Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Quốc tế
Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
aa

Tóm tắt: Bài viết tổng kết thực tiễn chuyển dịch cơ cấu ngành trong công nghiệp hóa của một số quốc gia và vùng lãnh thổ làm căn cứ tham chiếu với Việt Nam. Trong giai đoạn 2000 - 2025, xu hướng chung là tăng nhanh tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp đồng thời giảm đáng kể tỉ trọng tương ứng của nông nghiệp. Các quốc gia và vùng lãnh thổ hoàn thành công nghiệp hóa đều có tỉ trọng nông nghiệp dưới 1%, tiêu chí này khẳng định sự phát triển công nghiệp và dịch vụ hiệu quả. Đến năm 2025, tỉ trọng nông nghiệp Việt Nam là 11,64% từ con số 46,3% năm 1988. Thực tiễn này có ý nghĩa tham chiếu quan trọng đối với Việt Nam trong thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, tạo chỗ dựa xác lập vững chắc mô hình tăng trưởng mới từ năm 2026 để vươn mình tới nước công nghiệp thu nhập cao năm 2045.

Từ khóa: Công nghiệp, cơ cấu, công nghiệp hóa, nông nghiệp, dịch vụ.

STRUCTURAL TRANSFORMATION IN INDUSTRIALIZATION:
INTERNATIONAL EXPERIENCES AND IMPLICATIONS FOR VIETNAM

Abstract: This article reviews the experiences of several countries and territories regarding sectoral structural transformation during the process of industrialization, providing a reference framework for Vietnam. During the period 2000 - 2025, the common trend has been a rapid increase in the shares of the service and industrial sectors, accompanied by a significant decline in the share of agriculture. Countries and territories that have successfully completed industrialization generally record an agricultural share of less than 1 percent, a criterion that reflects the effective development of industry and services. By 2025, the share of agriculture in Vietnam had fallen to 11.64%, compared with 46.3% in 1988. These experiences offer important lessons for Vietnam in accelerating structural transformation and establishing a solid foundation for a new growth model from 2026 onward, thereby supporting its aspiration to become a high-income industrialized nation by 2045.

Keywords: Industry, economic structure, industrialization, agriculture, services.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Giới thiệu

Công nghiệp hóa là phương thức tất yếu chuyển từ nước nông nghiệp sang nước công nghiệp hiện đại. Đó là việc chuyển dịch cơ cấu theo hướng đầu tư phát triển công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp công nghệ cao, có khả năng tạo giá trị gia tăng cao và mở rộng quy mô lớn cùng phát triển dịch vụ với tốc độ cao hơn đáng kể so với nông nghiệp. Quá trình này được coi là vấn đề mang tính quy luật và được nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ thực hiện thành công.

Các quốc gia và vùng lãnh thổ đã và đang thực hiện thành công công nghiệp hóa như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Đài Loan, Hồng Kông và Trung Quốc. Mặc dù tiến trình thực hiện của các quốc gia khác nhau song vẫn đạt được kết quả tương tự có thể gọi đó là sự hội tụ tiêu chuẩn công nghiệp hóa toàn cầu. Các tiêu chuẩn này là thực tiễn tốt, được sử dụng để xác định lộ trình công nghiệp hóa quốc gia đi sau.

Việt Nam đẩy mạnh công nghiệp hóa từ năm 1976 và bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa từ năm 1986. Điểm quan trọng là Việt Nam đã trở thành quốc gia có thu nhập trung bình thấp với GDP bình quân đầu người đạt 1.068 USD năm 2010. Đến năm 2025, thu nhập bình quân đạt trên 5.000 USD, gấp gần 5 lần so với 15 năm trước. Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao năm 2030 và nước công nghiệp thu nhập cao năm 2045 (Cục Thống kê, 2025).

Việc phân tích, đánh giá thực tiễn công nghiệp hóa của các quốc gia và vùng lãnh thổ để tham chiếu với Việt Nam làm cơ sở xây dựng lộ trình công nghiệp hóa phù hợp, huy động nguồn lực hiệu quả, hướng tới nước công nghiệp xã hội chủ nghĩa giàu mạnh, hùng cường, văn minh, thịnh vượng.

2. Tổng quan nghiên cứu

Cơ cấu ngành kinh tế là hệ thống các ngành trong nền kinh tế gồm có nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ và tỉ trọng của từng ngành trong tổng thể kinh thế thống nhất. Tại Việt Nam, cơ cấu kinh tế được hiểu là tập hợp các bộ phận hợp thành tổng thể nền kinh tế và mối tương quan tỉ lệ giữa các bộ phận hợp thành so với tổng thể. Tốc độ tăng trưởng các ngành khác nhau làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế và hoàn toàn có thể đo lường (Moore H. J., 1978). Điều này ngược với quan niệm tăng trưởng cân bằng (Nurkse R., 1961), theo đó các ngành tăng trưởng đồng tốc không tạo được chuyển dịch cơ bản cơ cấu kinh tế. Để nền kinh tế tăng trưởng, cần có ngành tăng trưởng rất cao để dẫn dắt các ngành khác (Rostow, W.W., 1960). Cơ cấu chuyển dịch kinh tế liên tục cũng mở ra tương lai công nghiệp hóa gắn với đổi mới công nghiệp, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, qua đó thay đổi bản chất công việc, tái cơ cấu chuỗi cung ứng và chuyển dịch hệ thống cung ứng thực phẩm (Tổ chức Phát triển Công nghiệp Liên hợp quốc - UNIDO, 2026).

Các nghiên cứu về cơ cấu kinh tế Việt Nam hiện nay chủ yếu tập trung phản ánh xu hướng gia tăng tỉ trọng khu vực công nghiệp và dịch vụ, đồng thời giảm dần tỉ trọng khu vực nông nghiệp. Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu chưa làm rõ tốc độ và động thái chuyển dịch cơ cấu kinh tế phù hợp với từng giai đoạn của quá trình công nghiệp hóa, mặc dù kinh nghiệm và dữ liệu từ các quốc gia công nghiệp hóa thành công là nguồn tham chiếu quan trọng. Năm 2025, Việt Nam xác định bước vào kỷ nguyên phát triển mới với mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và quốc gia công nghiệp thu nhập cao vào năm 2045. Những mục tiêu này không chỉ là thước đo đánh giá kết quả công nghiệp hóa mà còn là cơ sở để xây dựng lộ trình phát triển đồng bộ và nhất quán. Đồng thời, Việt Nam đang triển khai mô hình công nghiệp hóa kiểu mới, chú trọng giảm phụ thuộc vào khai thác tài nguyên và lao động giá rẻ, tăng cường đầu tư cho khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế (Nguyễn Thị Hương, 2025).

3. Cơ sở lý thuyết, phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

3.1. Cơ sở lý thuyết

Lý thuyết phát triển dựa vào luận điểm tăng trưởng cân bằng nhằm duy trì ổn định nhưng dễ dẫn đến trì trệ và tụt hậu (Stiglitz, 2015). Thực tế cho thấy, các quốc gia rơi vào bẫy thu nhập trung bình đều vận hành theo mô hình này. Theo đó, các quốc gia nỗ lực đặc biệt để khắc phục và chuyển đổi mô hình phát triển theo hướng cần có những khâu đột phá nhất định. Do đó, để phát triển đột phá, cần có chính sách phù hợp, đặc biệt là đầu tư phát triển các ngành có mức độ lan tỏa cao nhất cũng như sáng tạo giá trị lớn nhất (Lin, J.Y., 2010).

Theo lý thuyết các giai đoạn tăng trưởng, một nền kinh tế sẽ phát triển qua 5 giai đoạn: Trước cất cánh, cất cánh, hướng tới sự chín muồi, kỷ nguyên tiêu thụ hàng loạt cao và vượt ra ngoài sự tiêu thụ hàng loạt (Rostow, 1960). Lý thuyết này chỉ ra tính quy luật quá trình cất cánh và được thực tiễn tăng trưởng của các quốc gia khẳng định có độ tin cậy cao. Giai đoạn tiêu thụ hàng loạt là kết quả của công nghiệp hóa thành công và giai đoạn tiếp theo là mô hình tiêu thụ hàng cao cấp nhất thực chất tiêu dùng hàng xa xỉ nhất. Đây là trình độ tiêu dùng cao nhất xuất hiện phổ biến ở các trung tâm tài chính thế giới gắn với giới tài phiệt siêu giàu.

Theo lý thuyết chuỗi giá trị của Porter (2008), khâu tạo ra giá trị đáng kể là nghiên cứu và phát triển, logistics và marketing với tỉ trọng khoảng 40 - 50% tổng giá trị được toàn chuỗi tạo ra (Kenneth và cộng sự, 2011). Lý thuyết tập trung phân tích cơ cấu chuỗi giá trị nhằm tối đa hóa giá trị toàn chuỗi và tối ưu hóa lợi ích từng khâu trong chuỗi, chưa tính đến đầy đủ khả năng sinh lợi khác nhau giữa các ngành kinh tế. Chẳng hạn, khả năng sinh lợi ngành chế tạo cơ khí khác đáng kể ngành tài chính số, mặc dù bình quân hóa lợi nhuận thường xuyên diễn ra khi vốn di chuyển tự do.

Lý thuyết khoảng cách công nghệ (Postner, 1961) chỉ ra rằng, tiến bộ công nghệ diễn ra theo làn sóng từ nước phát minh đến nước đi sau. Sau khi nước đi sau giải mã được công nghệ, sản xuất sản phẩm quay trở lại tiêu thụ tại nước phát minh. Điều này hình thành làn sóng đầu tư gắn với làn sóng công nghệ khi công nghệ được thương mại hóa triệt để, sức lan tỏa cao nhất và phát huy lợi thế độc quyền tự nhiên. Công nghệ biến đổi nhanh chóng do chi phí nghiên cứu và phát triển tăng, nhân lực trình độ cao đặc biệt là các khoa học, chuyên gia và nhà đổi mới sáng tạo đầu ngành với sự hỗ trợ của dữ liệu lớn (Big Data) và trí tuệ nhân tạo (AI), pháp luật bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ chặt chẽ, càng tạo động lực thúc đẩy quy mô và phạm vi lan tỏa của dòng tài chính gắn với công nghệ. Lý thuyết này chỉ ra quan hệ ngặt nghèo là công nghệ phải được phát triển ở trình độ cao nhất và được thương mại hóa triệt để - vừa tạo ra nhu cầu mới vừa phát triển nguồn cung mới, tạo ra những cân đối mới, mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng tăng trưởng.

Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trong tiến trình công nghiệp hóa, khu vực sản xuất tư liệu sản xuất phục vụ trực tiếp cho việc tạo ra tư liệu sản xuất cần được ưu tiên phát triển ở trình độ cao nhất. Tiếp đó là ngành chế tạo máy móc, thiết bị hiện đại phục vụ sản xuất hàng tiêu dùng, cuối cùng là khu vực sản xuất hàng tiêu dùng với các dây chuyền tự động hóa cao, đáp ứng đồng thời nhu cầu sản xuất hàng loạt và sản xuất theo đơn đặt hàng, qua đó khai thác hiệu quả lợi thế quy mô. Trong quá trình này, giá trị mới được tạo ra trước hết từ sự đổi mới công cụ lao động dưới tác động của tiến bộ khoa học - công nghệ, thể hiện qua sự thay đổi về cấu tạo kỹ thuật và cấu tạo hữu cơ của tư bản (tỉ lệ vốn/lao động - K/L). Quá trình đó gắn liền với đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, được hiện thực hóa thông qua cơ chế thị trường. Đây vừa là điểm khởi đầu, vừa là điểm hoàn tất của chuỗi giá trị khép kín, vận hành liên tục trên cơ sở phát huy đầy đủ các chức năng của thị trường như thực hiện giá trị, phân bổ nguồn lực và thúc đẩy đổi mới sáng tạo (Lênin, V.I., 1893).

3.2. Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu bao gồm dự báo, phân tích, tổng hợp, so sánh. Để dự báo tốc độ tăng trưởng các ngành, trong đó giả định xu hướng phổ biến là tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ và giảm dần tương ứng nông nghiệp. Nói cách khác, mức giảm tỉ trọng nông nghiệp tương ứng với tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ. Mức giảm dần tỉ trọng nông nghiệp phản ánh đồng thời cả việc tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ mặc dù tất cả các lĩnh vực này đều tăng với tốc độ tối đa nhưng không đều. Thực tế các nền kinh tế công nghiệp hóa thành công đều có tỉ trọng nông nghiệp trong cơ cấu dưới 1% như Mỹ, Nhật Bản, Đức, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông và Singapore.

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Tương ứng với tỉ trọng giảm ngành nông nghiệp là tỉ trọng tăng bình quân tương ứng của công nghiệp và dịch vụ. Do đó, chỉ cần tính tỉ trọng giảm của ngành nông nghiệp sẽ xác định được tốc độ chuyển dịch cơ cấu cả nền kinh tế.

3.3. Dữ liệu nghiên cứu

Dữ liệu thu thập từ Cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới (WIPO), Cơ quan Thống kê các nước, một số nghiên cứu chuyên sâu và quan sát của tác giả. Thực tế cho thấy, dữ liệu được công bố này không cùng một khoảng thời gian giữa các nước và vùng lãnh thổ đặc biệt thiếu dữ liệu trước những năm 1990. Do đó, khoảng thời gian xem xét từ 25 - 66 năm.

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Xu hướng tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ

Cụ thể, sự suy giảm tương đối của tỉ trọng khu vực nông nghiệp trong cơ cấu kinh tế là xu hướng tất yếu diễn ra trong quá trình công nghiệp hóa. Tuy nhiên, điều này không đồng nghĩa với việc nông nghiệp tăng trưởng chậm lại hay bị thu hẹp để nhường chỗ cho công nghiệp và dịch vụ mở rộng quy mô. Về bản chất, mục tiêu của công nghiệp hóa là duy trì tốc độ phát triển cao đối với tất cả các ngành trên cơ sở tiếp cận bình đẳng với công nghệ tiên tiến, nguồn vốn đầu tư và lực lượng lao động chất lượng cao. Theo đó, các ngành kinh tế đều hướng tới mức sản lượng tiềm năng, tối đa hóa khả năng ứng dụng tiến bộ khoa học - công nghệ và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhằm tận dụng cơ hội phát triển cũng như thích ứng kịp thời với quy luật lợi suất cận biên giảm dần (Mankiw, N.G., 1997).

Trong bối cảnh đó, công nghiệp và dịch vụ thường đạt tốc độ tăng trưởng vượt trội nhờ đặc trưng quy mô sản xuất và tiêu dùng lớn, tổng cầu cao, biến động nhanh và mức độ co giãn của cầu theo giá tương đối lớn. Những yếu tố này tạo điều kiện thúc đẩy đổi mới công nghệ liên tục, rút ngắn vòng đời sản phẩm, dịch vụ, đồng thời mở rộng thị trường với tốc độ nhanh hơn. Ngược lại, khu vực nông nghiệp chịu ảnh hưởng đáng kể của các yếu tố tự nhiên như thời tiết, biến đổi khí hậu và các biến động thị trường; bên cạnh đó còn phải thực hiện chức năng bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Do nhu cầu đối với phần lớn sản phẩm nông nghiệp mang tính thiết yếu và ít co giãn theo giá, tốc độ tăng trưởng của khu vực này thường thấp hơn so với công nghiệp và dịch vụ, chu kỳ sản xuất kéo dài hơn và khả năng sinh lợi cũng hạn chế hơn.

Chính vì vậy, những thành tựu mới nhất của khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thường được triển khai trước tiên và với quy mô lớn trong các ngành công nghiệp và dịch vụ, nơi có khả năng thu hồi vốn nhanh, tỉ suất sinh lợi cao và điều kiện thuận lợi để áp dụng đa dạng các công cụ cạnh tranh, mô hình kinh doanh cũng như phương thức tổ chức sản xuất hiện đại. Điều này góp phần tạo ra động lực tăng trưởng mạnh mẽ hơn cho hai khu vực này, qua đó làm thay đổi cơ cấu kinh tế theo hướng giảm dần tỉ trọng tương đối của nông nghiệp trong tổng sản phẩm quốc nội.

4.2. Quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành ở các quốc gia và vùng lãnh thổ có sự khác nhau về tốc độ

Mặc dù tốc độ và lộ trình chuyển dịch cơ cấu ngành có sự khác biệt giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ, tùy thuộc vào trình độ phát triển, điều kiện thể chế và nguồn lực sẵn có, song xu hướng chung vẫn là sự suy giảm liên tục của tỉ trọng nông nghiệp đi cùng với sự gia tăng của công nghiệp và dịch vụ. Bản chất của quá trình này không chỉ là sự thay đổi về cơ cấu sản lượng hay việc làm giữa các ngành, mà còn là sự chuyển đổi trong cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực xã hội, đồng thời tái cấu trúc thị trường theo hướng nâng cao hiệu quả, năng suất và khả năng tạo giá trị gia tăng của nền kinh tế. Cụ thể như sau:

Hàn Quốc (giai đoạn 1960 - 2025)

Trong 66 năm liên tiếp, cơ cấu ngành kinh tế của Hàn Quốc thay đổi nhanh chóng, trong đó công nghiệp và dịch vụ tăng liên tục với hệ số tương quan dương lần lượt là (+0,2197) và (+0,3798). Tỉ trọng nông nghiệp giảm liên tục với hệ số tương quan âm (-0,5971). Năm 1960, tổng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu ngành là 56,58%; tỉ trọng nông nghiệp 43,42%. Đến năm 2025, các con số này tương ứng là 99% và 1%. Bình quân mỗi năm, tỉ trọng nông nghiệp giảm 0,2757% (Hình 1).

Hình 1: Cơ cấu ngành kinh tế của Hàn Quốc trong giai đoạn 1960 - 2023

Đơn vị: %

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Trong đó: AgShare, InShare, SeShare lần lượt là tỉ trọng khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong GDP

Nguồn: WB và Cơ quan Thống kê Hàn Quốc

Hàn Quốc đạt được sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế thành công nhờ chiến lược đầu tư quy mô lớn và hiệu quả của Nhà nước vào các ngành công nghiệp nền tảng như thép, đóng tàu, ô tô và điện tử, đồng thời hình thành các tập đoàn công nghiệp lớn như Hyundai, LG, Lotte, SK Group và Samsung (Lee D.A., 1993). Song song với đó, quốc gia này đã xây dựng và triển khai hiệu quả chính sách thương mại chiến lược nhằm định hình mô hình tăng trưởng mới dựa trên năng lực cạnh tranh quốc tế. Các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao, chất lượng vượt trội và thương hiệu toàn cầu do các tập đoàn công nghiệp trong nước tạo ra đã đóng góp quan trọng vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho công cuộc công nghiệp hóa.

Trường hợp Hàn Quốc là một trong số ít quốc gia trải qua tương đối đầy đủ các giai đoạn công nghiệp hóa. Trong giai đoạn đầu, nước này tập trung tích lũy nội lực thông qua khai thác lợi thế lao động chi phí thấp, tận dụng các nguồn lực sẵn có và phát triển năng lực sản xuất trong nước nhằm đáp ứng nhu cầu nội địa, tương ứng với mô hình công nghiệp hóa thay thế nhập khẩu. Giai đoạn này diễn ra khi tỉ trọng nông nghiệp còn duy trì trên 10% GDP (trước năm 1986). Tiếp đó, Hàn Quốc chuyển sang chiến lược công nghiệp hóa hướng về xuất khẩu, kéo dài trong thời kỳ tỉ trọng nông nghiệp giảm từ khoảng 10% xuống còn gần 1% (giai đoạn 1987 - 2020). Sự chuyển đổi này đã giúp nền kinh tế nhanh chóng hội nhập vào chuỗi giá trị toàn cầu và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Đến năm 1996, Hàn Quốc chính thức gia nhập Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), đánh dấu bước chuyển quan trọng từ một nền kinh tế đang phát triển sang nhóm các quốc gia có thu nhập cao.

Từ năm 2021, Hàn Quốc bước sang giai đoạn phát triển mới, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực tăng trưởng chủ đạo. Đầu tư cho nghiên cứu và phát triển (R&D) được duy trì ở mức rất cao, với tỉ lệ chi cho R&D trên GDP tăng từ 2,14% năm 1996 lên khoảng 5% vào năm 2025. Đây là một trong những mức cao nhất thế giới, chỉ đứng sau Israel. Xét theo giá trị tuyệt đối, quy mô đầu tư cho R&D của Hàn Quốc ước đạt khoảng 100 tỉ USD mỗi năm, một con số rất lớn đối với quốc gia có dân số khoảng 50 triệu người. Việc ưu tiên phát triển và làm chủ các công nghệ lõi đã góp phần hình thành năng lực tự chủ quốc gia vượt trội về khoa học - công nghệ, tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn và nâng cao vị thế cạnh tranh của Hàn Quốc trên trường quốc tế.

Singapore (giai đoạn 1960 - 2025)

Liên tục trong 66 năm, cơ cấu ngành kinh tế của Singapore thay đổi nhanh chóng trong đó dịch vụ tăng liên tục với hệ số tương quan dương (+0,0525) và công nghiệp và nông nghiệp giảm liên tục với hệ số tương quan âm lần lượt là (- 0,011) và (-0,0574). Năm 1960, tổng tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp trong cơ cấu ngành là 90,87% và tỉ trọng nông nghiệp 3,7%. Đến năm 2025, các con số này tương ứng là 99,8% và 0,2%. Bình quân mỗi năm, tỉ trọng nông nghiệp giảm 0,054%. Singapore trở thành một trong ba quốc gia có thu nhập bình quân đầu người lớn nhất thế giới năm 2025 (Hình 2).

Hình 2: Cơ cấu ngành kinh tế của Singapore trong giai đoạn 1960 - 2025

Đơn vị: %

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Trong đó: AgShare, InShare, SeShare lần lượt là tỉ trọng khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong GDP

Nguồn: WB và Cơ quan Thống kê Singapore

Singapore đầu tư vào phát triển dịch vụ tài chính, du lịch, tái xuất khẩu, chuyển khẩu, sửa chữa tàu biển và logistics. Điều này hoàn toàn phù hợp với cơ cấu kinh tế của một nền kinh tế phát triển cao, không dựa vào tài nguyên sẵn có hay sức lao động rẻ. Động lực phát triển là sự sáng tạo cao nhất dựa vào nguồn tri thức sẵn có và khả năng kết nối quốc tế rộng lớn. Singapore vận động theo mô hình công nghiệp hóa dựa trên nền tảng số, AI, dịch vụ tài chính và logistics thông minh (Cơ quan Tiền tệ Singapore - MAS, 2026). Trong 30 năm liên tiếp (1996 - 2025), Singapore tăng chi R&D trong GDP từ 1,32% năm 1996 lên 2,2% năm 2025. Điều này phù hợp với mô hình công nghiệp hóa dẫn dắt bởi AI của Singapore giai đoạn mới.

Nhật Bản (giai đoạn 1994 - 2025)

Liên tục 32 năm, cơ cấu ngành kinh tế Nhật Bản thay đổi nhanh chóng trong đó dịch vụ tăng liên tục với hệ số tương quan dương (+0,2331) và công nghiệp và nông nghiệp giảm liên tục với hệ số tương quan âm lần lượt là (-0,2165) và (-0,0247). Năm 1994, tổng tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp trong cơ cấu ngành là 97,48% và tỉ trọng nông nghiệp 2,52%. Đến năm 2025, các con số này tương ứng là 99% và 1%. Bình quân mỗi năm, tỉ trọng nông nghiệp giảm 0,0475% (Hình 3).

Hình 3: Cơ cấu ngành kinh tế của Nhật Bản trong giai đoạn 1960 - 2025

Đơn vị: %

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Trong đó: AgShare, InShare, SeShare lần lượt là tỉ trọng khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong GDP

Nguồn: WB và Cơ quan Thống kê Nhật Bản

Nhật Bản đầu tư lớn vào phát triển ngành sản xuất, chế tạo ô - tô, xe máy, luyện thép, đóng tàu, điện tử, tài chính và logistics trên cơ sở hình thành hệ thống 6 tập đoàn có tiềm lực lớn nhất về tài chính, nhân lực và công nghệ, có thương hiệu toàn cầu và khả năng cạnh tranh cao. Điều này hoàn toàn phù hợp với cơ cấu kinh tế của một nền kinh tế có trình độ phát triển rất cao, không dựa vào tài nguyên sẵn có hay sức lao động rẻ. Động lực phát triển là sự sáng tạo tối đa, nhập khẩu sáng chế để thương mại hóa, thu lợi tối đa và phát huy khả năng kết nối quốc tế để xây dựng chuỗi cung ứng nguyên nhiên liệu đầu vào cùng với mở rộng tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Nhật Bản hướng tới mô hình công nghiệp hóa dựa trên nền tảng số, AI, dịch vụ tài chính, nhất là coi trọng phát triển công nghệ lượng tử (Bộ Ngoại giao Nhật Bản, 2017).

Trong 30 năm liên tiếp (1996 - 2025), Nhật Bản tăng chi R&D trong GDP từ 2,64% năm 1996 lên 3,7% năm 2025. Điều này phù hợp với mô hình công nghiệp hóa dẫn dắt bởi phát triển công nghệ chiến lược, sản phẩm công nghệ chiến lược và năng lực sản xuất các sản phẩm công nghiệp tinh xảo của Nhật Bản giai đoạn mới.

Đức (giai đoạn 1991 - 2025)

Liên tục 35 năm, tỉ trọng các ngành kinh tế tại Đức thay đổi nhanh chóng. Dịch vụ tăng liên tục với hệ số tương quan dương (+0,1599); công nghiệp và nông nghiệp giảm liên tục với hệ số tương quan âm lần lượt là (-0,1312) và (-0,0056). Năm 1991, tổng tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp trong cơ cấu ngành là 98,53% và tỉ trọng nông nghiệp 1,47%. Đến năm 2025, các con số này tương ứng là 99,3% và 0,7%. Bình quân mỗi năm, tỉ trọng nông nghiệp giảm 0,022% (Hình 4).

Hình 4: Cơ cấu ngành kinh tế của Đức trong giai đoạn 1960 - 2025

Đơn vị: %

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Trong đó: AgShare, InShare, SeShare lần lượt là tỉ trọng khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong GDP

Nguồn: WB và Cơ quan Thống kê Đức

Đức đầu tư mạnh vào phát triển ngành cơ khí chế tạo tinh xảo. Ngành ô tô, viễn thông, cơ khí chế tạo thiết bị giao thông hiện đại phát triển mạnh. Tỉ lệ chi R&D của Đức tăng từ 2,13% năm 1996 lên 3,5% năm 2025. Mô hình kinh tế thị trường xã hội tạo nền tảng phát triển ổn định. Nền công nghiệp phát triển hướng tới công nghiệp carbon thấp, công nghiệp thông minh, chuyển đổi số, phát huy vai trò AI, khoa học dữ liệu, chuyển dịch cơ cấu năng lượng từ năng lượng truyền thống sang năng lượng tái tạo, phát triển kinh tế tuần hoàn và cải thiện năng lực cạnh tranh quốc tế (Bộ Kinh tế và Năng lượng Đức, 2019).

Đài Loan (giai đoạn 2000 - 2025)

Liên tục 26 năm, tỉ trọng các ngành kinh tế tại Đài Loan thay đổi nhanh chóng. Dịch vụ và nông nghiệp giảm nhẹ liên tục với hệ số tương quan âm lần lượt là (-0,4158) và (-0,0146). Công nghiệp tăng lên tục với hệ số tương quan dương (+0,4304). Năm 2000, tổng tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp trong cơ cấu ngành là 97,98% và tỉ trọng nông nghiệp 2,02%. Đến năm 2025, các con số này tương ứng là 99% và 1%. Bình quân mỗi năm, tỉ trọng nông nghiệp giảm 0,0392% (Hình 5).

Hình 5: Cơ cấu ngành kinh tế của Đài Loan trong giai đoạn 1960 - 2025

Đơn vị: %

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Trong đó: AgShare, InShare, SeShare lần lượt là tỉ trọng khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong GDP

Nguồn: WB và Cơ quan Thống kê Đài Loan

Đài Loan đầu tư phát triển sản xuất chip bán dẫn thành công. Xuất khẩu mặt hàng công nghệ cao này đứng đầu thế giới. Do đó, tỉ trọng công nghiệp công nghệ cao tăng nhanh. Xu hướng đầu tư sản xuất hàng công nghiệp công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn là hướng phát triển chủ đạo của Đài Loan. Trong vòng 52 năm (1974 - 2025), tỉ trọng chi cho R&D của Đài Loan trong GDP tăng từ 0,3% năm 1974 lên 4% năm 2025 - thuộc nhóm 3 quốc gia có tỉ trọng chi này cao nhất thế giới. Bên cạnh đầu tư lớn, Đài Loan còn coi trọng phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 năm 2050.

Trung Quốc (giai đoạn 1960 - 2025)

Liên tục trong 66 năm, tỉ trọng các ngành kinh tế tại Trung Quốc thay đổi nhanh chóng trong đó dịch vụ tăng liên tục với hệ số tương quan dương (+0,5332) và công nghiệp tăng nhẹ với hệ số dương (+0.0377), còn nông nghiệp giảm liên tục với hệ số tương quan âm (-0,5709). Năm 1960, tổng tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp trong cơ cấu ngành là 76,88% và nông nghiệp 23,12%. Đến năm 2025, các con số này tương ứng là 93,3% và 6,7% (Hình 6). Bình quân mỗi năm, tỉ trọng nông nghiệp giảm 0,2489%. Trung Quốc trở thành quốc gia có quy mô GDP lớn thứ hai thế giới từ năm 2006.

Hình 6: Cơ cấu ngành kinh tế của Trung Quốc trong giai đoạn 1960 - 2025

Đơn vị: %

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Trong đó: AgShare, InShare, SeShare lần lượt là tỉ trọng khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong GDP

Nguồn: WB và Cơ quan Thống kê Trung Quốc

Trung Quốc đầu tư vào phát triển tất cả lĩnh vực kinh tế và trở thành công xưởng hàng đầu thế giới, làm chủ nhiều chuỗi cung ứng toàn cầu từ năm 2025. Mô hình công nghiệp hóa theo hướng xuất khẩu, thu hút tối đa đầu tư nước ngoài và bắt buộc chuyển giao công nghệ sau 5 năm hoạt động tại Trung Quốc thành công. Trung Quốc đã làm chủ được nhiều công nghệ trọng yếu của thế giới. Năm 2024, Trung Quốc có số lượng sáng chế chiếm 47,2% toàn thế giới (WIPO, 2026). Năm 2025, thặng dư thương mại của Trung Quốc đạt kỷ lục 1.200 tỉ USD. Đồng thời, các loại dịch vụ như du lịch, tài chính, logistics phát triển hàng đầu thế giới.

Động lực phát triển của Trung Quốc dựa vào năng lực nội tại, nguồn nhân lực dồi dào, sức sáng tạo và mạng lưới kết nối quốc tế rộng lớn. Trung Quốc cũng phát triển theo mô hình công nghiệp hóa dựa trên bốn lợi thế là thị trường, doanh nghiệp, chiến lược và tài năng với 10 lĩnh vực then chốt là công nghệ thông tin mới, công cụ kiểm soát số, thiết bị hàng không, tàu thủy công nghệ cao, thiết bị đường sắt, tiết kiệm năng lượng, vật liệu mới, thiết bị y tế, máy nông nghiệp và thiết bị năng lượng (Viện An ninh và Chính sách Phát triển Trung Quốc, 2018). Trong 30 năm liên tiếp (1996 - 2025), Trung Quốc liên tục tăng chi R&D trong GDP từ 0,56% năm 1996 lên 2,8% năm 2025. Nếu tính theo số tuyệt đối, con số này lên tới trên 500 tỉ USD, gấp 5 lần Hàn Quốc. Điều này phù hợp với định hướng mô hình công nghiệp hóa dựa vào đổi mới sáng tạo của Trung Quốc giai đoạn mới.

Israel (giai đoạn 1995 - 2025)

Liên tục 31 năm, tỉ trọng các ngành kinh tế tại Israel thay đổi nhanh chóng. Dịch vụ tăng liên tục với hệ số tương quan dương (+0,296), công nghiệp và nông nghiệp giảm liên tục với hệ số âm lần lượt là (-0,1941) và (-0,0242). Năm 1995, tổng tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp trong cơ cấu ngành là 97,06% và tỉ trọng nông nghiệp 2,04%. Đến năm 2025, các con số này tương ứng là 98,8% và 1,2%. Bình quân mỗi năm, tỉ trọng nông nghiệp giảm 0,027% (Hình 7).

Hình 7: Cơ cấu ngành kinh tế của Israel trong giai đoạn 1960 - 2025

Đơn vị: %

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Trong đó: AgShare, InShare, SeShare lần lượt là tỉ trọng khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong GDP

Nguồn: WB và Cơ quan Thống kê Israel

Israel đầu tư vào phát triển công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghiệp và sản phẩm công nghiệp quốc phòng và nông nghiệp công nghệ cao. Điều này hoàn toàn phù hợp với cơ cấu kinh tế của một nền kinh tế phát triển cao, khan hiếm tài nguyên. Nguồn lực phát triển là sự sáng tạo tối đa dựa vào nguồn tri thức sẵn có và khả năng kết nối quốc tế hiệu quả. Israel vận động theo mô hình quốc gia khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, công nghệ cao, phát triển dựa trên AI (Cơ quan Đổi mới sáng tạo Israel, 2025). Trong 30 năm liên tiếp (giai đoạn 1996 - 2025), tỉ trọng chi R&D trong GDP Israel tăng từ 2,473% năm 1996 lên 6,3% năm 2025. Đây là quốc gia có tỉ lệ chi R&D cao nhất thế giới.

Mỹ (giai đoạn 1997 - 2021)

Trong 25 năm liên tiếp, tỉ trọng các ngành kinh tế tại Mỹ thay đổi nhanh chóng. Dịch vụ tăng liên tục với hệ số tương quan dương (+0,2277), công nghiệp và nông nghiệp giảm liên tục với hệ số âm lần lượt là (-0,2162) và (-0,0109). Năm 1997, tổng tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp trong cơ cấu ngành là 98,663% và nông nghiệp 1,337%. Đến năm 2025, các con số này tương ứng là 99,0405% và 0,9595%. Bình quân mỗi năm, tỉ trọng nông nghiệp giảm 0,0151% (Hình 8).

Hình 8: Cơ cấu ngành kinh tế của Mỹ trong giai đoạn 1960 - 2025

Đơn vị: %

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Trong đó: AgShare, InShare, SeShare lần lượt là tỉ trọng khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong GDP

Nguồn: WB

Mỹ đầu tư vào phát triển công nghiệp công nghệ cao, nhất là công nghiệp và sản phẩm công nghiệp quốc phòng, công nghiệp hàng không, vũ trụ, công nghiệp tàu thủy, ô tô, thép, dầu khí, công nghệ số, công nghệ năng lượng, nông nghiệp công nghệ cao và dịch vụ tài chính, chứng khoán, tài sản mã hóa, công nghiệp sáng tạo, công nghiệp văn hóa, logistics. Điều này hoàn toàn phù hợp với cơ cấu kinh tế của một nền kinh tế phát triển cao. Nguồn lực phát triển đa dạng gồm nguồn vốn dồi dào, nhân lực chất lượng cao, cơ chế thị trường phát triển đầy đủ và sự sáng tạo tối đa dựa vào nguồn tri thức sẵn có và khả năng kết nối quốc tế rộng rãi, cũng như phát huy vị thế nước dẫn đầu thế giới nhiều lĩnh vực quan trọng. Mỹ theo mô hình quốc gia công nghiệp hóa dựa trên đổi mới sáng tạo, thu hút tài chính và tài năng thế giới, phát triển nhanh các mô hình kinh doanh mới, phát triển dựa trên AI (Văn phòng Tổng thống Mỹ, 2025). Trong 25 năm liên tiếp (1997 - 2021), tỉ lệ chi R&D trong GDP tăng từ 2,45% năm 1997 lên 3,5% năm 2025.

Thế giới (giai đoạn 1995 - 2024)

Trong 30 năm liên tiếp, tỉ trọng ngành thế giới thay đổi nhanh chóng. Dịch vụ và công nghiệp giảm nhẹ liên tục với hệ số tương quan âm lần lượt là (-0,0126) và (-0,0668), nông nghiệp tăng nhẹ liên tục với hệ số dương (+0,0266). Năm 1995, tổng tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp trong cơ cấu ngành là 96,091% và nông nghiệp 3,909%. Đến năm 2025, con số này tương ứng là 95,9513% và 4,0487%. Bình quân mỗi năm, tỉ trọng nông nghiệp tăng 0,0047%. Điều này ngược với xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành của các quốc gia trên đây (Hình 9).

Hình 9: Cơ cấu ngành kinh tế thế giới giai đoạn 1995 - 2025

Đơn vị: %

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Trong đó: AgShare, InShare, SeShare lần lượt là tỉ trọng khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ trong GDP

Nguồn: WB

Các ngành được đầu tư lớn và phát triển mạnh vẫn chủ yếu là công nghiệp và dịch vụ và do các nền kinh tế quy mô lớn chi phối như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc và các nước thuộc khối OECD. Tuy nhiên, phát triển nông nghiệp vẫn được các quốc gia coi trọng để cung cấp nguồn hàng đáp ứng nhu cầu cơ bản các nước. Tỉ lệ chi R&D trong GDP thế giới tăng từ 1,96% năm 1996 lên 2,59% năm 2024. Nếu tính theo số tuyệt đối, con số này lên tới 2.850 tỉ USD. Đây là dấu hiệu quan trọng cho thấy việc chuyển dịch cơ cấu ngành thế giới đang trong giai đoạn điều chỉnh để tăng tốc độ và quy mô dịch vụ và công nghiệp lớn hơn so với nông nghiệp. Đây là tiền đề tạo chuyển biến cơ bản cơ cấu khi tỉ trọng nông nghiệp có xu hướng giảm.

Việt Nam (giai đoạn 1986 - 2025)

Trong 40 năm liên tiếp từ thời điểm đổi mới kinh tế, tỉ trọng các ngành kinh tế tại Việt Nam thay đổi nhanh chóng. Dịch vụ và công nghiệp tăng nhẹ liên tục với hệ số tương quan dương lần lượt là (+0,1674) và (+0,3114), nông nghiệp giảm khá mạnh với hệ số âm (-0,7957). Năm 1986, tổng tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp trong cơ cấu ngành là 61,9% và nông nghiệp 38,1%. Đến năm 2025, con số này tương ứng là 79,9% và 11,64%. Bình quân mỗi năm, tỉ trọng nông nghiệp giảm 0,6615%. Xu hướng chuyển dịch cơ cấu ngành này cho thấy công nghiệp hóa của Việt Nam diễn ra đúng hướng. Đây là tiền đề bảo đảm thành công mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hình 10: Cơ cấu ngành kinh tế của Việt Nam trong giai đoạn 1986 - 2025

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Trong đó: AgShare, InShare, SeShare, TaShare lần lượt là tỉ trọng khu vực nông lâm nghiệp và thủy sản; công nghiệp và xây dựng; dịch vụ; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm trong GDP

Nguồn: Cục Thống kê

Việt Nam thu hút hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài vào thúc đẩy xuất khẩu. Từ tổng kim ngạch xuất - nhập khẩu chỉ khoảng 3 tỉ USD năm 1986, đến năm 2025, có số này đạt kỷ lục 930,2 USD (Cục Thống kê) nghĩa là tăng lên hơn 31 lần, đưa Việt Nam trở thành 18 quốc gia có tổng kim ngạch xuất khẩu lớn nhất thế giới. Độ mở nền kinh tế Việt Nam năm 2025 đạt 195% và cơ cấu hàng xuất khẩu có tỉ trọng hàng chế tạo công nghệ cao khoảng 36%. Ngành công nghiệp mũi nhọn của là điện thoại và linh kiện, điện tử, dệt may. Các loại dịch vụ có lợi thế rất cao là dịch vụ viễn thông và du lịch. Đây là biểu hiện của mô hình công nghiệp hóa hướng vào xuất khẩu và thực hiện thành công.

Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam cũng dễ bị tác động bất lợi trước những bất ổn của thế giới. Chi tiêu cho R&D khoảng 0,5% GDP và đang có xu hướng tăng lên từ năm 2026. Việt Nam coi đột phá phát triển khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là nền tảng của mô hình tăng trưởng mới, coi trọng đầu tư phát triển các ngành công nghiệp ứng dụng công nghệ chiến lược và sản phẩm công nghệ chiến lược, phát triển các tập đoàn công nghệ, kinh tế, tài chính tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

5. Một số khuyến nghị thực hiện quá trình công nghiệp hóa cho Việt Nam trong thời gian tới

Từ các phân tích trên đây, đối chiếu với Việt Nam, có thể thấy, cần có cơ cấu phù hợp với xu hướng chung là tăng tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ và giảm tỉ trọng nông nghiệp. Việc xác lập mô hình tăng trưởng mới là cần thiết để tăng trưởng hai con số liên tục trong ít nhất 7 năm. Thực tiễn chuyển dịch cơ cấu ngành của 9 trường hợp trên đây cho thấy tốc độ giảm tỉ trọng nông nghiệp bình quân năm lớn nhất là 0,2757% và nhỏ nhất là 0,0151%. Đây là con số tham chiếu đặc biệt với trường hợp Việt Nam trong giai đoạn vươn mình để vượt bẫy thu nhập trung bình, giảm thiểu thách thức từ cơ cấu dân số già, trở thành quốc gia thu nhập trung bình cao năm 2030 và nước công nghiệp thu nhập cao năm 2045.

Dựa trên đặc điểm chuyển dịch cơ cấu ngành các nước công nghiệp hóa, có thể thấy, với mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam là nước công nghiệp phát triển có thu nhập cao, theo đó, tỉ trọng nông nghiệp chỉ khoảng 1% GDP và con số này năm 2025 là 11,64%. Do đó, bình quân mỗi năm, tỉ trọng nông nghiệp Việt Nam phải giảm 0,532%. Điều này đòi hỏi, một mặt, nông nghiệp tiếp tục duy trì tốc độ phát triển cao nhất có thể khoảng 4 - 4,5%/năm; mặt khác, cần thúc đẩy phát triển với tốc độ vượt trội về công nghiệp và dịch vụ khoảng 14 - 15%/năm. Với tốc độ phát triển này, quy mô lĩnh vực nông nghiệp vẫn tăng lên về tuyệt đối nhưng giảm dần về tỉ trọng trong GDP.

Phấn đấu tăng trưởng GDP hai con số là mục tiêu quan trọng và phản ánh nỗ lực gia tăng quy mô kinh tế về mặt lượng. Để có tiền đề vững chắc bảo đảm chất lượng của tăng trưởng rất cao này, cần kiến tạo cơ cấu tối ưu. Thực tiễn cho thấy, các nước thành công trong công nghiệp hóa đều thành công trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên cơ sở xác lập mô hình tăng trưởng mới để nâng cấp liên tục chất lượng tăng trưởng.

Từ các trường hợp phân tích trên, có thể thấy, cơ cấu kinh tế công nghiệp hiện đại thường có tỉ trọng dịch vụ ít nhất khoảng 65 - 70%, công nghiệp khoảng 28 - 30% và nông nghiệp chỉ khoảng 1 - 1,5%. Để đạt được cơ cấu gần như tương đồng nhau của các nước công nghiệp hóa, Việt Nam cần có một quá trình chuyển dịch nhất định, đúng hướng với các trọng tâm sau đây:

Thứ nhất, chọn lọc thực tiễn tốt của các nước công nghiệp hóa thành công làm khung tham chiếu để xác định cơ cấu ngành Việt Nam. Cơ cấu hợp lý được xác định ngay từ khi bất đầu chuyển sang giai đoạn phát triển mới - tăng trưởng liên tục hai con số sẽ thúc đẩy tăng trưởng thực chất, vững chắc và liên tục. Tăng trưởng cao tạo chỗ dựa chuyển dịch nhanh cơ cấu. Đây là cách thức tạo động lực tăng trưởng không ngừng, giảm thiểu khả năng gián đoạn hoặc tụt hậu.

Thứ hai, chủ động, tích cực, sáng tạo phương thức điều chỉnh cơ cấu theo hướng tăng đầu tư, đào tạo nhân lực, cung cấp các nguồn lực và tăng quy mô các ngành công nghiệp mũi nhọn, công nghiệp chiến lược, công nghiệp nền tảng, công nghiệp có lợi thế so sánh cao và công nghiệp hỗ trợ. Trên cơ sở xây dựng cơ cấu khoa học, cần quyết liệt thúc đẩy nền kinh tế vận hành theo cơ cấu xác định.

Thứ ba, phát triển lực lượng doanh nghiệp đông đảo và lớn mạnh trong các ngành có tính mũi nhọn để lực lượng này làm nòng cốt liên kết các doanh nghiệp khác, hình thành mạng lưới ngành vận động theo đúng xu hướng tiến bộ khoa học - công nghệ, xu hướng phát triển thị trường, tạo chỗ dựa nội tại để điều chỉnh cơ cấu kinh tế,

Đẩy mạnh khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, phát triển các doanh nghiệp tư nhân, tổ chức tập thể, doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp gia đình, doanh nghiệp cá nhân theo hướng tập trung vào các ngành quyết định trình độ phát triển kinh tế.

Đầu tư lớn vào công tác R&D với tỉ trọng chi tiêu tăng lên 1,5 - 2% GDP - ngang với mức trung bình thấp của thế giới để nguồn lực này thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp mới, công nghệ cao, dịch vụ chất lượng cao, mô hình kinh doanh sáng tạo và làm mới các động lực và mô hình kinh doanh truyền thống, tối đa hóa động lực phát triển mới.

Thứ tư, tăng sức tự chủ, tự cường của lực lượng doanh nghiệp trong nước, có cơ chế tiếp cận và tiếp nhận với các tập đoàn công nghệ, công nghiệp, tập đoàn tài chính, kinh doanh quốc tế chuyển hóa thành sức mạnh nội sinh để giảm thiểu sự phụ thuộc nước ngoài, tăng tính độc lập của cơ cấu kinh tế, giảm thiểu các tác động bất lợi từ bên ngoài, giảm thiểu rủi ro và bảo đảm tăng trưởng liên tục.

Thứ năm, kết hợp hữu cơ việc xây dựng cơ cấu ngành với phát triển cơ cấu vùng và lãnh thổ, phát huy không gian phát triển mới có tính liên vùng, thúc đẩy sự ra đời của các doanh nghiệp lớn có khả năng dẫn dắt các sản phẩm chủ đạo, nhất là sản phẩm công nghiệp mũi nhọn của thế giới, để hình thành cấu trúc mạng lưới, hệ sinh thái phát triển trong giai đoạn tăng trưởng hai con số.

Thứ sáu, phát huy mô hình quản lý hành chính hai cấp để giảm chi phí và thủ tục hành chính, thúc đẩy tăng trưởng hai con số, tăng gấp đôi thu nhập trong vòng 5 năm tiếp theo và phát động phong trào “Thi đua làm giàu” trong các tầng lớp dân cư tạo làn sóng đầu tư mới, khai thác triệt để tiềm năng địa phương và tri thức bản địa nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số vững chắc.

6. Kết luận

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế là nội hàm cơ bản của công nghiệp hóa. Đây là cơ sở để huy động và phân bổ nguồn lực hiệu quả nhằm tối đa hóa giá trị gia tăng. Dưới tác động của cơ chế thị trường, các ngành có lợi thế cao về vốn đầu tư, công nghệ cao, mô hình quản lý hiện đại, thị trường tăng trưởng cao và ngành bất lợi thế sẽ thu hẹp dần. Công nghiệp và dịch vụ thường có hệ số co giãn cầu theo giá cao, có khả năng cao trong sáng tạo nhu cầu lớn, nhanh chóng so với nông nghiệp có hệ số co giãn cầu theo giá thấp, khả năng tạo nhanh nhu cầu mới hạn chế nên thường có tốc độ tăng trưởng thấp hơn. Quá trình này kéo dài ít nhất trong 20 - 30 năm tùy điều kiện phát triển của từng quốc gia.

Kinh nghiệm của các trường hợp nghiên cứu cho thấy, cần nhận thức và chủ động mở rộng dịch vụ và công nghiệp dựa trên công nghệ cao, ngành mũi nhọn và dịch vụ chất lượng cao, giá trị lớn, thu hẹp nông nghiệp trên cơ sở phát triển cao nhất tiềm năng nông nghiệp. Các trường hợp này là bài học đặc biệt quan trọng với Việt Nam trong xác định cơ cấu phù hợp, tăng chi tiêu nghiên cứu và phát triển và xác định lộ trình tăng tỉ trọng dịch vụ và công nghiệp hiệu quả tương ứng với giảm tỉ trọng nông nghiệp ít nhất 0,532%/năm. Đây là mục tiêu rất lớn nhưng tạo nền tảng bảo đảm chất lượng tăng trưởng cao nhất, tạo điều kiện xác lập thành công mô hình tăng trưởng mới.

Tài liệu tham khảo

1. Bộ Kinh tế và Năng lượng Đức (2019), Chiến lược công nghiệp 2030, https://www.celis.institute/wp-content/uploads/2020/08/industrial-strategy-2030.pdf

2. Bộ Ngoại giao Nhật Bản (2017), Chương trình nghị sự phát triển bền vững đến năm 2030, https://www.mofa.go.jp/files/000252817.pdf

3. Cơ quan Đổi mới sáng tạo Israel (2025), Báo cáo thường niên quốc gia công nghệ cao, https://innovationisrael.org.il/en/report/the-state-of-high-tech - 2025?

4. Hội đồng Phát triển quốc gia Đài Loan (2021), The “12 Key Strategies” Action Plan is Announced to Fully Promote 2050 Net-Zero Transition Goals, https://www.ndc.gov.tw/en/nc_8455_36526?

5. Kenneth L. Kraemer, Greg Linden, and Jason Dedrick (2011), Capturing Value in Global Networks: Apple’s iPad and iPhone, https://economiadeservicos.com/wp-content/uploads/2017/04/value_ipad_iphone.pdf

6. Lee, D. A. (1993), Internationalization of the Korean economy and Chaebols. Asian Geographer, 12(1-2), 57-66.

7. Lê-nin V.I. (1893), Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường. Lênin Toàn tập. Tập 1. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Hà Nội 2005. Trang 89-102, https://www.marxists.org/vietnamese/lenin/toan_tap/Lenin1.pdf

8. Lin J. Y. (2010), Economic development and structural change, https://www.google.com/search?q=How+to+change+the+economic+structure&scamanifesto. Cambridge University Press.

9. Mankiw N. G. (2018), Principles of Economics, Harvard University, https://files.znu.edu.ua/files/Bibliobooks/Inshi66/0048973.pdf

10. Monetary Authority of Singapore (2026), The Singapore Economy, https://www.mas.gov.sg/-/media/mas-media-library/publications/macroeconomic-review/2026/jan/mrjan26_chpt_3.pdf

11. Moore H. J., (1978), A measure of structural change of output, https://www.roiw.org/1978/105.pdf

12. Nguyễn Thị Hương (2025), Xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam từ năm 1986 đến nay, https://www.nso.gov.vn/wp-content/uploads/2025/05/Bai-viet-1-Chuyen-dich-co-cau-kinh-te-tu-1986-den-nay-30.4.pdf

13. Nurkse R., (1961), Theory “Balanced Growth", Oxford Press.

14. Porter M. (2008), Năng lực cạnh tranh quốc gia, Bản dịch của Nhà xuất bản Trẻ.

15. Rostow, W. W. (1960), The stages of economic growth: A non-communist

16. SIM Dictionary, Economic structure, https://dictionary.zim.vn/anh-viet/economic-structure

17. Singer, Hans (1998), The South Letter (30) "The Terms of Trade Fifty Years Later - Convergence and Divergence.

18. Stiglitz J.E., (2015), Economics of public sector, W.W. Norton Company, Inc.

19. Economicsdiscussion (2025), Technological Gap Model of International Trade, https://www.economicsdiscussion.net/international-trade/models-international-trade/technological-gap-model-of-international-trade-economics/30835

20. UNIDO (2026), Industrial Development Report 2026, https://www.unido.org/sites/default/files/unido-publications/2025-11/UNIDO%20IDR26.pdf>.

21. Văn phòng Tổng thống Mỹ (2025), Kế hoạch chiến lược năm tài khóa 2026-2030, https://www.state.gov/wp-content/uploads/2026/01/Agency-Strategic-Plan-for-Fiscal-Years-2026-2030.pdf

22. Viện An ninh và Chính sách phát triển Trung Quốc (2018), Made in China 2025, < https://www.isdp.eu/wp-content/uploads/2018/06/Made-in-ChinaBackgrounder.pdf

23. VietnamBiz (2020), Cơ cấu ngành kinh tế, https://vietnambiz.vn/co-cau-nganh-kinh-te-la-gi-noi-dung-va-thuc-trang-o-viet-nam-20200116171128789.htm

24. WIPO (2026), Chỉ số sở hữu trí tuệ thế giới 2024, https://www.wipo.int/web-publications/world-intellectual-property-report-2026/assets/84979/944-WIPR%202026-EN-web.pdf

25. WB (1977), Korea’s Experience with export-led industrial development, https://documents1.worldbank.org/curated/en/346251468739299894/pdf/Koreas-exerience-with-export-led-industrial-development.pdf

PGS., TS. Nguyễn Thường Lạng
Đại học Kinh tế quốc dân

Tin bài khác

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Xem thêm
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng