Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW
1. Những điểm đáng chú ý trong bối cảnh quốc tế hiện nay
Kể từ sau đại dịch Covid-19, thế giới đang đứng trước nhiều biến động khó lường về địa chính trị, kinh tế và môi trường ở cả cấp độ khu vực và toàn cầu, với những tác động trực tiếp và gián tiếp ngày càng sâu rộng đến tất cả các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Một số điểm đáng chú ý có thể khái quát như sau:
Thứ nhất, gia tăng cạnh tranh địa chính trị và tái cấu trúc trật tự kinh tế thế giới, quan hệ quốc tế theo hướng đa cực, đa trung tâm
Cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu (EU), Nga, Trung Quốc và Ấn Độ ngày càng gia tăng, kéo theo cạnh tranh về quốc phòng, công nghệ và kinh tế. Hệ thống đa phương (mô hình hợp tác trong đó nhiều quốc gia hoặc tổ chức cùng tham gia thay vì chỉ có quan hệ song phương giữa hai bên) vẫn được đa số quốc gia coi trọng trong giải quyết các vấn đề toàn cầu dù đang đối mặt với nhiều thách thức.
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN 4.0) thúc đẩy chuyển đổi số, kinh tế số và làm gia tăng khoảng cách về trình độ số giữa các quốc gia. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế vẫn tiếp diễn nhưng chậm hơn, trong khi kết nối số, thương mại quốc tế, đầu tư xanh, công nghệ cao và phát triển bền vững ngày càng được ưu tiên. Xu hướng cân bằng giữa hội nhập và tự chủ, mở cửa và nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế ngày càng rõ nét.
Chuỗi cung ứng toàn cầu đang được tái cấu trúc theo hướng đa dạng hóa, giảm phụ thuộc để hạn chế rủi ro địa chính trị, thúc đẩy dòng vốn đầu tư dịch chuyển sang Đông Nam Á, Nam Á và các nền kinh tế mới nổi. Đồng thời, cạnh tranh về khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, nguồn nhân lực chất lượng cao và sở hữu trí tuệ ngày càng gay gắt.
Các doanh nghiệp và nhà đầu tư ngày càng coi trọng tiêu chí về môi trường - xã hội - quản trị (ESG), đẩy mạnh đầu tư vào năng lượng tái tạo, công nghệ sạch, trí tuệ nhân tạo (AI), điện toán đám mây, công nghệ tài chính (Fintech) và các nền tảng số. Điều này đòi hỏi các quốc gia phải nâng cao chất lượng thể chế, đáp ứng các tiêu chuẩn về môi trường và phát triển bền vững để thu hút đầu tư.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gia tăng, nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia có quy mô vừa và nhỏ, có xu hướng coi trọng hơn vai trò của luật pháp quốc tế và các cơ chế hợp tác đa phương nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia và duy trì môi trường phát triển ổn định. Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu, thiên tai, cùng với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, nợ công gia tăng, lạm phát, rủi ro tài chính và bất bình đẳng xã hội tiếp tục tạo sức ép đối với tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu.
Thứ hai, lực lượng sản xuất mới với những cấu thành mới và đặc tính mới đang đặt ra những nhận thức và yêu cầu mới về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ của mỗi quốc gia
Lực lượng sản xuất mới hình thành trên nền tảng CMCN 4.0 với các yếu tố như AI, dữ liệu lớn, vật liệu mới, năng lượng mới, robot, kinh tế số, tài sản số và các thị trường số. Đặc trưng của lực lượng sản xuất này là vận hành theo chuỗi, kết nối toàn cầu, làm cho thị trường biến động nhanh hơn, khó dự báo hơn và làm giảm dần lợi thế cạnh tranh dựa vào lao động giá rẻ hay tài nguyên thiên nhiên.
Các quốc gia và doanh nghiệp ngày càng phụ thuộc vào chuỗi cung ứng, đối tác công nghệ và các hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Dòng vốn đầu tư quốc tế có xu hướng tập trung vào các cụm ngành và lĩnh vực như bán dẫn, năng lượng tái tạo, Fintech, logistics thông minh, giáo dục số và y tế số, khiến không gian phát triển ngày càng được định hình theo các không gian kinh tế tích hợp.
Dữ liệu lớn, công nghệ và đổi mới sáng tạo trở thành nguồn lực chiến lược quyết định năng lực cạnh tranh của quốc gia và doanh nghiệp. Đồng thời, sự phát triển của kinh tế số làm xuất hiện nhiều mô hình kinh doanh mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động và đặt ra yêu cầu đổi mới giáo dục, đào tạo nguồn nhân lực và bảo đảm an sinh xã hội.
Trong bối cảnh đó, nội hàm của nền kinh tế độc lập, tự chủ thay đổi theo hướng gắn với năng lực làm chủ công nghệ, chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Đối với Việt Nam, CMCN 4.0 vừa tạo cơ hội rút ngắn khoảng cách phát triển, vừa đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, thu hút đầu tư chất lượng cao và bảo đảm việc làm, an sinh xã hội trong quá trình chuyển đổi.
Thứ ba, sức mạnh quốc gia ngày càng dựa trên cộng hưởng sức mạnh nội lực kinh tế, quốc phòng và khả năng phản ứng chính sách, phản ứng thị trường thông minh và hiệu quả
Ngày nay, sức mạnh của một quốc gia thường được đánh giá trên ba phương diện cơ bản: (i) Sức mạnh cứng, bao gồm quy mô và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế, tiềm lực khoa học - công nghệ, năng lực tài chính và sức mạnh quốc phòng; (ii) Sức mạnh mềm, thể hiện ở sức hấp dẫn của mô hình phát triển, hệ giá trị, vị thế, uy tín và mức độ ảnh hưởng trong quan hệ quốc tế; và (iii) Sức mạnh thông minh, phản ánh khả năng kết hợp hiệu quả các loại sức mạnh để thực hiện mục tiêu phát triển quốc gia, chất lượng hoạch định và tổ chức thực thi chính sách, cũng như năng lực điều chỉnh và ứng phó trước các biến động, khủng hoảng (Nye, Joseph S., 2011; Huyền Trang, 2018). Trong bối cảnh đó, tổng thể sức mạnh của các quốc gia ngày càng được quyết định bởi sự cộng hưởng giữa nội lực kinh tế, quốc phòng và năng lực phản ứng chính sách, phản ứng thị trường một cách kịp thời, linh hoạt và hiệu quả.
Sức mạnh quốc gia còn được đánh giá theo nhiều tiêu chí khác nhau, tùy thuộc góc nhìn của các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, tính độc lập, tự chủ và khả năng chống chịu của nền kinh tế luôn là những tiêu chí cốt lõi phản ánh sức mạnh và năng lực cạnh tranh của mỗi quốc gia, cả trong hiện tại và tương lai.
Thực tiễn phát triển của thế giới hiện đại cho thấy, không có mô hình phát triển, nền kinh tế hay doanh nghiệp nào có thể duy trì thành công một cách bền vững nếu thiếu khả năng nhận diện đúng bối cảnh, dự báo kịp thời và phản ứng linh hoạt trước những biến động ngày càng nhanh, phức tạp và khó lường của môi trường trong nước cũng như quốc tế.
Đặc biệt, sự thành công của mỗi quốc gia tỉ lệ thuận với năng lực xây dựng và vận hành hiệu quả cơ chế hài hòa lợi ích, phát huy sức mạnh tổng hợp của các nguồn lực trong nước và quốc tế phục vụ các mục tiêu phát triển; đồng thời củng cố niềm tin chính trị, niềm tin chính sách, niềm tin của nhà đầu tư và thị trường, tăng cường đoàn kết, đồng thuận xã hội, chủ động bám sát tình hình, nâng cao năng lực thông tin, dự báo và xây dựng các kịch bản ứng phó phù hợp với từng tình huống phát sinh.
![]() |
| Ảnh minh họa (Nguồn: Internet) |
2. Định hình không gian phát triển kinh tế mới gắn với vốn đầu tư quốc tế ở Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW
Việt Nam hiện đang ở ngưỡng của Kỷ nguyên mới, với tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2021 - 2025 bình quân đạt khoảng 6,2%/năm (năm 2025 tăng 8,02%), thuộc nhóm dẫn đầu khu vực và thế giới. Kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát; các chính sách điều hành linh hoạt, hiệu quả; vị thế, uy tín quốc tế ngày càng được nâng cao. Quy mô nền kinh tế ước đạt trên 514 tỉ USD, lực lượng lao động ước đạt 53,2 triệu người và Việt Nam thuộc nhóm nước có thu nhập trung bình cao vào năm 2025 (Cục Thống kê, 2025).
Việt Nam bước đầu hình thành đội ngũ lao động với tư duy số và kỹ năng số ngày càng được nâng cao. AI, Internet vạn vật, dữ liệu lớn và điện toán đám mây đang dần trở thành những công cụ sản xuất quan trọng trong nhiều ngành, lĩnh vực. Kết cấu hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng số, đang được đầu tư phát triển mạnh mẽ. Mạng lưới viễn thông và internet băng thông rộng phủ sóng rộng khắp cả nước, tạo nền tảng phát triển kinh tế số, xã hội số.
Đặc biệt, Việt Nam đang từng bước hình thành một bộ phận lực lượng sản xuất mới gắn với sự nâng cấp của lực lượng sản xuất hiện hữu, nhất là với AI, robot, vật liệu mới, năng lượng sạch và các phương thức sản xuất tiên tiến. Lực lượng lao động mới có trình độ cao hơn, tư duy toàn cầu hơn và khả năng thích ứng tốt hơn với chuỗi giá trị quốc tế. Nhiều năm liên tiếp, các lĩnh vực kinh tế số, công nghệ cao ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao, tạo động lực lan tỏa cho toàn nền kinh tế.
Việt Nam là một trong những quốc gia tham gia mạng lưới Hiệp định Thương mại Tự do (FTA) rộng với nhiều hiệp định quan trọng như FTA giữa Việt Nam và Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP)... Mạng lưới FTA này tạo điều kiện để các doanh nghiệp có FDI tại Việt Nam tiếp cận nhiều thị trường quốc tế với các ưu đãi về thuế quan và thương mại, từ đó nâng cao sức hấp dẫn của Việt Nam đối với các nhà đầu tư nước ngoài.
Trên thực tế, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài không ngừng phát triển, bổ sung nguồn lực đầu tư quan trọng, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu, từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu; đồng thời hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, tiếp nhận công nghệ và phương thức quản trị tiên tiến.
Theo Cục Thống kê, Bộ Tài chính, lũy kế đến giữa năm 2026, Việt Nam có hơn 46.500 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký đạt hơn 549 tỉ USD và vốn thực hiện khoảng 359,9 tỉ USD. Riêng ước tính nửa đầu năm 2026, FDI đăng ký đạt gần 25 tỉ USD, tăng gần 35% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có hơn 1.570 dự án cấp mới với tổng vốn đạt gần 15 tỉ USD. Vốn giải ngân thực hiện ước đạt 9,75 tỉ USD, tăng 9,6% so với cùng kỳ. Ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là lĩnh vực thu hút chủ yếu khi đạt hơn 14,5 tỉ USD (chiếm trên 70% tổng vốn đăng ký) và 8,06 tỉ USD vốn thực hiện (chiếm 82,7%). Tiếp theo là lĩnh vực bất động sản và phân phối năng lượng. Các doanh nghiệp FDI hiện đóng góp quan trọng vào nền kinh tế, trong đó có khoảng 17 - 18% tổng thu ngân sách nhà nước, hơn 20% GDP và khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu hằng năm; giữ vai trò quan trọng trong duy trì vị thế xuất siêu của Việt Nam. Khu vực này cũng tạo việc làm ổn định cho hàng triệu lao động trực tiếp và gián tiếp; đồng thời thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu, phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao, vi mạch bán dẫn và AI.
Tuy nhiên, sự liên kết và chuyển giao công nghệ của các doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước còn hạn chế; dòng vốn đầu tư gián tiếp còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng thị trường. Hoạt động góp vốn, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp của các quỹ đầu tư, định chế tài chính toàn cầu và nhà đầu tư nước ngoài còn hạn chế, việc quản lý còn nhiều vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện.
Trong bối cảnh Việt Nam đang đối diện với yêu cầu về nguồn vốn và xác lập mô hình tăng trưởng mới dựa trên khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, cả vốn trực tiếp và gián tiếp, có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng không gian phát triển, thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng từ chủ yếu theo chiều rộng sang chiều sâu, nâng cao năng lực cạnh tranh và từng bước vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Trước xu thế cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế ngày càng gia tăng và sự dịch chuyển của dòng vốn toàn cầu theo hướng ưu tiên công nghệ, đổi mới sáng tạo và phát triển bền vững, Việt Nam cần đổi mới cách tiếp cận trong thu hút và sử dụng nguồn lực nước ngoài. Theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW, trọng tâm không chỉ là mở rộng quy mô vốn đầu tư mà hướng tới nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính lan tỏa của khu vực FDI, gắn với phát triển các cực tăng trưởng, không gian kinh tế mới và hệ sinh thái đầu tư có khả năng kết nối sâu với chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ nhất, xây dựng các cực tăng trưởng kết nối chuỗi giá trị toàn cầu
Việt Nam cần chuyển từ mô hình phát triển dàn trải sang hình thành các cực tăng trưởng có tính liên kết cao, dựa trên lợi thế vùng, hạ tầng hiện đại, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và khả năng tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW, trong đó nhấn mạnh yêu cầu “thu hút, hợp tác đầu tư nước ngoài có chọn lọc, lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ và bảo vệ môi trường là tiêu chí đánh giá chủ yếu”, đồng thời ưu tiên “các dự án đầu tư có công nghệ tiên tiến, công nghệ mới, công nghệ cao, quản trị hiện đại, có giá trị gia tăng cao, có tác động lan tỏa, kết nối với khu vực kinh tế trong nước và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu”.
Theo Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Việt Nam định hướng phát triển các vùng động lực và cực tăng trưởng có khả năng dẫn dắt nền kinh tế. Trong đó, vùng động lực phía Bắc tập trung vào công nghiệp công nghệ cao, logistics, cảng biển và R&D; vùng động lực phía Nam phát triển công nghiệp hiện đại, dịch vụ tài chính, logistics và cảng biển; vùng động lực miền Trung thúc đẩy đổi mới sáng tạo, kinh tế số và dịch vụ công nghệ; Đồng bằng sông Cửu Long phát triển nông nghiệp công nghệ cao, kinh tế xanh và công nghiệp chế biến.
Ngoài ra, các hành lang kinh tế tiếp tục được hình thành và phát triển theo trục Bắc - Nam, Đông - Tây cùng các vành đai kinh tế ven biển. Trong đó, ưu tiên được dành cho hành lang kinh tế Bắc - Nam, hành lang Lào Cai - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh và hành lang Mộc Bài - Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Vũng Tàu.
Các cực tăng trưởng này cần ưu tiên thu hút FDI thế hệ mới vào các lĩnh vực như bán dẫn, AI, trung tâm dữ liệu, công nghệ sinh học, tự động hóa, năng lượng tái tạo và các dịch vụ có giá trị gia tăng cao, qua đó từng bước nâng cao vị trí của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đồng thời, cần tăng cường liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước theo định hướng của Nghị quyết 10-NQ/TW: “Tăng cường liên kết giữa khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài với khu vực kinh tế trong nước; khuyến khích doanh nghiệp trong nước tham gia vào chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài; nâng cao năng lực hấp thụ, làm chủ và đổi mới công nghệ”.
Qua đó, các cực tăng trưởng không chỉ là không gian sản xuất mà còn trở thành hệ sinh thái phát triển mới, kết nối doanh nghiệp, khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực và dòng vốn quốc tế, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy Việt Nam tham gia sâu hơn vào nền kinh tế toàn cầu.
Thứ hai, hình thành các không gian phát triển mới gắn với thể chế, chính sách đặc thù nhằm nâng cao chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài
Nghị quyết 10-NQ/TW với mục tiêu tổng quát là: “Đưa Việt Nam trở thành điểm đến có sức cạnh tranh thu hút nguồn vốn nước ngoài trung và dài hạn chất lượng cao cho đầu tư phát triển. Quản lý và sử dụng hiệu quả FDI nhằm nâng cao năng lực sản xuất, tạo sự liên kết, lan tỏa với các khu vực kinh tế trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực và tham gia sâu các chuỗi cung ứng toàn cầu; góp phần xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tăng cường năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ chiến lược, nâng cao vị thế và uy tín quốc gia; tạo động lực quan trọng thực hiện thành công các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và năm 2045”.
Nghị quyết xác định rõ yêu cầu chuyển đổi tư duy từ thu hút FDI theo hướng mở rộng quy mô sang nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính lan tỏa của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Theo đó, Việt Nam hướng tới trở thành điểm đến có sức cạnh tranh trong thu hút các dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao, có tính ổn định, dài hạn, gắn với đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Theo tinh thần của Nghị quyết 10-NQ/TW, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài trong giai đoạn mới không chỉ hướng tới gia tăng quy mô vốn mà còn tập trung vào việc lựa chọn các dự án có công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, có khả năng kết nối với doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và tham gia sâu hơn vào các chuỗi giá trị toàn cầu. Đây là yêu cầu quan trọng nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng tính tự chủ của nền kinh tế và hình thành mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Trên cơ sở đó, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện các không gian phát triển kinh tế mới gắn với các vùng động lực, khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo và các hệ sinh thái hỗ trợ đầu tư có khả năng thu hút các dự án quy mô lớn, công nghệ cao và có sức lan tỏa. Việc xây dựng môi trường đầu tư cạnh tranh, minh bạch, ổn định cùng với các cơ chế, chính sách phù hợp sẽ tạo điều kiện để thu hút các tập đoàn đa quốc gia, các nhà đầu tư chiến lược và các dự án thuộc lĩnh vực công nghệ mới, sản xuất thông minh, R&D, dịch vụ hiện đại.
Bên cạnh thu hút FDI, Việt Nam cần đồng thời phát triển đồng bộ các kênh huy động vốn quốc tế, nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường tài chính, thị trường vốn và các định chế trung gian tài chính nhằm tạo nền tảng cho quá trình phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn. Việc phát triển các mô hình tài chính hiện đại, mở rộng khả năng tiếp cận của nhà đầu tư quốc tế và nâng cao tính minh bạch của thị trường sẽ góp phần tăng cường khả năng kết nối của nền kinh tế Việt Nam với hệ thống tài chính toàn cầu.
Đặc biệt, cần chuyển mạnh từ tư duy "thu hút vốn đầu tư" sang tư duy "phát triển hệ sinh thái đầu tư chiến lược", trong đó khu vực FDI được đặt trong mối liên kết với doanh nghiệp trong nước, hệ thống đổi mới sáng tạo, hạ tầng logistics, hạ tầng số, nguồn nhân lực chất lượng cao và các ngành công nghiệp nền tảng. Việc nâng cao hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài không chỉ được đánh giá thông qua quy mô vốn đăng ký hay số lượng dự án, mà quan trọng hơn là mức độ đóng góp vào năng suất lao động, năng lực công nghệ, khả năng tham gia chuỗi cung ứng và sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Trong giai đoạn tới, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng quản trị, bảo đảm cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế và tăng cường năng lực quản lý nhà nước đối với hoạt động đầu tư nước ngoài. Qua đó, Việt Nam không chỉ tiếp tục là điểm đến hấp dẫn của các dòng vốn quốc tế mà còn từng bước trở thành trung tâm sản xuất, đổi mới sáng tạo, nghiên cứu phát triển và cung ứng dịch vụ có giá trị gia tăng cao trong khu vực.
Thứ ba, tăng cường thu hút FDI cho phát triển các dự án hạ tầng chiến lược định hình và mở rộng không gian kinh tế mới
Về phát triển thị trường vốn và tăng cường khả năng huy động nguồn lực quốc tế, Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định yêu cầu: “Phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng minh bạch, hiện đại, an toàn, bền vững, giảm sự phụ thuộc vào thị trường tín dụng ngắn hạn; hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, định chế trung gian; khẩn trương triển khai xây dựng và đưa vào vận hành các Trung tâm tài chính quốc tế, khu vực; đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán trên cơ sở cải cách thực chất về khả năng tiếp cận thị trường, chất lượng và sự đa dạng nguồn cung hàng hóa, minh bạch thông tin, an toàn hệ thống và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư”.
Trên cơ sở định hướng này, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện hệ sinh thái tài chính theo hướng đa dạng hóa các kênh huy động vốn, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trung và dài hạn cho phát triển kinh tế, đồng thời tăng cường mức độ kết nối giữa thị trường vốn trong nước với thị trường tài chính quốc tế. Việc phát triển đồng bộ thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, các định chế trung gian tài chính và các công cụ huy động vốn mới sẽ tạo điều kiện thu hút các dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài có chất lượng, ổn định và hướng tới mục tiêu phát triển dài hạn.
Cùng với hoàn thiện nền tảng tài chính, Việt Nam cần ưu tiên thu hút nguồn lực quốc tế cho các dự án hạ tầng chiến lược có khả năng tạo tác động lan tỏa lớn như đường sắt tốc độ cao, cảng biển nước sâu, sân bay quốc tế, trung tâm logistics, hệ thống truyền tải điện, lưới điện thông minh, hạ tầng số và trung tâm dữ liệu. Đây là những lĩnh vực có vai trò kết nối các cực tăng trưởng, thúc đẩy liên kết vùng, mở rộng không gian phát triển kinh tế và nâng cao năng lực tham gia của Việt Nam vào các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
Trong bối cảnh chuyển dịch mạnh mẽ sang mô hình tăng trưởng xanh, việc thu hút các dòng vốn xanh quốc tế cần được coi là một định hướng quan trọng. Việt Nam có nhiều tiềm năng phát triển các lĩnh vực như năng lượng tái tạo, điện gió ngoài khơi, điện mặt trời, tín chỉ carbon, hydro xanh, kinh tế tuần hoàn và đô thị phát thải thấp. Việc khai thác hiệu quả các nguồn vốn này không chỉ góp phần bổ sung nguồn lực cho phát triển hạ tầng bền vững mà còn hỗ trợ quá trình chuyển đổi năng lượng, giảm phát thải và nâng cao khả năng tiếp cận các chuẩn mực đầu tư quốc tế.
Bên cạnh việc mở rộng các kênh huy động vốn, yêu cầu quan trọng trong giai đoạn mới là chuyển từ cách tiếp cận thu hút đầu tư dựa chủ yếu vào quy mô vốn sang thu hút có chọn lọc, ưu tiên các dự án có công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, sử dụng hiệu quả tài nguyên, thân thiện với môi trường và có khả năng tạo liên kết với khu vực kinh tế trong nước. Chính sách ưu đãi đầu tư cũng cần từng bước chuyển từ cơ chế dựa trên cam kết sang cơ chế gắn với kết quả thực hiện, trong đó chú trọng các tiêu chí về chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực, phát triển chuỗi cung ứng và mức độ đóng góp cho nền kinh tế.
Để nâng cao sức hấp dẫn đối với các nhà đầu tư quốc tế, Việt Nam cần tiếp tục cải thiện các yếu tố nền tảng của môi trường đầu tư, bao gồm chất lượng nguồn nhân lực, tính ổn định và minh bạch của thể chế, khả năng cung cấp năng lượng sạch, hiệu quả của hệ thống logistics, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và năng lực của doanh nghiệp trong nước trong việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Theo đó, không gian phát triển mới của Việt Nam không chỉ được hiểu là sự mở rộng về phạm vi địa lý mà còn là sự kết hợp giữa hạ tầng hiện đại, thể chế cạnh tranh, nguồn nhân lực chất lượng cao, nền tảng số và khả năng kết nối với các dòng vốn quốc tế. Trên nền tảng các hành lang kinh tế Bắc - Trung - Nam, các vùng động lực và cực tăng trưởng chuyên môn hóa, Việt Nam có điều kiện hình thành hệ sinh thái phát triển mới, trong đó FDI, vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài và vốn xanh đóng vai trò là các nguồn lực quan trọng thúc đẩy đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và phát triển các ngành kinh tế mới.
Trong bối cảnh dòng vốn đầu tư nước ngoài đang có sự tái cấu trúc sâu sắc dưới tác động của chuyển đổi công nghệ, biến đổi khí hậu và yêu cầu phát triển bền vững, Việt Nam đứng trước cơ hội chuyển đổi mô hình thu hút đầu tư từ dựa trên lợi thế chi phí sang dựa trên năng lực công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng hệ sinh thái phát triển. Nếu đồng thời thúc đẩy cải cách thể chế, phát triển hạ tầng chiến lược và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, Việt Nam không chỉ duy trì vai trò là điểm đến sản xuất quan trọng mà còn có thể từng bước trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo, dịch vụ và kết nối kinh tế trong khu vực và trên thế giới.
3. Kết luận
Trước tình hình kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu sắc dưới tác động của cạnh tranh chiến lược, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững, việc định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài trở thành yêu cầu khách quan đối với Việt Nam. Tinh thần của Nghị quyết số 10-NQ/TW không chỉ khẳng định vai trò quan trọng của khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đối với tăng trưởng kinh tế, mà còn định hướng chuyển mạnh từ mục tiêu thu hút vốn theo quy mô sang nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính lan tỏa và khả năng liên kết với khu vực kinh tế trong nước.
Theo đó, việc phát triển các cực tăng trưởng, không gian kinh tế mới, hạ tầng chiến lược, hệ sinh thái đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao cần được triển khai đồng bộ với hoàn thiện thể chế và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh. Đồng thời, cần ưu tiên thu hút các dự án đầu tư nước ngoài có công nghệ tiên tiến, giá trị gia tăng cao, thân thiện với môi trường, có khả năng chuyển giao công nghệ và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, qua đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tự chủ của nền kinh tế.
Với những lợi thế về vị trí địa kinh tế, mạng lưới các FTA thế hệ mới, môi trường chính trị - xã hội ổn định và quyết tâm cải cách mạnh mẽ, Việt Nam có nhiều điều kiện để trở thành điểm đến hấp dẫn của các dòng vốn đầu tư nước ngoài chất lượng cao. Nếu tận dụng tốt cơ hội từ xu hướng dịch chuyển đầu tư toàn cầu, đồng thời tiếp tục đổi mới tư duy phát triển theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW, Việt Nam không chỉ mở rộng không gian phát triển kinh tế mới mà còn từng bước khẳng định vị thế là trung tâm sản xuất, đổi mới sáng tạo và kết nối chuỗi giá trị trong khu vực, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Tài liệu tham khảo
1. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.
2. Báo cáo thống kê tình hình kinh tế- xã hội hằng tháng và cả năm của Cục Thống kê giai đoạn năm 2021 - 2026.
3. Nye, Joseph S. (2011), The Future of Power. New York: PublicAffairs.
4. Huyền Trang (2018), Sức mạnh mềm trong chính sách đối ngoại của một số nước lớn và gợi ý cho Việt Nam. Học viện Ngoại giao.
Tin bài khác
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW
Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam
