pháp lý phải viện dẫn đến Luật Thi hành án dân sự. Văn bản này ghi nhận phán quyết của trọng tài thương mại là một trong các đối tượng thuộc thẩm quyền thụ lý và tổ chức thi hành của cơ quan thi hành án dân sự (Cơ quan Thi hành án dân sự). Đồng thời, mối quan hệ hỗ trợ và giám sát tư pháp của Tòa án đối với quá trình tố tụng trọng tài cũng được quy định đồng bộ tại Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015, đảm bảo cho phán quyết của VIAC có đầy đủ bệ đỡ pháp lý từ giai đoạn khởi kiện cho đến khâu thi hành án thực tế.

3. Thực trạng và vướng mắc về giải quyết tranh chấp qua trọng tài thương mại tại các NHTM

3.1. Thực trạng

Thực tiễn xử lý rủi ro tín dụng tại hệ thống các NHTM Việt Nam đang đặt ra những áp lực chưa từng có đối với cơ quan tài phán. Sự gia tăng các vụ việc xử lý nợ xấu xuất phát từ áp lực thu hồi các khoản nợ phát sinh sau giai đoạn kinh tế biến động khiến số lượng hồ sơ tại Tòa án ngày càng lớn, dẫn đến tình trạng còn nhiều hồ sơ chờ xử lý. Hệ quả là nhiều khoản nợ phải thu chưa thể xử lý dứt điểm, làm chậm quá trình thu hồi vốn, gia tăng chi phí xử lý nợ và ảnh hưởng đến khả năng cung ứng tín dụng của ngân hàng. Dù Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đặt kỳ vọng rút ngắn thời gian xét xử xuống dưới 300 ngày, nhưng thực tế do tình trạng quá tải nghiêm trọng, các vụ kiện tín dụng khi đi qua hai cấp xét xử (sơ thẩm và phúc thẩm) thường bị kéo dài từ 1,5 đến 3 năm, chưa tính đến giai đoạn thi hành án thực tế.

Bảng 1 thống kê các vụ tranh chấp giải quyết của trọng tài thương mại và tỉ lệ nhóm vụ việc tranh chấp tín dụng giai đoạn 2023 - 2024.

Bảng 1: Thống kê các vụ tranh chấp giải quyết của trọng tài thương mại và tỉ lệ nhóm vụ việc tranh chấp tín dụng giai đoạn 2023 - 2024

Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Từ Bảng 1 có thể rút ra ba điểm nhấn quan trọng phản ánh xu hướng xử lý tranh chấp của các TCTD hiện nay:

Thứ nhất, các vụ tranh chấp giải quyết của trọng tài thương mại ghi nhận sự gia tăng trong thời gian vừa qua. Cụ thể, việc các vụ việc thụ lý mới tại VIAC cao nhất trong lịch sử với 475 vụ trong năm 2024 (tăng 12,03% so với năm trước) không đơn thuần là sự gia tăng về mặt cơ học. Đây là minh chứng rõ nét cho thấy làn sóng dịch chuyển dịch vụ pháp lý từ cơ quan tư pháp (Tòa án) sang cơ quan tài phán phi chính phủ (Trọng tài) đang diễn ra mạnh mẽ. Khi tổng số vụ việc lũy kế cán mốc 3.391 vụ, uy tín và năng lực thực thi của VIAC đã tạo được niềm tin vững chắc đối với cộng đồng doanh nghiệp nói chung và các định chế tài chính nói riêng.

Thứ hai, về vị thế cốt lõi của nhóm tranh chấp tín dụng: Việc nhóm ngành tài chính - ngân hàng - tín dụng liên tục duy trì vị thế trong Top 4 lĩnh vực phát sinh nhiều vụ việc nhất tại VIAC (với tỉ trọng đóng góp từ 5% đến 10% tổng số vụ việc) phản ánh một thực tế: Các NHTM đang là những thực thể tiên phong trong việc hiện đại hóa công cụ quản trị rủi ro pháp lý. Thay vì chấp nhận chịu đọng vốn tại các cấp Tòa án, các TCTD đã chủ động chọn Trọng tài làm bệ đỡ để giải phóng các khoản nợ có vấn đề.

Thứ ba, về sự thay đổi căn bản trong tư duy chọn cơ quan tài phán: Tỉ trọng ổn định này đồng thời khẳng định việc sử dụng trọng tài thương mại không còn mang tính chất thử nghiệm nhất thời hay cục bộ. Nó đã trở thành một định hướng chiến lược dài hạn của các ngân hàng. Sự dịch chuyển này cho thấy các TCTD đang ráo riết tìm kiếm một công cụ có tính linh hoạt cao, thủ tục bảo mật và đặc biệt là áp dụng nguyên tắc một cấp xét xử để đẩy nhanh tốc độ quay vòng vốn, giảm thiểu chi phí cơ hội do dòng tiền bị phong tỏa dài ngày.

Thứ tư, về thỏa thuận trọng tài bị vô hiệu: Khoảng 10 - 15% các tranh chấp tín dụng có điều khoản trọng tài nhưng không thể khởi kiện được do điều khoản lỏng lẻo (ví dụ: Ghi sai tên Trung tâm trọng tài, người ký hợp đồng tín dụng không đúng thẩm quyền).

Thứ năm, về hiệu quả thi hành án: Phán quyết của Trọng tài có giá trị cưỡng chế như Bản án của Tòa án, nhưng vẫn phải chuyển qua Cơ quan Thi hành án dân sự. Do cơ chế phối hợp, tỉ lệ thi hành án thành công đối với các phán quyết trọng tài trong lĩnh vực tín dụng vẫn gặp nút thắt ở khâu phong tỏa, xử lý tài sản bảo đảm (đặc biệt là bất động sản), kéo dài thời gian thu hồi dòng tiền thực tế của ngân hàng.

Bảng 2 minh họa sự khác biệt giữa phương thức Tòa án và phương thức Trọng tài (qua VIAC) trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng.

Bảng 2: So sánh phương thức Tòa án và phương thức Trọng tài (qua VIAC) trong giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng

Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Nguồn: Tổng hợp của tác giả

3.2. Vướng mắc

Mặc dù sở hữu nhiều ưu thế vượt trội về mặt lý thuyết, việc đưa cơ chế trọng tài thương mại vào thực tế xử lý nợ tại các NHTM hiện nay vẫn vấp phải những "điểm nghẽn" lớn. Các vướng mắc cốt lõi được nhận diện rõ nét qua 3 phương diện sau:

Một là, vướng mắc về thẩm quyền đối với bên thứ ba (bên bảo đảm)

Tố tụng trọng tài vận hành hoàn toàn dựa trên nguyên tắc thỏa thuận tự nguyện, nghĩa là Hội đồng trọng tài chỉ có thẩm quyền xét xử đối với các bên thực sự đặt bút ký vào thỏa thuận trọng tài. Trong khi đó, đặc thù của phần lớn các tranh chấp hợp đồng tín dụng là luôn gắn liền với các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong đó tài sản thế chấp thường thuộc quyền sở hữu của một bên thứ ba (bên bảo đảm). Nếu ngay từ khâu thẩm định và xác lập hợp đồng, ngân hàng không ràng buộc được bên bảo đảm này tham gia ký kết vào điều khoản trọng tài, việc đưa họ vào quy trình giải quyết tranh chấp tại VIAC là cực kỳ phức tạp. Hệ quả là ngân hàng đối mặt với rủi ro bị chia cắt thẩm quyền tài phán: Tranh chấp đòi nợ gốc giải quyết tại Trọng tài, nhưng việc xử lý tài sản bảo đảm lại phải đưa ra Tòa án, gây lãng phí lớn về thời gian và nguồn lực.

Hai là, điểm nghẽn trong khâu thi hành án và rủi ro về quyền yêu cầu hủy phán quyết

Dù phán quyết của VIAC là chung thẩm, có giá trị bắt buộc ngay, nhưng bản thân trung tâm trọng tài không sở hữu cơ quan cưỡng chế riêng. Để hiện thực hóa quyền thu hồi nợ, các NHTM bắt buộc phải thực hiện thủ tục đăng ký và yêu cầu Cơ quan Thi hành án dân sự tổ chức thi hành. Lợi dụng quy trình liên thông này, nhiều khách hàng vay thua kiện đã cố tình tìm cách gửi đơn lên Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu hủy phán quyết trọng tài nhằm trì hoãn nghĩa vụ trả nợ. Quá trình xem xét các khiếu nại này vô tình bị kéo dài, tạo cơ hội cho bên vay tẩu tán tài sản, biến ưu thế "giải quyết nhanh chóng" của trọng tài trở thành vô nghĩa trên thực tế .

Ba là, rào cản tâm lý cán bộ ngân hàng và rủi ro kỹ thuật dẫn đến vô hiệu thỏa thuận

Do thói quen sử dụng hệ thống Tòa án công quyền đã ăn sâu nhiều năm qua các thế hệ cán bộ pháp chế và xử lý nợ, việc chuyển dịch sang một cơ chế tài phán tư như trọng tài thường gặp phải sự dè dặt, e ngại từ cấp thực thi tác nghiệp. Tâm lý "ngại thay đổi" này càng nghiêm trọng hơn khi quy trình nội bộ của nhiều TCTD hiện nay vẫn chưa được thiết kế sẵn hoặc chưa chuẩn hóa hệ thống biểu mẫu có cài sẵn điều khoản trọng tài mẫu. Hệ quả từ việc thiếu chuẩn hóa dẫn đến những sai sót kỹ thuật nghiêm trọng khi soạn thảo (như ghi sai tên Trung tâm trọng tài, người ký thỏa thuận không đúng thẩm quyền đại diện), khiến một lượng lớn điều khoản trọng tài bị tuyên vô hiệu ngay từ khâu thụ lý.

4. Một số khuyến nghị nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng tại các NHTM

4.1. Đối với các cơ quan quản lý

Để phương thức trọng tài phát huy triệt để ưu thế về mặt tốc độ và giảm tải áp lực cho hệ thống tư pháp công, các cơ quan có thẩm quyền cần tập trung khơi thông hai nút thắt lớn nhất là hủy phán quyết và thi hành án.

Theo đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) cần tiếp tục nghiên cứu đưa tỉ lệ giải quyết nợ xấu thành công qua các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (bao gồm trọng tài và hòa giải thương mại) vào một trong các chỉ số mang tính khuyến khích khi đánh giá hiệu quả quản trị rủi ro của các TCTD. Đồng thời, NHNN có thể đóng vai trò đầu mối ghi nhận các vướng mắc thực tế từ phía các ngân hàng để kịp thời phối hợp liên ngành với Bộ Tư pháp và Tòa án nhân dân tối cao, nhằm tối ưu hóa quy trình liên thông giữa phán quyết trọng tài và khâu thi hành án thực tế.

Tòa án nhân dân tối cao cần siết chặt tiêu chí và quy trình xem xét hủy phán quyết trọng tài: Thực tiễn cho thấy Điều 68 Luật Trọng tài thương mại năm 2010 đang bị bên vay lạm dụng như một công cụ trì hoãn thi hành án. Vì vậy, Tòa án nhân dân tối cao cần ban hành văn bản hướng dẫn quy định rõ: Tòa án chỉ xem xét các vi phạm nghiêm trọng về mặt thủ tục tố tụng trọng tài, tuyệt đối không xét xử lại nội dung tranh chấp mà Hội đồng trọng tài đã phán quyết. Đồng thời, cần chỉ đạo Tòa án các cấp tối ưu hóa tiến độ xử lý, giải quyết dứt điểm các đơn yêu cầu hủy phán quyết trong thời hạn luật định, triệt tiêu động cơ lạm dụng kẽ hở pháp luật của bên vay.

Ngoài ra, cần hoàn thiện cơ chế liên thông giữa Phán quyết trọng tài và Cơ quan Thi hành án dân sự. Cụ thể, Bộ Tư pháp cần chủ trì phối hợp với các cơ quan liên quan xây dựng quy trình đơn giản hóa thủ tục cấp quyết định thi hành phán quyết trọng tài. Đặc biệt, cần có hướng dẫn riêng biệt và đồng bộ về việc phong tỏa, kê biên và cưỡng chế xử lý tài sản bảo đảm là bất động sản dựa trên phán quyết của VIAC. Cơ chế này cần quy định rõ trách nhiệm phối hợp của văn phòng đăng ký đất đai và chính quyền địa phương, đảm bảo phán quyết trọng tài có giá trị cưỡng chế nhanh chóng và triệt để như bản án của Tòa án.

4.2. Đối với các NHTM

Thứ nhất, chuẩn hóa và đồng bộ hóa "Điều khoản trọng tài mẫu" trong toàn hệ thống: Để triệt tiêu hoàn toàn tỉ lệ thỏa thuận trọng tài bị tuyên vô hiệu do lỗi soạn thảo, bộ phận Pháp chế trụ sở chính của các NHTM cần xây dựng một “Điều khoản trọng tài mẫu” quy chuẩn. Điều khoản này phải tuân thủ nghiêm ngặt Luật Trọng tài thương mại năm 2010 và Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP. Tránh tuyệt đối các lỗi kỹ thuật sơ đẳng như ghi sai tên trung tâm (bắt buộc phải ghi chính xác là Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam), quy định sai thẩm quyền ký kết, hoặc đưa vào hợp đồng các điều khoản tiền tố tụng thiếu rõ ràng (chẳng hạn như yêu cầu bắt buộc phải “thương lượng một cách thiện chí” hoặc “hòa giải tối đa” nhưng lại không ấn định thời hạn hay quy trình cụ thể). Những cam kết định tính này rất dễ bị đối tác lạm dụng để trì hoãn, gây tranh chấp kéo dài ngay từ khâu xác định thẩm quyền thụ lý vụ việc.

Thứ hai, xây dựng cơ chế chủ động ràng buộc thẩm quyền đối với bên thứ ba (bên bảo đảm): Đối với các khoản vay có tài sản thế chấp thuộc sở hữu của bên thứ ba, ngân hàng cần áp dụng quy định bắt buộc: Bên bảo đảm phải là một chủ thể cùng tham gia ký kết vào thỏa thuận trọng tài. Điều khoản này có thể lồng ghép trực tiếp vào Hợp đồng thế chấp hoặc lập thành văn bản thỏa thuận ba bên (gồm ngân hàng - bên vay - bên bảo đảm). Việc chủ động ràng buộc pháp lý này đảm bảo rằng khi phát sinh nợ xấu, Hội đồng trọng tài sẽ có đầy đủ thẩm quyền để phán quyết đồng thời cả hai nghĩa vụ: Đòi nợ gốc từ bên vay và xử lý tài sản thế chấp của bên bảo đảm. Giải pháp này giúp ngân hàng tránh được rủi ro bị "chia cắt thẩm quyền tài phán" (đòi tiền một nơi, xử lý tài sản một nơi), từ đó tiết kiệm tối đa thời gian và chi phí thu hồi nợ.

Thứ ba, đào tạo chuyên sâu và phá bỏ rào cản tâm lý của cán bộ xử lý nợ, pháp chế: Các ngân hàng cần phối hợp với VIAC mở các lớp tập huấn, hội thảo thực tế nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng tranh tụng trọng tài cho đội ngũ nhân sự pháp chế và xử lý nợ tại chi nhánh. Đồng thời, nên đưa việc sử dụng điều khoản trọng tài vào quy trình hướng dẫn công việc chuẩn, xem đây như một giải pháp ưu tiên để quản trị rủi ro.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ luật Tố tụng dân sự (Bộ luật số 92/2015/QH13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 01/7/2016).

2. Nghị quyết số 01/2014/NQ-HĐTP ngày 20/3/2014 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật Trọng tài thương mại.

3. Luật Các TCTD (Luật số 32/2024/QH15 ngày 18/01/2024 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 01/7/2024).

4. Luật Thi hành án dân sự (Luật số 26/2008/QH12 ngày 14/11/2008 của Quốc hội, có hiệu lực từ 01/7/2009).

5. Luật Thi hành án dân sự (Luật số 64/2014/QH13 ngày 25/11/2014 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Thi hành án dân sự năm 2008, có hiệu lực từ ngày 01/7/2015).

6. Luật Trọng tài thương mại (Luật số 54/2010/QH12 ngày 17/6/2010 của Quốc hội, có hiệu lực từ ngày 01/01/2011).

7. VIAC (2023), Báo cáo thường niên năm 2023: Thúc đẩy các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) tại Việt Nam.

8. VIAC (2024), Báo cáo thường niên và Thống kê hoạt động giải quyết tranh chấp năm 2024.

9. VIAC (2024), Hệ thống Thống kê dữ liệu tranh chấp, https://viac.vn/thong-ke/thong-ke-hoat-dong-giai-quyet-tranh-chap-nam-2024-s45.html

Nguyễn Cảnh Tâm
Ban Chính sách tín dụng - Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank)

Tin bài khác

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Xem thêm
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng