Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Nghiên cứu - Trao đổi
Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
aa

Tóm tắt: Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, gia tăng áp lực từ phát triển du lịch và yêu cầu bảo tồn các giá trị nổi bật toàn cầu của Di sản thế giới Tràng An, việc huy động tài chính xanh và tín dụng xanh đang trở thành yêu cầu quan trọng nhằm bảo đảm nguồn lực cho bảo tồn và phát triển bền vững. Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh đối với Quần thể danh thắng Tràng An trên cơ sở tiếp cận từ sức chịu tải môi trường. Kết quả phân tích cho thấy, sức chịu tải môi trường không chỉ là công cụ quản lý du lịch mà còn là căn cứ khoa học để xác định nhu cầu đầu tư và ưu tiên phân bổ nguồn lực. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái tài chính xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An, đồng thời nhấn mạnh vai trò của hệ thống ngân hàng trong phát triển tín dụng xanh.

Từ khóa: Tài chính xanh, tín dụng xanh, sức chịu thải môi trường, tài chính bảo tồn, Di sản thế giới Tràng An.

ENHANCING GREEN FINANCE GREEN CREDIT MECHANISMS FOR THE CONSERVATION
AND SUSTAINABLE DEVELOPMENT OF THE TRANG AN WORLD HERITAGE SITE:
AN ENVIRONMENTAL CARRYING CAPACITY-BASED APPROACH

Abstract: In the context of climate change, increasing tourism pressures, and the need to safeguard the Outstanding Universal Value of the Trang An World Heritage Site, the mobilization of green finance and green credit has become essential to securing adequate financial resources for conservation and sustainable development. This article examines the role of green finance and green credit in supporting the conservation and sustainable development of the Trang An Scenic Landscape Complex using an environmental carrying capacity-based approach. The findings indicate that environmental carrying capacity serves not only as a tool for tourism management but also as a scientific basis for identifying investment priorities and guiding the efficient allocation of financial resources. Based on these findings, the article proposes several solutions to foster a green finance ecosystem for the conservation and sustainable development of the Trang An World Heritage Site, while emphasizing the role of the banking system in promoting green credit.

Keywords: Green finance, green credit, environmental carrying capacity, conservation finance, Trang An World Heritage Site.

Ảnh minh họa (Nguồn: Ban Quản lý Quần thể danh thắng Tràng An
Quần thể Danh thắng Tràng An (Nguồn: Ban Quản lý Quần thể Danh thắng Tràng An)

1. Tổng quan về cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững du lịch di sản

Biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, gia tăng áp lực từ phát triển kinh tế đang đặt ra những thách thức ngày càng lớn đối với công tác bảo tồn các di sản thiên nhiên và văn hóa. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi tư duy bảo tồn từ dựa vào ngân sách công sang huy động đa dạng các nguồn lực tài chính nhằm cho công tác bảo tồn di sản là giải pháp hiệu quả. Các sáng kiến về tài chính xanh, tín dụng xanh, đầu tư bền vững, tài chính bảo tồn, trái phiếu xanh… đang trở thành những công cụ quan trọng góp phần hiện thực hóa các mục tiêu phát triển bền vững.

Tài chính xanh được hiểu là các dịch vụ và công cụ tài chính được thiết kế để hỗ trợ các dự án và hoạt động về môi trường, bao gồm các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, công nghệ sạch, tiết kiệm năng lượng… Bằng cách cung cấp nguồn vốn, công cụ quản lý rủi ro và cơ hội đầu tư, tài chính xanh hỗ trợ phát triển và thực hiện các giải pháp giảm thiểu biến đổi khí hậu và thúc đẩy bảo tồn.

Là một công cụ quan trọng của chính sách tài chính xanh, tín dụng xanh tạo động lực để doanh nghiệp phải chịu đầy đủ chi phí đối với những tác động tiêu cực mà hoạt động sản xuất, kinh doanh gây ra cho môi trường, thay vì để xã hội hoặc Nhà nước gánh chịu. Thông qua cơ chế thị trường, chính sách này định hướng dòng vốn vào các ngành, lĩnh vực phát thải carbon thấp. Bằng việc điều chỉnh chi phí vay vốn và hạn chế khả năng tiếp cận nguồn vốn của các doanh nghiệp gây ô nhiễm, chính sách này làm tăng chi phí huy động vốn đối với các doanh nghiệp phát thải cao, đồng thời khuyến khích đầu tư vào công nghệ sạch và sản xuất bền vững (Jiayu Wan và cộng sự, 2026).

Đối với các khu di sản thế giới, tài chính xanh và tín dụng xanh có vai trò ngày càng quan trọng trong việc huy động nguồn lực cho bảo tồn và phát triển bền vững. Nguồn vốn này có thể được sử dụng để đầu tư hạ tầng môi trường, phục hồi hệ sinh thái, xử lý chất thải, bảo tồn cảnh quan, phát triển giao thông xanh, ứng dụng công nghệ số trong quản lý điểm đến và hỗ trợ sinh kế bền vững cho cộng đồng địa phương (UNESCO, 2020).

Sức chịu tải môi trường là khả năng của hệ thống tài nguyên và môi trường trong việc duy trì các hoạt động của con người mà không làm suy giảm nghiêm trọng chất lượng môi trường và chức năng hệ sinh thái (Shahin Khani và cộng sự, 2025; Xiaomin Wang và cộng sự, 2024). Khái niệm này phản ánh sự cân bằng giữa khả năng cung cấp tài nguyên, tiếp nhận chất thải của môi trường và mức độ khai thác của con người. Khi áp lực khai thác vượt quá ngưỡng chịu tải, môi trường có thể bị ô nhiễm, tài nguyên suy thoái và hệ sinh thái mất cân bằng.

Theo cách tiếp cận này, đánh giá sức chịu tải môi trường không chỉ giúp xác định lĩnh vực cần đầu tư mà còn hỗ trợ ưu tiên phân bổ nguồn lực tài chính, bảo đảm vốn được tập trung vào các hạng mục có ý nghĩa quan trọng đối với bảo tồn di sản. Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu đã được triển khai để đánh giá sức chịu tải môi trường tại Vườn quốc gia Cúc Phương (tỉnh Ninh Bình), khu du lịch Sầm Sơn (tỉnh Thanh Hóa), Bản Lác (tỉnh Hòa Bình) và Công viên địa chất toàn cầu Cao nguyên đá Đồng Văn (tỉnh Tuyên Quang). Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu vẫn tập trung vào khía cạnh kỹ thuật của đánh giá sức chịu tải, trong khi chủ đề tài chính xanh hướng đến năng lượng tái tạo, công nghiệp, nông nghiệp và ứng phó với biến đổi khí hậu. Do đó, vẫn còn thiếu các nghiên cứu phân tích mối liên hệ giữa kết quả đánh giá sức chịu tải môi trường với các công cụ tài chính để đầu tư cho bảo tồn và phát triển tại các khu di sản.

Trên cơ sở đó, nhóm tác giả đề xuất khung tiếp cận tổng quát nghiên cứu về tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn Danh thắng Tràng An (Hình 1), trong đó đánh giá sức chịu tải môi trường là căn cứ xác định nhu cầu đầu tư ưu tiên. Kết quả đánh giá là cơ sở để lựa chọn và huy động các công cụ tài chính xanh, tín dụng xanh phù hợp nhằm bảo tồn di sản và phát triển du lịch bền vững.

Hình 1. Khung nghiên cứu về tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn Danh thắng Tràng An

Ghi chú: ODA: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức; ESG: Bộ tiêu chí môi trường (E), xã hội (S), quản trị (G); BĐKH: Biến đổi khí hậu Nguồn: Minh họa của nhóm tác giả

Ghi chú: ODA: Nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức; ESG: Bộ tiêu chí môi trường (E), xã hội (S), quản trị (G); BĐKH: Biến đổi khí hậu.

Nguồn: Minh họa của nhóm tác giả

Bài viết này tập trung phân tích vai trò của tài chính xanh, tín dụng xanh trong bảo tồn Di sản thế giới Tràng An dựa trên đánh giá sức chịu tải môi trường. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn, nhóm tác giả đề xuất khung tiếp cận và giải pháp huy động hiệu quả các nguồn lực tài chính, góp phần bảo tồn các giá trị nổi bật toàn cầu, nâng cao khả năng chống chịu của hệ sinh thái và phát triển du lịch bền vững Danh thắng Tràng An.

2. Nhu cầu tài chính xanh cho du lịch bền vững Danh thắng Tràng An

Quần thể Danh thắng Tràng An là Di sản Văn hóa và Thiên nhiên thế giới đầu tiên và duy nhất của Việt Nam được UNESCO ghi danh theo cả hai tiêu chí văn hóa và thiên nhiên. Với diện tích quy hoạch khoảng 9.663 ha, khu di sản bao gồm hệ thống núi đá vôi, hang động, sông ngòi, rừng đặc dụng cùng nhiều di tích lịch sử và di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu, phản ánh quá trình tiến hóa địa chất và lịch sử cư trú lâu dài của con người.

Hiện nay, quần thể Danh thắng Tràng An đang chịu áp lực ngày càng lớn đối với môi trường và hệ thống hạ tầng kỹ thuật. Sự gia tăng của lượng khách, đặc biệt trong các mùa cao điểm, làm gia tăng nhu cầu đối với hệ thống giao thông, bến thuyền, cấp nước, điện, thu gom, xử lý chất thải, đồng thời tạo sức ép lên các tuyến tham quan, cảnh quan và năng lực quản lý của khu di sản. Mặc dù kết quả quan trắc môi trường cho thấy chất lượng nước tại khu vực Tràng An vẫn duy trì ở mức tốt, với chỉ số chất lượng nước (WQI) dao động từ 92 - 100, tại khu vực Tam Cốc đạt 79 - 93 (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình, 2025). Xu hướng gia tăng mạnh lượng khách du lịch đang đặt ra yêu cầu cấp thiết hạ tầng kỹ thuật, năng lực xử lý môi trường, kiểm soát ô nhiễm, bảo đảm cân bằng giữa phát triển với bảo tồn. Mặc dù các áp lực này nếu không được đầu tư, quản lý kịp thời sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng môi trường, khả năng phục hồi của hệ sinh thái, hiệu quả khai thác du lịch trong dài hạn. Do đó, việc đầu tư cho hạ tầng xanh và các giải pháp quản lý hiện đại cần được xem là một bộ phận không thể tách rời của chiến lược bảo tồn, phát triển bền vững Tràng An.

Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 21/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ và phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, tỉnh Ninh Bình đã nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát sức chứa du lịch, tăng cường quan trắc môi trường, ứng dụng công nghệ số trong giám sát, quản lý di sản và huy động đa dạng nguồn lực đầu tư nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ sinh thái, duy trì tính toàn vẹn và giá trị nổi bật toàn cầu của di sản. Trong đó, nhu cầu huy động nguồn lực tài chính xanh cho bảo tồn và phát triển du lịch bền vững tại Danh thắng Tràng An ngày càng trở nên cấp thiết, không chỉ để đáp ứng yêu cầu đầu tư dài hạn cho công tác bảo tồn mà còn tạo cơ chế tài chính ổn định nhằm cân bằng giữa khai thác kinh tế và bảo vệ giá trị di sản (Bảng 1).

Bảng 1. Nhu cầu huy động nguồn lực tài chính xanh cho bản tồn, phát triển du lịch bền vững Danh thắng Tràng An

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

Các lĩnh vực đầu tư trên đều đòi hỏi nguồn vốn trung và dài hạn, trong khi khả năng đáp ứng của ngân sách nhà nước còn có giới hạn. Điều này cho thấy cần mở rộng các kênh huy động tài chính xanh, tín dụng xanh, mô hình PPP và các nguồn vốn xã hội hóa nhằm đáp ứng yêu cầu đầu tư ngày càng tăng.

Có thể thấy, phần lớn các nhu cầu đầu tư của Tràng An đều thuộc nhóm đầu tư xanh, vừa góp phần bảo tồn giá trị di sản vừa nâng cao khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển du lịch bền vững. Đây cũng là những lĩnh vực phù hợp để huy động các công cụ tài chính xanh, tín dụng xanh và các nguồn vốn đầu tư bền vững. Như vậy, đánh giá sức chịu tải môi trường không chỉ giúp xác định các hạng mục cần ưu tiên đầu tư mà còn tạo cơ sở khoa học cho việc thiết kế và huy động các dòng vốn xanh, bảo đảm sự gắn kết giữa bảo tồn di sản và phát triển kinh tế trong dài hạn.

3. Khoảng trống trong phát triển tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn, phát triển du lịch bền vững Danh thắng Tràng An

Xu hướng phát triển tài chính xanh trên thế giới đang mở ra nhiều cơ hội huy động nguồn lực cho bảo tồn và phát triển bền vững các di sản thiên nhiên. Bên cạnh các khoản vay ưu đãi truyền thống, hệ thống tài chính xanh hiện nay đã mở rộng với nhiều công cụ như tín dụng xanh, trái phiếu xanh, quỹ đầu tư xanh, tài chính hỗn hợp và các cơ chế tài chính dựa vào thiên nhiên, góp phần đa dạng hóa nguồn vốn cho các mục tiêu phát triển bền vững.

Hiện nay, chính sách thúc đẩy tín dụng xanh được Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) và các cơ quan liên quan hết sức quan tâm hoàn thiện; nhiều tổ chức tín dụng đã triển khai các chương trình cho vay đối với dự án thân thiện với môi trường. Đây là tiền đề quan trọng để các dự án đầu tư xanh tại Tràng An tiếp cận nguồn vốn ưu đãi. Tuy nhiên, trên thực tế, các dự án bảo tồn di sản và du lịch sinh thái vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận tín dụng xanh do thiếu tiêu chí đánh giá chuyên biệt, cơ chế chia sẻ rủi ro và danh mục dự án xanh dành riêng cho lĩnh vực bảo tồn.

Mặc dù đã huy động được nguồn lực từ ngân sách nhà nước, doanh thu du lịch và xã hội hóa, cơ cấu tài chính cho bảo tồn và phát triển du lịch bền vững tại Tràng An vẫn còn nhiều hạn chế. Nguồn vốn vẫn phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách và doanh thu du lịch, trong khi tỉ trọng vốn xanh và vốn tư nhân dài hạn còn thấp; các công cụ tài chính chuyên biệt như quỹ bảo tồn, quỹ đầu tư xanh, trái phiếu xanh hay cơ chế tài chính dựa trên vốn tự nhiên chưa được hình thành. Đồng thời, mô hình PPP và tài chính hỗn hợp chưa được khai thác hiệu quả, làm hạn chế khả năng thu hút nguồn lực từ khu vực tư nhân và các tổ chức tài chính quốc tế. Bên cạnh đó, kết quả lượng hóa giá trị vốn tự nhiên của Tràng An vẫn chưa được tích hợp đầy đủ vào quá trình hoạch định chính sách và phân bổ nguồn lực đầu tư.

Trong bối cảnh chuyển đổi mô hình du lịch xanh, phát thải thấp và kinh tế tuần hoàn, Tràng An cần xây dựng một hệ sinh thái tài chính đa dạng và bền vững, trong đó ngân sách nhà nước đóng vai trò vốn mồi, còn tín dụng xanh, trái phiếu xanh, mô hình PPP, quỹ bảo tồn và các cơ chế tài chính dựa vào thiên nhiên trở thành những nguồn lực bổ sung quan trọng để bảo tồn lâu dài giá trị di sản. Bảng 2 trình bày khái quát về các nguồn lực tài chính cho bảo tồn, phát triển du lịch Danh thắng Tràng An hiện nay.

Bảng 2. Khái quát về các nguồn lực tài chính cho bảo tồn, phát triển du lịch Danh thắng Tràng An

Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

4. Một số giải pháp huy động tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn, phát triển du lịch bền vững Danh thắng Tràng An

Trong bối cảnh thúc đẩy tăng trưởng xanh, phát triển thị trường tài chính xanh, cần từng bước hình thành hệ sinh thái tài chính cho bảo tồn di sản, nhóm tác giả đề xuất một số giải pháp huy động tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển du lịch bền vững di sản Tràng An như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm đưa bảo tồn di sản trở thành lĩnh vực ưu tiên trong hệ thống tài chính xanh quốc gia. Theo đó, cần bổ sung các dự án bảo tồn di sản, phục hồi hệ sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, chuyển đổi số và du lịch xanh vào danh mục dự án xanh. Lồng ghép quy hoạch bảo tồn với kế hoạch đầu tư công và huy động vốn xã hội hóa, bảo đảm phân bổ nguồn lực theo kết quả đánh giá sức chịu tải môi trường.

Thứ hai, phát triển tín dụng xanh, nâng cao vai trò của hệ thống ngân hàng thông qua các sản phẩm tín dụng cho du lịch gắn với bảo tồn di sản. Các khảo sát tài chính xanh từ tổ chức tín dụng về phương tiện giao thông điện, công trình xanh, năng lượng tái tạo, xử lý chất thải, phục hồi hệ sinh thái và chuyển đổi số. Bên cạnh đó, cần tích hợp các tiêu chí ESG vào hoạt động thẩm định tín dụng nhằm định hướng dòng vốn vào các dự án có hiệu quả môi trường và xã hội cao.

Thứ ba, đa dạng hóa nguồn vốn và công cụ tài chính xanh, bao gồm trái phiếu xanh, quỹ bảo tồn, quỹ đầu tư xanh, tài chính hỗn hợp, mô hình PPP, cơ chế chi trả dịch vụ hệ sinh thái và các nguồn tài trợ quốc tế. Cùng với đó, cần thiết lập cơ chế tái đầu tư một phần nguồn thu từ du lịch cho bảo tồn, phục hồi hệ sinh thái, quan trắc môi trường và phát triển hạ tầng xanh.

Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý di sản. Theo đó, có thể tăng cường quản lý tài chính và quản lý di sản thông qua xây dựng cơ sở dữ liệu tích hợp, kết nối với hệ thống vé điện tử, hệ thống thông tin địa lý (GIS), Internet vạn vật (IoT), trí tuệ nhân tạo (AI) và quan trắc thông minh nhằm nâng cao tính minh bạch, giám sát hiệu quả đầu tư và hỗ trợ đánh giá rủi ro đối với các dự án xanh. Việc hình thành nền tảng dữ liệu số đồng bộ cũng sẽ tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính và cơ quan quản lý đánh giá chính xác hiệu quả sử dụng vốn, từ đó nâng cao khả năng huy động và phân bổ nguồn lực tài chính xanh cho công tác bảo tồn di sản.

Thứ năm, xây dựng hệ sinh thái tài chính xanh cho bảo tồn di sản. Theo đó, nhóm tác giả đề xuất mô hình phát triển tài chính xanh cho bảo tồn, phát triển du lịch bền vững Danh thắng Tràng An (Hình 2). Cụ thể, đối với Di sản Tràng An, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo và đầu tư vốn mồi; hệ thống ngân hàng cung cấp tín dụng xanh; doanh nghiệp, các tổ chức quốc tế và cộng đồng tham gia đầu tư, đồng thời Ban Quản lý Di sản điều phối và giám sát việc phân bổ nguồn lực. Việc hình thành Quỹ bảo tồn và phát triển bền vững Quần thể Danh thắng Tràng An sẽ góp phần huy động nguồn vốn ổn định cho bảo tồn hệ sinh thái, chuyển đổi số và nâng cao sinh kế cộng đồng. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với xu thế tài chính cho bảo tồn, góp phần hài hòa giữa bảo tồn giá trị nổi bật toàn cầu của di sản và phát triển du lịch bền vững.

Hình 2. Mô hình tài chính xanh cho bảo tồn, phát triển du lịch bền vững Danh thắng Tràng An

Nguồn ảnh: Đề xuất của nhóm tác giả

Ghi chú; GCF: Quỹ Khí hậu Xanh; ADB: Ngân hàng Phát triển châu Á; WB: Ngân hàng Thế giới.

Nguồn ảnh: Đề xuất của nhóm tác giả

5. Kết luận

Trong bối cảnh phát triển du lịch gắn với bảo tồn di sản và thực hiện mục tiêu tăng trưởng xanh, việc đa dạng hóa các nguồn lực tài chính xanh nhằm bảo đảm hài hòa giữa bảo tồn các giá trị nổi bật toàn cầu và phát triển kinh tế - xã hội bền vững. Kết quả phân tích cho thấy, đánh giá sức chịu tải môi trường không chỉ là công cụ quản lý hoạt động du lịch mà còn là căn cứ khoa học để xác định nhu cầu đầu tư, lựa chọn các lĩnh vực ưu tiên và định hướng phân bổ nguồn lực tài chính. Đồng thời, bài viết cũng cho thấy, mặc dù Danh thắng Tràng An đã huy động được nguồn vốn từ ngân sách nhà nước, doanh thu du lịch và xã hội hóa, song việc phát triển các công cụ tài chính xanh và tín dụng xanh vẫn còn nhiều hạn chế. Các cơ chế như tín dụng xanh, quỹ bảo tồn và các hình thức tài chính bảo tồn chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng của khu di sản.

Trên cơ sở những khoảng trống về nguồn lực tài chính và yêu cầu bảo đảm tính bền vững của công tác bảo tồn, bài viết đề xuất xây dựng một hệ sinh thái tài chính xanh theo hướng huy động đa dạng các nguồn lực, kết hợp hiệu quả giữa đầu tư công, tín dụng xanh, tài chính bảo tồn và nguồn lực xã hội hóa nhằm hình thành cơ chế tài chính dài hạn cho khu di sản. Theo đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo chính sách và đầu tư vốn mồi; hệ thống ngân hàng giữ vai trò dẫn dắt dòng vốn thông qua các sản phẩm tín dụng xanh; còn doanh nghiệp, cộng đồng và các tổ chức quốc tế tham gia bổ sung nguồn lực cho bảo tồn và phát triển. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần hoàn thiện cơ chế tài chính xanh đối với Tràng An mà còn có thể tham khảo trong xây dựng chính sách huy động nguồn lực tài chính cho các di sản thế giới và các điểm đến du lịch bền vững khác ở Việt Nam.

Bài viết này là sản phẩm của nhiệm vụ "Đánh giá sức chịu tải môi trường tại Khu du lịch Tam Cốc - Bích Động, tỉnh Ninh Bình", Viện Địa lý nhân văn và Phát triển bền vững chủ trì thực hiện.

Tài liệu tham khảo

1. Ban Quản lý Quần thể danh thắng Tràng An (2025), Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của Ban Quản lý Quần thể danh thắng Tràng An. Truy cập từ Ban Quản lý Quần thể danh thắng Tràng An

2. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2026), Phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ và phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, tỉnh Ninh Bình.

3. C. Michael Hall, Tim Baird, Michael James & Yael Ram (2016), Climate change and cultural heritage: conservation and heritage tourism in the Anthropocene, Journal of Heritage Tourism 11(1).

4. Jiayu Wan, Jiayi Tao, & Meiling Wang (2026), Green credit and carbon emission reductions: Evidence from supply chain networks. International Review of Economics and Finance, 108, 105346.

5. Quan’an Fu, Shanshan Ding, Xiaonan Wu, & Jiaqi Lu (2026), Research on the impact of green finance and enterprise green transformation-evidence from China. International Review of Economics and Finance, 110, 105543.

6. Shahin Khani, Maryam Emadzadeh, Najmeh Mahjouri, & Massoud Behboudian (2025), A novel framework for evaluating water resources and environmental carrying capacity under climate change: The Zarrinehrud Basin experience. Environmental and Sustainability Indicators Journal, 100810.

7. Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình (2025), Báo cáo tổng quan hiện trạng môi trường tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2020 - 2025.

8. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Ninh Bình (2021), Báo cáo tác động của biến đổi khí hậu và nước biển dâng thuộc nhiệm vụ xây dựng, cập nhật Kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu tỉnh Ninh Bình giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.

9. Thủ tướng Chính phủ (2026), Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày 21/4/2026 về phê duyệt Quy hoạch bảo quản, tu bổ và phục hồi Danh lam thắng cảnh quốc gia đặc biệt Tràng An - Tam Cốc - Bích Động, tỉnh Ninh Bình.

10. UNESCO (2020), Conserving our common heritage: The role of spatial finace in natural World Heritage protection, trang 15-17.

11. Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình (2021), Kế hoạch số 107/KH-UBND về thực hiện Kết luận số 07-KL/TU về bảo tồn, phát huy giá trị Di sản văn hóa và thiên nhiên thế giới Quần thể danh thắng Tràng An.

12. Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình (2025), Báo cáo điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Ninh Bình thời kỳ 2021 -2030, tầm nhìn đến năm 2050.

13. Xiaomin Wang, Xiaoyan Bu, Jiarui Wang, Lingna Du, Zhichang Hong, Ge Shi, & Baqiatullah (2024), Study on the coordination and factors affecting the coupling of resource and environmental carrying capacity and regional economy in ecologically fragile areas. Ecological Indicators Journal, 167, 112656.

14. Xiaoyi Jiang, & Hao Cao (2024), Implementing the debt-for-nature swaps for marine protected areas: Case studies from Seychelles and Belize. Humanities & Social Sciences Communications, 11(331).

15. Zhenzhen Zhang, Kangning Xiong & Denghong Huang (2023), Natural world heritage conservation and tourism: a review, Herit Sci 11, 55 (2023). https://doi.org/10.1186/s40494-023-00896-6

ThS. Nguyễn Thị Thu Hà, TS. Nguyễn Đình Đáp *, ThS. Nguyễn Thị Hồng Hà **
* Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, ** Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Tin bài khác

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong thúc đẩy kinh tế xanh và thực hiện chiến lược Net-Zero, qua đó, đề xuất bài học và giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam kết hợp chuyển đổi số với chuyển đổi xanh, hướng đến phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Hoàn thiện mô hình giám sát tài chính tại Việt Nam: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị

Hoàn thiện mô hình giám sát tài chính tại Việt Nam: Cơ sở lý luận, kinh nghiệm quốc tế và một số khuyến nghị

Bài viết này phân tích khuôn khổ giám sát tài chính của Việt Nam trên cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế, qua đó đề xuất một số khuyến nghị nhằm hoàn thiện mô hình giám sát theo hướng phối hợp liên ngành, dựa trên mức độ nguy cơ và nâng cao khả năng ứng phó với các biến động mang tính hệ thống.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Quy định về Ủy ban kiểm toán trong doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam: Góc nhìn pháp lý và thực tiễn

Quy định về Ủy ban kiểm toán trong doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam: Góc nhìn pháp lý và thực tiễn

Ủy ban kiểm toán đóng vai trò quan trọng trong quản trị công ty hiện đại, nhưng khuôn khổ pháp lý hiện hành vẫn còn một số hạn chế, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện để nâng cao hiệu quả giám sát và tăng cường tính minh bạch cho doanh nghiệp niêm yết.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử: Giải pháp minh bạch hóa thị trường trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử: Giải pháp minh bạch hóa thị trường trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia

Chuyển đổi số đang mở ra cơ hội tái cấu trúc thị trường bất động sản theo hướng minh bạch, hiện đại và hiệu quả hơn, trong đó mô hình sàn giao dịch bất động sản điện tử được kỳ vọng sẽ góp phần số hóa toàn bộ quy trình giao dịch, tăng cường kết nối dữ liệu và nâng cao năng lực quản lý thị trường.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối