Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Chính sách
Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
aa

Tóm tắt: Bài viết phân tích cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN và đánh giá tác động của cơ chế này đối với hoạt động giám sát, quản trị và phát triển của khu vực tài chính vi mô tại Việt Nam. Kết quả cho thấy cơ chế xếp hạng góp phần nâng cao tính minh bạch, tăng cường giám sát dựa trên rủi ro và thúc đẩy sự phát triển bền vững của các tổ chức tài chính vi mô. Trên cơ sở tham khảo kinh nghiệm quốc tế, bài viết đề xuất một số khuyến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện hệ thống xếp hạng, nâng cao hiệu quả quản lý và hỗ trợ thực hiện mục tiêu tài chính toàn diện tại Việt Nam.

Từ khóa: Thông tư số 65/2025/TT-NHNN, cơ chế xếp hạng, tổ chức tài chính vi mô.

ENHANCING THE RATING FRAMEWORK FOR MICROFINANCE INSTITUTIONS
UNDER CIRCULAR NO. 65/2025/TT-NHNN

Abstract: This article analyzes the rating framework for microfinance institutions under Circular No. 65/2025/TT-NHNN and assesses its implications for supervision, governance, and the development of the microfinance sector in Vietnam. The findings indicate that the rating mechanism enhances transparency, strengthens risk-based supervision, and supports the sustainable development of microfinance institutions. Drawing on international experience, the article proposes several recommendations to further refine the rating framework, improve regulatory effectiveness, and support the achievement of Vietnam’s financial inclusion objectives.

Keywords: Circular No. 65/2025/TT-NHNN, rating framework, microfinance institutions.

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Khuôn khổ pháp lý về xếp hạng các tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam

Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng được thành lập nhằm cung cấp các dịch vụ tài chính quy mô nhỏ cho người có thu nhập thấp, hộ nghèo, hộ cận nghèo, doanh nghiệp siêu nhỏ và các đối tượng khó tiếp cận nguồn vốn từ hệ thống ngân hàng truyền thống. Tại Việt Nam, mặc dù số lượng tổ chức tài chính vi mô chính thức còn chưa nhiều, song các tổ chức này đang đóng vai trò quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu tài chính toàn diện quốc gia thông qua việc mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng và các dịch vụ tài chính cơ bản cho nhóm khách hàng yếu thế, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa.

Thông tư số 65/2025/TT-NHNN đã thiết lập khuôn khổ xếp hạng thống nhất đối với các tổ chức tài chính vi mô nhằm phục vụ công tác quản lý nhà nước, thanh tra, giám sát và bảo đảm hoạt động an toàn, lành mạnh của các tổ chức này. Theo quy định tại Điều 3 và Điều 5, việc xếp hạng được thực hiện trên cơ sở kết hợp giữa các chỉ tiêu định lượng và định tính, bảo đảm phản ánh đầy đủ thực trạng hoạt động, mức độ an toàn, rủi ro và khả năng tuân thủ pháp luật của tổ chức tài chính vi mô. Hệ thống tiêu chí đánh giá bao gồm 5 nhóm tiêu chí cốt lõi là: (1) Vốn; (2) Chất lượng tài sản; (3) Quản trị, điều hành; (4) Kết quả hoạt động kinh doanh; và (5) Khả năng chi trả. Các tiêu chí này bao quát những nội dung trọng yếu trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô, từ năng lực tài chính, chất lượng danh mục tín dụng, hiệu quả quản trị, khả năng sinh lời đến năng lực thanh khoản, qua đó tạo cơ sở để NHNN đánh giá, phân loại tổ chức tài chính vi mô theo mức độ an toàn, rủi ro và áp dụng các biện pháp giám sát phù hợp với từng tổ chức.

Trên cơ sở tổng điểm đạt được, tổ chức tài chính vi mô được xếp vào một trong 4 mức, bao gồm: Hạng A (Tốt), hạng B (Khá), hạng C (Trung bình) và hạng D (Yếu). Đặc biệt, cơ cấu trọng số trong hệ thống xếp hạng cho thấy định hướng quản lý dựa trên rủi ro của NHNN khi quy định tỉ trọng cao nhất cho hai nhóm tiêu chí Chất lượng tài sản và Quản trị, điều hành, mỗi nhóm chiếm 30% tổng điểm xếp hạng, còn các tiêu chí về Vốn, Kết quả hoạt động kinh doanh và Khả năng chi trả lần lượt chiếm 20%, 10% và 10%. Quy định này đã phản ánh quan điểm cho rằng, chất lượng danh mục tín dụng và năng lực quản trị là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sự an toàn, khả năng chống chịu rủi ro và tính bền vững của tổ chức tài chính vi mô.

Xét trên phương diện quản lý, cơ chế xếp hạng được thiết kế theo hướng tiệm cận mô hình giám sát dựa trên rủi ro (risk-based supervision) đang được áp dụng phổ biến tại nhiều quốc gia, là cơ sở để cơ quan quản lý nhận diện sớm các tổ chức có dấu hiệu mất an toàn, xem xét áp dụng các biện pháp phù hợp với mức độ rủi ro của từng tổ chức.

Hiện nay, khu vực tài chính vi mô tại Việt Nam đang từng bước mở rộng quy mô hoạt động và khẳng định vai trò ngày càng quan trọng trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện. Các tổ chức tài chính vi mô như Tổ chức Tài chính vi mô Tình Thương (TYM), Tổ chức Tài chính vi mô M7 (M7), Tổ chức Tài chính vi mô Thanh Hóa… đang cung cấp các dịch vụ tài chính hướng tới người có thu nhập thấp, hộ nghèo, hộ cận nghèo và các nhóm dân cư yếu thế, đặc biệt tại khu vực nông thôn và vùng khó khăn.

Trong đó, TYM là một trong những tổ chức tài chính vi mô có quy mô hoạt động lớn nhất tại Việt Nam. Theo Báo cáo thường niên năm 2025, TYM hiện phục vụ hơn 300.000 khách hàng với dư nợ cho vay đạt khoảng 3.070 tỉ đồng, tổng giá trị giải ngân trong năm 2025 đạt hơn 4.816 tỉ đồng và số dư tiền tiết kiệm của khách hàng đạt gần 2.600 tỉ đồng. Tổ chức này cũng tiếp tục đẩy mạnh chuyển đổi số và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho phụ nữ có thu nhập thấp tại nhiều địa phương trên cả nước.

Bên cạnh TYM, các tổ chức tài chính vi mô như M7 và Thanh Hóa cũng đang duy trì hoạt động cung cấp tín dụng vi mô, tiết kiệm và hỗ trợ tài chính cho các nhóm khách hàng có khả năng tiếp cận hạn chế đối với dịch vụ ngân hàng truyền thống. Tuy nhiên, cùng với xu hướng mở rộng quy mô hoạt động và gia tăng mức độ liên kết với hệ thống tài chính chính thức, yêu cầu hoàn thiện cơ chế giám sát dựa trên rủi ro, tăng cường năng lực quản trị, kiểm soát nội bộ và khả năng cảnh báo sớm đối với các tổ chức tài chính vi mô cũng ngày càng trở nên cần thiết nhằm bảo đảm sự phát triển an toàn và bền vững của khu vực tài chính vi mô trong dài hạn.

2. Tác động của Thông tư số 65/2025/TT-NHNN đối với hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Một là, góp phần nâng cao tính minh bạch và kỷ luật thị trường trong hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô

Thông qua việc lượng hóa các tiêu chí đánh giá về năng lực tài chính, chất lượng tài sản, quản trị điều hành và mức độ tuân thủ pháp luật, Thông tư số 65/2025/TT-NHNN tạo lập cơ sở thống nhất để đánh giá mức độ an toàn và rủi ro của từng tổ chức tài chính vi mô. Điều này không chỉ tạo động lực để các tổ chức nâng cao chất lượng quản trị và hiệu quả hoạt động mà còn giúp cơ quan quản lý tăng cường giám sát theo hướng dựa trên rủi ro, kịp thời phát hiện và xử lý các dấu hiệu suy giảm an toàn. Từ góc độ thị trường, cơ chế xếp hạng góp phần nâng cao tính minh bạch, tăng cường trách nhiệm tuân thủ và hình thành môi trường hoạt động lành mạnh, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững của khu vực tài chính vi mô.

Hai là, tạo cơ sở cho việc hoàn thiện phương thức giám sát dựa trên rủi ro đối với các tổ chức tài chính vi mô

Thông qua việc đánh giá và phân loại các tổ chức tài chính vi mô theo mức độ an toàn, lành mạnh và khả năng tuân thủ pháp luật, cơ chế xếp hạng cung cấp cho NHNN công cụ hỗ trợ nhận diện, đo lường và theo dõi rủi ro trong hoạt động của từng tổ chức. Trên cơ sở kết quả xếp hạng, cơ quan quản lý có thể ưu tiên nguồn lực thanh tra, giám sát đối với các tổ chức có chất lượng tài sản suy giảm, năng lực quản trị hạn chế hoặc tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thay vì áp dụng cách tiếp cận giám sát đồng đều đối với toàn bộ hệ thống. Cách tiếp cận này phù hợp với xu hướng giám sát dựa trên rủi ro đang được nhiều cơ quan quản lý tài chính trên thế giới áp dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực, tăng cường khả năng cảnh báo sớm và hỗ trợ can thiệp kịp thời đối với các rủi ro phát sinh.

Đối với Việt Nam, việc bổ sung cơ chế xếp hạng đối với tổ chức tài chính vi mô có ý nghĩa quan trọng trong bối cảnh yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngày càng cao trong khi nguồn lực giám sát cần được phân bổ theo hướng trọng tâm, trọng điểm và phù hợp với mức độ rủi ro của từng tổ chức.

Ba là, tạo điều kiện nâng cao năng lực hoạt động và khả năng phát triển bền vững của các tổ chức tài chính vi mô

Việc thiết lập cơ chế đánh giá và xếp hạng thống nhất không chỉ góp phần nâng cao mức độ an toàn và minh bạch trong hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô mà còn tạo động lực để các tổ chức này từng bước hoàn thiện năng lực quản trị, kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro theo các chuẩn mực cao hơn. Trong bối cảnh phần lớn tổ chức tài chính vi mô tại Việt Nam có quy mô hoạt động còn tương đối nhỏ và tập trung phục vụ các nhóm khách hàng có thu nhập thấp, việc duy trì uy tín, chất lượng hoạt động và khả năng chống chịu rủi ro có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của tổ chức.

Thông qua cơ chế xếp hạng, các tổ chức tài chính vi mô có thêm cơ sở để tự đánh giá, nhận diện những tồn tại trong hoạt động và xây dựng lộ trình cải thiện phù hợp. Kết quả xếp hạng cũng góp phần nâng cao mức độ tin cậy đối với các nhà tài trợ, đối tác phát triển và các tổ chức cung cấp nguồn vốn, từ đó tạo điều kiện thuận lợi hơn cho việc huy động nguồn lực và mở rộng hoạt động theo hướng an toàn, hiệu quả và bền vững.

3. Một số thách thức trong quá trình triển khai Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Thứ nhất, hệ thống tiêu chí xếp hạng chưa phản ánh đầy đủ đặc thù và mục tiêu hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Theo quy định của Thông tư số 65/2025/TT-NHNN, việc xếp hạng được thực hiện chủ yếu trên cơ sở các tiêu chí về vốn, chất lượng tài sản, quản trị điều hành, kết quả hoạt động kinh doanh, khả năng chi trả và mức độ tuân thủ pháp luật. Đây là những tiêu chí quan trọng để đánh giá mức độ an toàn, lành mạnh và năng lực quản trị của tổ chức tài chính vi mô. Tuy nhiên, hệ thống tiêu chí hiện hành chủ yếu tập trung vào khía cạnh tài chính và quản trị mà chưa xem xét đầy đủ các yếu tố phản ánh đặc thù của lĩnh vực tài chính vi mô như mức độ tiếp cận của người nghèo, phụ nữ, đồng bào dân tộc thiểu số, người dân khu vực nông thôn hoặc khả năng cung ứng dịch vụ cho các nhóm khách hàng có mức độ rủi ro cao.

Trong khi đó, kinh nghiệm quốc tế cho thấy hiệu quả hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô thường được đánh giá trên cơ sở kết hợp giữa tính bền vững tài chính và giá trị xã hội mà tổ chức tạo ra. Do đó, việc thiếu vắng các tiêu chí phản ánh tác động xã hội có thể dẫn đến xu hướng ưu tiên các mục tiêu an toàn tài chính và hiệu quả hoạt động hơn là khuyến khích mở rộng phạm vi phục vụ đối với các nhóm khách hàng yếu thế - vốn là một trong những đặc trưng cơ bản của mô hình tài chính vi mô.

Thứ hai, tạo áp lực đối với các tổ chức tài chính vi mô quy mô nhỏ

Việc đáp ứng đồng thời các yêu cầu về dữ liệu, báo cáo, kiểm soát nội bộ, quản lý rủi ro và tuân thủ pháp luật là điều kiện cần thiết để nâng cao chất lượng giám sát và bảo đảm an toàn hoạt động. Tuy nhiên, trong điều kiện nguồn lực tài chính, nhân sự và hạ tầng công nghệ còn hạn chế, một số tổ chức tài chính vi mô có thể gặp khó khăn trong quá trình triển khai các yêu cầu này. Nếu không được hỗ trợ thông qua lộ trình thực hiện phù hợp hoặc các giải pháp nâng cao năng lực, chi phí tuân thủ gia tăng có thể làm giảm hiệu quả hoạt động và ảnh hưởng đến khả năng mở rộng dịch vụ của các tổ chức tài chính vi mô, đặc biệt tại các địa bàn khó khăn và khu vực có mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính còn thấp.

Thứ ba, hiệu quả của cơ chế xếp hạng có thể bị hạn chế nếu kết quả chưa gắn được với các biện pháp quản lý và cơ chế khuyến khích phù hợp

Kết quả xếp hạng chủ yếu được sử dụng phục vụ công tác quản lý nhà nước, thanh tra và giám sát của NHNN. Tuy nhiên, Thông tư chưa quy định rõ mối liên hệ giữa kết quả xếp hạng với các cơ chế hỗ trợ, khuyến khích hoặc các biện pháp giám sát tương ứng đối với từng nhóm tổ chức. Trên thực tế, kinh nghiệm của nhiều quốc gia cho thấy hệ thống xếp hạng chỉ phát huy hiệu quả khi được sử dụng như một công cụ quản lý động, làm cơ sở cho việc áp dụng các biện pháp cảnh báo sớm, can thiệp sớm, tăng cường giám sát hoặc tạo điều kiện thuận lợi hơn đối với các tổ chức có kết quả xếp hạng tốt. Do đó, nếu kết quả xếp hạng chỉ dừng lại ở chức năng đánh giá mà chưa được tích hợp đầy đủ vào quá trình hoạch định chính sách và quản lý rủi ro, tác động thực tiễn của cơ chế này có thể chưa đạt được như kỳ vọng.

4. Kinh nghiệm quốc tế về xếp hạng tổ chức tài chính vi mô

4.1. Singapore

Singapore là một trong những quốc gia tiên phong áp dụng mô hình giám sát tài chính dựa trên rủi ro. Theo khuôn khổ đánh giá tác động và rủi ro của các định chế tài chính do Cơ quan Tiền tệ Singapore (Monetary Authority of Singapore - MAS) xây dựng, việc giám sát không chỉ dựa trên các chỉ tiêu tài chính mà còn tập trung đánh giá mức độ ảnh hưởng của từng định chế đối với hệ thống tài chính, các loại rủi ro trọng yếu mà tổ chức phải đối mặt, chất lượng quản trị doanh nghiệp, hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ và năng lực quản lý rủi ro của ban điều hành.

Trên cơ sở kết quả đánh giá, MAS phân loại các tổ chức theo mức độ rủi ro để xác định phạm vi, tần suất và mức độ giám sát phù hợp, đồng thời triển khai các biện pháp cảnh báo và can thiệp từ sớm đối với các tổ chức có dấu hiệu suy giảm an toàn. Như vậy, hệ thống đánh giá và xếp hạng chỉ thực sự phát huy hiệu quả khi được tích hợp vào quy trình giám sát thường xuyên và trở thành căn cứ cho việc phân bổ nguồn lực giám sát theo mức độ rủi ro của từng tổ chức.

4.2. Philippines

Philippines được đánh giá là một trong những quốc gia có khuôn khổ pháp lý về tài chính vi mô phát triển nhất khu vực Đông Nam Á. Ngân hàng Trung ương Philippines (Bangko Sentral ng Pilipinas - BSP) là một trong những cơ quan quản lý đầu tiên trong khu vực chính thức lồng ghép tài chính vi mô vào hệ thống ngân hàng và áp dụng phương thức giám sát dựa trên rủi ro đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính vi mô. Theo đó, BSP yêu cầu các tổ chức xây dựng hệ thống quản trị, kiểm soát nội bộ và quản lý rủi ro phù hợp với quy mô, tính chất và mức độ phức tạp của hoạt động, đồng thời thực hiện giám sát theo nguyên tắc tương xứng.

Bên cạnh việc đánh giá các chỉ tiêu về an toàn vốn, chất lượng tài sản và khả năng thanh khoản, BSP còn chú trọng theo dõi mức độ tiếp cận dịch vụ tài chính của các nhóm khách hàng thu nhập thấp, khu vực nông thôn và các đối tượng dễ bị tổn thương. Như vậy, việc kết hợp giữa yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động với mục tiêu mở rộng khả năng tiếp cận tài chính có thể giúp nâng cao hiệu quả giám sát, đồng thời duy trì vai trò xã hội đặc thù của các tổ chức tài chính vi mô.

4.3. Bangladesh

Bangladesh là một trong những quốc gia có hệ sinh thái tài chính vi mô phát triển nhất thế giới với sự hiện diện của nhiều định chế nổi tiếng như Ngân hàng Grameen và Tổ chức Phát triển Nông thôn Bangladesh. Dưới sự quản lý của Cơ quan Quản lý Tín dụng vi mô Bangladesh, hoạt động của các định chế tài chính vi mô được theo dõi không chỉ trên phương diện năng lực tài chính và chất lượng tín dụng mà còn thông qua mức độ đóng góp đối với công tác giảm nghèo, nâng cao vị thế kinh tế của phụ nữ và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính của các nhóm dân cư dễ bị tổn thương.

Thực tiễn tại Bangladesh cho thấy việc đánh giá khu vực tài chính vi mô cần được thực hiện theo hướng hài hòa giữa yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động và việc tạo ra các giá trị kinh tế - xã hội cho cộng đồng. Đây là kinh nghiệm có ý nghĩa tham khảo đối với Việt Nam trong quá trình hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, đặc biệt khi nghiên cứu bổ sung các tiêu chí phản ánh tác động xã hội bên cạnh các chỉ tiêu về năng lực tài chính, chất lượng tài sản và quản trị điều hành.

5. Một số đề xuất kiến nghị nâng cao hiệu quả xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quốc tế, có thể thấy, mặc dù cách thức quản lý và giám sát tổ chức tài chính vi mô có sự khác biệt tùy thuộc vào điều kiện phát triển của từng quốc gia, song các quốc gia này đều chú trọng xây dựng cơ chế đánh giá và giám sát theo hướng dựa trên rủi ro, đồng thời bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu an toàn hoạt động và mục tiêu phát triển của khu vực tài chính vi mô.

Tại Việt Nam, Thông tư số 65/2025/TT-NHNN đã bước đầu thiết lập khuôn khổ xếp hạng tương đối toàn diện đối với các tổ chức tài chính vi mô. Tuy nhiên, từ những vấn đề đặt ra trong quá trình triển khai, Việt Nam vẫn cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện một số nội dung nhằm nâng cao hiệu quả của cơ chế xếp hạng giúp tăng cường chất lượng giám sát và thúc đẩy sự phát triển an toàn, bền vững của khu vực tài chính vi mô trong thời gian tới. Theo đó, một số kiến nghị cụ thể được đề xuất như sau:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống tiêu chí xếp hạng theo hướng phản ánh đầy đủ đặc thù của lĩnh vực tài chính vi mô

Kinh nghiệm của Bangladesh và Philippines cho thấy việc đánh giá các định chế tài chính vi mô không chỉ tập trung vào các chỉ số phản ánh mức độ an toàn, năng lực tài chính và chất lượng quản trị mà còn quan tâm đến những giá trị xã hội mà các tổ chức này mang lại cho cộng đồng. Vì vậy, bên cạnh các tiêu chí hiện hành, NHNN cần xem xét nghiên cứu bổ sung một số chỉ tiêu liên quan đến mức độ bao phủ dịch vụ tại khu vực nông thôn, vùng khó khăn, khả năng phục vụ hộ nghèo, phụ nữ và các đối tượng dễ bị tổn thương. Cách tiếp cận này sẽ giúp cơ chế xếp hạng phản ánh toàn diện hơn vai trò và đặc trưng của mô hình tài chính vi mô, bảo đảm sự hài hòa giữa yêu cầu quản lý an toàn hoạt động và chức năng hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội của khu vực này.

Thứ hai, tăng cường sử dụng kết quả xếp hạng làm cơ sở triển khai cơ chế giám sát dựa trên rủi ro

Kết quả xếp hạng theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN cần được tích hợp vào hoạt động thanh tra, giám sát nhằm phân loại các tổ chức tài chính vi mô theo mức độ rủi ro và áp dụng các biện pháp quản lý tương ứng. Theo đó, cơ quan quản lý có thể ưu tiên nguồn lực giám sát đối với các tổ chức có chất lượng tài sản suy giảm, năng lực quản trị hạn chế hoặc được xếp hạng thấp, đồng thời đơn giản hóa yêu cầu giám sát đối với các tổ chức hoạt động ổn định và có mức độ rủi ro thấp. Điều này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tăng cường khả năng cảnh báo sớm và bảo đảm an toàn hoạt động của khu vực tài chính vi mô.

Thứ ba, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác thu thập dữ liệu, xếp hạng và giám sát tổ chức tài chính vi mô

Để bảo đảm hiệu quả triển khai cơ chế xếp hạng theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN, NHNN cần tiếp tục hoàn thiện hạ tầng dữ liệu phục vụ công tác thanh tra, giám sát, chuẩn hóa hệ thống báo cáo điện tử và tăng cường các công cụ giám sát từ xa đối với tổ chức tài chính vi mô. Việc xây dựng cơ sở dữ liệu tập trung và ứng dụng công nghệ trong phân tích, xử lý thông tin không chỉ góp phần nâng cao tính chính xác, kịp thời của kết quả xếp hạng mà còn hỗ trợ cơ quan quản lý tăng cường khả năng cảnh báo sớm, phát hiện và xử lý các rủi ro phát sinh trong hoạt động. Đây cũng là giải pháp quan trọng nhằm giảm chi phí tuân thủ, nâng cao hiệu quả báo cáo và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tài chính vi mô trong quá trình thực hiện các yêu cầu quản lý, giám sát theo quy định.

Thứ tư, tăng cường hợp tác quốc tế nhằm nâng cao năng lực quản trị và quản lý rủi ro của các tổ chức tài chính vi mô

Chất lượng quản trị, hệ thống kiểm soát nội bộ và năng lực quản lý rủi ro là những yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động và mức độ an toàn của các tổ chức tài chính vi mô. Vì vậy, bên cạnh việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, kiến nghị cần tăng cường hợp tác với các tổ chức quốc tế và các đối tác phát triển để hỗ trợ đào tạo, chuyển giao kinh nghiệm quản trị, ứng dụng công nghệ và nâng cao năng lực quản lý rủi ro cho các tổ chức tài chính vi mô, tạo điều kiện để các tổ chức đáp ứng tốt hơn các yêu cầu của cơ chế xếp hạng theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN và phát triển theo hướng an toàn, bền vững.

6. Kết luận

Thông tư số 65/2025/TT-NHNN đã tạo dựng nền tảng pháp lý quan trọng cho việc đánh giá và giám sát các tổ chức tài chính vi mô theo hướng tiếp cận dựa trên rủi ro, phù hợp với xu hướng quản lý hiện đại trên thế giới. Việc thiết lập hệ thống xếp hạng thống nhất không chỉ góp phần nâng cao an toàn hoạt động của các tổ chức tài chính vi mô mà còn hỗ trợ thực hiện mục tiêu tài chính toàn diện quốc gia. Tuy nhiên, để cơ chế này phát huy hiệu quả cao nhất trong thực tiễn, cần tiếp tục hoàn thiện hệ thống tiêu chí đánh giá theo hướng cân bằng giữa an toàn tài chính và tác động xã hội, đồng thời tăng cường ứng dụng công nghệ và triển khai các biện pháp giám sát phù hợp với đặc thù của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam. Qua đó, khu vực tài chính vi mô sẽ có điều kiện phát triển bền vững hơn, đóng góp tích cực vào quá trình giảm nghèo và thúc đẩy tăng trưởng bao trùm trong giai đoạn tới.

Tài liệu tham khảo

1. BSP (2024), Financial Inclusion and Microfinance.

2. Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2024 (sửa đổi, bổ sung năm 2025).

3. Microcredit Regulatory Authority (2024), Annual Report 2023 - 2024.

4. MAS (2024), Framework for Impact and Risk Assessment of Financial Institutions.

5. Thông tư số 65/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc NHNN quy định về xếp hạng tổ chức tài chính vi mô.

Phạm Anh Khoa
Quyền Trưởng phòng giám sát, NHNN Chi nhánh Khu vực 1

Tin bài khác

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Xem thêm
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng