Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Quốc tế
Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
aa

Quan hệ thương mại Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh thúc đẩy chuyển đổi xanh và phát triển bền vững

Vương quốc Anh và Việt Nam đã xây dựng một mối quan hệ đối tác mạnh mẽ và đang phát triển nhanh chóng, tạo nền tảng chắc chắn cho hợp tác tương lai trong lĩnh vực tài chính, thương mại và phát triển bền vững. Năm 2025, tổng kim ngạch thương mại song phương hàng hóa và dịch vụ đạt 10,5 tỉ GBP, tương đương 13,3 tỉ USD, đánh dấu mức tăng trưởng ấn tượng 26,5% so với cùng kỳ năm trước. Đà tăng này phản ánh sự gắn kết kinh tế ngày càng sâu sắc sau Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA), theo đó tổng thương mại đã tăng hơn gấp đôi từ 5 tỉ GBP (6,35 tỉ USD) năm 2020. Sự mở rộng này chủ yếu được thúc đẩy bởi nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam sang Vương quốc Anh đạt 8,2 tỉ GBP (tương đương 10,4 tỉ USD) năm 2025, tăng 30% so với cùng kỳ năm 2024, trong khi xuất khẩu của Vương quốc Anh sang Việt Nam đạt 1,17 tỉ GBP (1,49 tỉ USD) năm 2025, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm 2024. Đáng chú ý, xuất khẩu dịch vụ của Anh sang Việt Nam tăng gần 50%, cho thấy sự hợp tác ngày càng sâu rộng trong các lĩnh vực giá trị cao như tài chính, tư vấn và công nghệ (Vietnam - UK Trade and Investment Factsheet, 2026).

Quỹ đạo phát triển này khẳng định vai trò của Vương quốc Anh như một đối tác chiến lược toàn diện và đáng tin cậy của Việt Nam trong hành trình thực hiện các mục tiêu quốc gia. Việt Nam đặt mục tiêu đạt tăng trưởng kinh tế hai con số, trở thành quốc gia thu nhập cao, thịnh vượng vào năm 2045 và đạt phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050. Chiều ngày 20/5/2025, trong buổi tiếp Đại sứ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tại Việt Nam Iain Frew, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đã nhấn mạnh tiềm năng nâng kim ngạch thương mại Việt Nam - Vương quốc Anh lên 10 tỉ USD vào năm 2026 và 15 tỉ USD trong giai đoạn tiếp theo, đặc biệt thông qua mở rộng hợp tác trong các lĩnh vực then chốt như tài chính, đổi mới sáng tạo, giáo dục, năng lượng tái tạo và chuyển đổi xanh. Trong đó, tài chính bền vững và tài chính xanh dương (một nhánh chuyên biệt của tài chính xanh, tập trung huy động và phân bổ nguồn vốn để đầu tư vào các dự án bảo vệ đại dương, quản lý bền vững tài nguyên nước và phát triển kinh tế biển) nổi lên như một lĩnh vực chiến lược, nơi thế mạnh toàn cầu của Vương quốc Anh có thể hỗ trợ đáng kể cho quá trình chuyển đổi của Việt Nam.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tiếp Đại sứ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tại Việt Nam Iain Frew - Ảnh: VGP/Nhật Bắc
Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng tiếp Đại sứ Vương quốc Liên hiệp Anh và Bắc Ireland tại Việt Nam Iain Frew - Ảnh: VGP/Nhật Bắc

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong xây dựng hệ sinh thái tài chính bền vững

Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mang tính bước ngoặt. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới đã đề ra tầm nhìn dài hạn nhằm đưa Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm đô thị và tài chính toàn cầu vào năm 2075. Lộ trình được xác định rõ ràng: Đến năm 2030, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm đổi mới hiện đại của Đông Nam Á; đến năm 2045, là trung tâm hàng đầu châu Á về tài chính, khoa học và công nghệ; đến năm 2075, trở thành một thành phố thông minh, bền vững, có sức cạnh tranh toàn cầu. Để đạt được các mục tiêu này, không chỉ cần hạ tầng mà còn đòi hỏi sự chuyển dịch căn bản sang các dịch vụ tài chính giá trị cao, đặc biệt là các lĩnh vực mới nổi như tài chính xanh dương, gắn kết tăng trưởng kinh tế với bền vững môi trường.

Sự chuyển đổi này gắn chặt với nền kinh tế hàng hải của Việt Nam, trong đó Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò trung tâm. Mạng lưới cảng phía Nam, bao gồm Cát Lái và Cái Mép - Thị Vải và Thành phố Hồ Chí Minh tạo thành một hệ sinh thái logistics quan trọng trong khu vực Đông Nam Á. Năm 2024, các cảng này xử lý khoảng 9,1 triệu TEU (đơn vị đo lường quốc tế dùng để tính toán sức chứa hàng hóa của tàu container hoặc lưu lượng thông qua tại các cảng biển, 1 TEU tương đương 20 feet), qua đó xếp thứ 22 trong số các cụm cảng container lớn nhất thế giới. Đồng thời, hệ thống cảng biển phía Nam đóng vai trò cửa ngõ quan trọng đối với các dòng chảy thương mại quốc tế, hỗ trợ khối lượng giao dịch hàng hóa có giá trị vượt 100 tỉ USD, tương đương gần một nửa tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu của Việt Nam. (VnEcomomy, 2025)

Tuy nhiên, Việt Nam hiện mới chỉ tham gia ở một phần tương đối nhỏ trong chuỗi giá trị hàng hải toàn cầu. Mặc dù sở hữu hệ thống cảng biển có quy mô lớn và lưu lượng hàng hóa đáng kể, phần lớn các dịch vụ tài chính hàng hải có giá trị gia tăng cao như tài trợ thương mại, bảo hiểm hàng hải, quản lý rủi ro và các dịch vụ tài chính liên quan vẫn được thực hiện tại các IFC như Singapore, Hồng Kông và London. Do đó, tỉ lệ giá trị mà Việt Nam giữ lại trong toàn bộ chuỗi giá trị hàng hải hiện chỉ ở mức khoảng 4 - 5%, phản ánh khoảng cách đáng kể giữa vai trò trung chuyển hàng hóa và khả năng tham gia vào các khâu dịch vụ có giá trị gia tăng cao.

Khoảng cách này cũng thể hiện một thách thức chiến lược: Việt Nam là trung tâm hàng hóa lớn nhưng chưa phải là IFC lớn. Việc thu hẹp khoảng cách này là mục tiêu cốt lõi của IFC tại Thành phố Hồ Chí Minh, đặc biệt thông qua phát triển Trung tâm Tài chính Hàng hải Quốc tế (IMFC). Tầm nhìn là chuyển đổi từ “kinh tế cảng” sang hệ sinh thái “cảng - tài chính”, nơi dữ liệu hàng hải - từ dòng hàng hóa, hợp đồng vận tải đến vận đơn điện tử và dòng thanh toán - được chuẩn hóa và chuyển hóa thành tài sản tài chính. Các tài sản này có thể được cấu trúc thành các công cụ đầu tư như trái phiếu, sản phẩm chứng khoán hóa và quỹ, qua đó huy động nguồn vốn quốc tế dài hạn. Quan trọng hơn, cách tiếp cận này cũng tạo ra kênh cho tài chính xanh và tài chính xanh dương, giúp các dự án cảng và hàng hải bền vững tiếp cận nguồn vốn gắn với tiêu chí ESG (môi trường - xã hội - quản trị).

Mạng lưới cảng phía Nam, bao gồm Cát Lái và Cái Mép - Thị Vải và Thành phố Hồ Chí Minh tạo thành một hệ sinh thái logistics quan trọng trong khu vực
Mạng lưới cảng phía Nam, bao gồm Cát Lái và Cái Mép - Thị Vải và Thành phố Hồ Chí Minh tạo thành một hệ sinh thái logistics quan trọng trong khu vực (Nguồn ảnh: Internet)

Trong quá trình xây dựng hệ sinh thái này, Việt Nam có thể học hỏi sâu rộng từ kinh nghiệm của Vương quốc Anh. London được công nhận là trung tâm hàng đầu thế giới về dịch vụ tài chính hàng hải và tài chính xanh dương, dựa trên nền tảng pháp lý vững mạnh, thị trường vốn sâu rộng và hạ tầng tài chính tiên tiến. Vai trò của hệ thống luật thông luật Anh (English common law) đặc biệt quan trọng, tạo nền tảng tin cậy cho hợp đồng vận tải toàn cầu, bảo hiểm và giải quyết tranh chấp. Khoảng 40% hợp đồng thương mại quốc tế chịu sự điều chỉnh của luật này, trong khi Tòa án Thương mại Anh nổi tiếng về tính hiệu quả và công bằng. Chính sự chắc chắn pháp lý này giúp Vương quốc Anh dẫn đầu trong các dịch vụ hàng hải giá trị cao như tài chính tàu biển, bảo hiểm và tái bảo hiểm - những lĩnh vực Việt Nam vẫn phụ thuộc vào thị trường nước ngoài.

Bên cạnh đó, Vương quốc Anh đã phát triển một hệ sinh thái tài chính tích hợp cao, kết nối ngân hàng, công ty bảo hiểm, công ty công nghệ tài chính (Fintech) và các nhà cung cấp dữ liệu. Nền tảng như Lloyd’s List Intelligence cung cấp dữ liệu hàng hải thời gian thực, giúp đánh giá rủi ro chính xác và ra quyết định tài chính hiệu quả. Mô hình dựa trên dữ liệu này ngày càng phù hợp với Việt Nam, nơi đang phát triển hạ tầng số thông qua các sáng kiến như Nền tảng cơ sở dữ liệu tài trợ thương mại (Trade Finance Registry - TFR). Thông qua Chương trình Growth Gateway, Chính phủ Anh đã phối hợp chặt chẽ với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA) và Công ty tư vấn Boston Consulting Group trong dự án này, nhằm nâng cao tính minh bạch và giảm gian lận trong tài trợ thương mại.

Đặc biệt, Vương quốc Anh cũng đi đầu trong lĩnh vực tài chính xanh dương (hay tài chính biển) - phân khúc đang phát triển nhanh của tài chính bền vững, tập trung vào bảo vệ và sử dụng bền vững tài nguyên biển. Tài chính xanh dương bao gồm nhiều công cụ như trái phiếu xanh dương, khoản vay liên kết bền vững, tín chỉ carbon biển và các giải pháp bảo hiểm hàng hải. Các khuôn khổ toàn cầu như Nguyên tắc Tài chính Kinh tế Xanh dương bền vững (Sustainable Blue Economy Finance Principles) và các nguyên tắc đại dương của Liên hợp quốc (UN Sustainable Ocean Principles) đảm bảo các khoản đầu tư này minh bạch, dựa trên cơ sở khoa học và phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững. Dù nhu cầu toàn cầu đang tăng, mức đầu tư vẫn chưa đủ, với khoảng 175 tỉ USD cần thiết vào năm 2030 để đạt các mục tiêu về đại dương - một cơ hội lớn cho các IFC mới nổi.

Trong bối cảnh đó, Thành phố Hồ Chí Minh đã bắt đầu có những bước đi cụ thể để nắm bắt cơ hội phát triển tài chính xanh dương gắn với tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải và huy động nguồn vốn cho kinh tế biển bền vững. Cơ quan quản lý IFC đã phối hợp chặt chẽ với các tổ chức tài chính trong nước như Ngân hàng Thương mại cổ phần (NHTMCP) Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), NHTMCP Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh (HDBank)… nhằm tiên phong phát hành trái phiếu xanh dương đầu tiên của Việt Nam. Sáng kiến này đánh dấu bước tiến quan trọng trong huy động vốn cho các dự án hàng hải và đại dương bền vững. Bên cạnh đó, HDBank và Sở Giao dịch Chứng khoán London đã thiết lập khuôn khổ hợp tác chiến lược dài hạn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường vốn quốc tế, đồng thời mở đường cho kế hoạch phát hành tối đa 300 triệu USD trái phiếu xanh quốc tế, góp phần thúc đẩy tài chính bền vững và đa dạng hóa nguồn vốn dài hạn.

HDBank và Sở Giao dịch Chứng khoán London đã ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược, thiết lập khuôn khổ dài hạn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường vốn quốc tế. Ảnh: HDBank.
HDBank và Sở Giao dịch Chứng khoán London đã ký kết thỏa thuận hợp tác chiến lược, thiết lập khuôn khổ dài hạn nhằm hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận thị trường vốn quốc tế
(Nguồn ảnh: HDBank)

Song song đó, việc phát triển Hệ thống Cộng đồng Hàng hải (Maritime Community System - MCS) và nền tảng dữ liệu hàng hải quốc gia sẽ giúp tích hợp đa nguồn dữ liệu, hỗ trợ các ngân hàng, công ty bảo hiểm và nhà đầu tư đánh giá rủi ro tốt hơn và thiết kế sản phẩm tài chính hiệu quả hơn. Về lâu dài, việc thiết lập sàn giao dịch hàng hải và các nền tảng số, có thể ứng dụng công nghệ blockchain, sẽ nâng cao minh bạch, hiệu quả và thu hút nhà đầu tư toàn cầu.

Trong quá trình này, Vương quốc Anh là một hình mẫu đáng chú ý. Không chỉ là IFC toàn cầu, Vương quốc Anh còn là một trong những trung tâm Fintech hàng đầu thế giới, kết hợp chuyên môn tài chính sâu rộng với năng lực công nghệ tiên tiến và hệ thống quản lý tiên phong. Ngành Fintech của Vương quốc Anh là điểm đến đầu tư hàng đầu tại châu Âu, thu hút khoảng 3 tỉ GBP vốn đầu tư mạo hiểm năm 2020 và đứng thứ hai toàn cầu sau Hoa Kỳ.

London là trung tâm của hệ sinh thái này, với hơn 90.000 doanh nghiệp tài chính và dịch vụ chuyên môn, cùng mạng lưới các cụm khu vực đang phát triển nhanh như Manchester, Edinburgh, Leeds, Bristol và Belfast. Ngành Fintech của Vương quốc Anh chiếm khoảng 11% thị trường toàn cầu, với khoảng 2.500 công ty, trong đó có nhiều doanh nghiệp hàng đầu thế giới. Theo danh sách The Fintech 50 do tạp chí Forbes công bố, 6/10 công ty Fintech hàng đầu đặt trụ sở tại London. Sự tập trung chuyên môn này giúp Vương quốc Anh dẫn đầu trong các lĩnh vực như tài chính số, phân tích dữ liệu và đổi mới tài chính, những yếu tố rất quan trọng đối với phát triển hệ sinh thái tài chính xanh dương.

Một trong những nền tảng quan trọng tạo nên vị thế của Vương quốc Anh là hệ sinh thái đào tạo và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao mang tầm quốc tế. Các trường đại học hàng đầu như Đại học Cambridge, Đại học Oxford, Trường Kinh tế và Khoa học Chính trị London (LSE), University College London (UCL) và King's College London cùng nhiều trường đại học và viện nghiên cứu danh tiếng khác đã góp phần cung cấp lực lượng lao động trình độ cao cho các lĩnh vực tài chính, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Bên cạnh các chương trình đào tạo truyền thống, nhiều cơ sở giáo dục còn phát triển các chuyên ngành mới như tài chính bền vững, tài chính xanh và tài chính xanh dương, đáp ứng yêu cầu của quá trình chuyển đổi kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh kinh tế tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ là yếu tố đầu vào của tăng trưởng mà còn là động lực cốt lõi thúc đẩy đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đồng thời, khả năng thu hút nhân tài quốc tế thông qua các chính sách thị thực chuyên biệt như chương trình Global Talent Visa tiếp tục củng cố vị thế của Vương quốc Anh như một IFC và công nghệ hàng đầu thế giới. Nhờ đó, lực lượng lao động trong lĩnh vực Fintech hiện đã vượt 76.000 người và được dự báo sẽ tiếp tục tăng trưởng mạnh trong những năm tới.

Bên cạnh lợi thế về nguồn nhân lực, môi trường thể chế và khung khổ pháp lý hiện đại cũng là một trong những yếu tố quan trọng góp phần củng cố vị thế của Vương quốc Anh trong lĩnh vực tài chính và Fintech. Các cơ quan quản lý như Cơ quan Quản lý Tài chính (FCA) và Cơ quan Quản lý Thận trọng (PRA) đã xây dựng một khuôn khổ quản lý theo hướng cân bằng giữa yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống tài chính và khuyến khích đổi mới sáng tạo. Cách tiếp cận này tạo điều kiện để các doanh nghiệp Fintech thử nghiệm mô hình kinh doanh mới, mở rộng hoạt động và phát triển sản phẩm trong một môi trường minh bạch và ổn định.

Trên phạm vi quốc tế, Vương quốc Anh còn chủ động thúc đẩy hợp tác thông qua các thỏa thuận “Fintech Bridge” với nhiều IFC lớn như Singapore, Hồng Kông và Australia, qua đó tăng cường kết nối thị trường, hỗ trợ đổi mới sáng tạo xuyên biên giới và thúc đẩy dòng chảy vốn, công nghệ cũng như tri thức. Sự cộng hưởng giữa thể chế tiên tiến, nguồn nhân lực chất lượng cao và mạng lưới hợp tác quốc tế rộng khắp đã giúp Vương quốc Anh duy trì vai trò dẫn đầu trong đổi mới tài chính, đồng thời tạo nền tảng thuận lợi cho sự phát triển của các lĩnh vực mới nổi như tài chính xanh, tài chính xanh dương và tài chính bền vững.

Tình hình phát triển kinh tế của Vương quốc Anh cho thấy, tài chính xanh dương không đơn thuần là một cấu trúc thị trường, mà là sự kết tinh giữa thể chế pháp lý vững chắc, tri thức tài chính sâu rộng và năng lực chuyển hóa dữ liệu đại dương thành giá trị kinh tế, qua đó định hình cách thức con người kết nối vốn với biển trong kỷ nguyên phát triển bền vững. Trên nền tảng đó, các dòng vốn xanh không chỉ được phân bổ hiệu quả hơn, mà còn trở thành động lực tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải theo hướng minh bạch, bền vững và gắn kết chặt chẽ với các chuẩn mực phát triển toàn cầu.

Đối với Việt Nam, những thế mạnh này mang lại nhiều bài học giá trị. Chuyển đổi từ trung tâm logistics sang IFC toàn cầu không chỉ dựa vào hạ tầng vật chất mà còn cần xây dựng thể chế vững mạnh, thúc đẩy đổi mới, đảm bảo minh bạch thông qua dữ liệu chất lượng cao và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế. Bằng cách tận dụng lợi thế hàng hải và học hỏi cách tiếp cận tích hợp giữa tài chính và công nghệ của Vương quốc Anh, Việt Nam có thể nắm bắt phần giá trị lớn hơn trong chuỗi hàng hải và giảm phụ thuộc vào dịch vụ tài chính nước ngoài.

Khi Thành phố Hồ Chí Minh tiến tới mục tiêu trở thành thành phố toàn cầu vào năm 2075, tài chính xanh dương mở ra một con đường chiến lược độc đáo, kết nối tham vọng kinh tế với trách nhiệm môi trường. Với các đối tác, chính sách và nền tảng phù hợp, Việt Nam không chỉ theo kịp các IFC hiện hữu mà còn có thể vươn lên trở thành quốc gia dẫn dắt trong việc định hình tương lai của nền kinh tế xanh dương toàn cầu.

Tài liệu tham khảo

1. Fintech article business.gov.uk international, https://www.business.gov.uk/invest-in-uk/investment/sectors/fintech/

2. Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 19/05/2026 của Bộ Chính trị về xây dựng và phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trong kỷ nguyên mới.

3. The Global School of Sustainability at LSE (2024), What is blue finance? - Grantham Research Institute on climate change and the environment

4. VNA (2026), Vietnam attaches great importance to ties with UK: PM, Vietnam attaches great importance to ties with UK: PM, https://en.vietnamplus.vn/vietnam-attaches-great-importance-to-ties-with-uk-pm-post343136.vnp

William Lawrenson *, TS. Lý Hoàng Vũ **
* Phó Tổng Lãnh sự Anh, ** Quản lý Thương mại về Dịch vụ Tài chính và Chuyên nghiệp, Tổng Lãnh sự quán Anh

Tin bài khác

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Xem thêm
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Hoàn thiện yêu cầu về lập và trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo IAS 7

Bài viết phân tích những định hướng sửa đổi quan trọng của Chuẩn mực Kế toán Quốc tế số 7 (IAS 7) về báo cáo lưu chuyển tiền tệ, đồng thời đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, nhà đầu tư và cơ quan quản lý trong bối cảnh tăng cường tính minh bạch của báo cáo tài chính.
Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Đạo đức trong ngành tài chính, ngân hàng hướng tới phát triển bền vững: Tổng quan lý thuyết và bài học thực tiễn

Trong bối cảnh ngành tài chính - ngân hàng chuyển đổi mạnh mẽ dưới tác động của toàn cầu hóa và công nghệ số, đạo đức và lòng tin ngày càng trở thành nền tảng quan trọng đối với quản trị, kiểm soát rủi ro và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.
Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Dòng vốn ngân hàng tiếp tục hướng tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, lĩnh vực ưu tiên, động lực tăng trưởng

Ngành Ngân hàng đang đẩy mạnh các chương trình tín dụng ưu đãi, tập trung hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, các lĩnh vực ưu tiên, những động lực tăng trưởng, góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh, tạo động lực cho nền kinh tế.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối