Xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, minh bạch, bảo vệ quyền lợi và tài sản của khách hàng

Công nghệ & ngân hàng số
Khẳng định quyết tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong việc xây dựng một hệ sinh thái tài chính số an toàn, minh bạch, bảo vệ tối đa quyền lợi và tài sản của khách hàng trước những thách thức về an ninh mạng, ngày 31/12/2025, Thống đốc NHNN đã ký ban hành Thông tư số 77/2025/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN ngày 31/10/2024 quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng.
aa
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/3/2026. Đối tượng áp dụng của Thông tư là các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động, công ty thông tin tín dụng. Thông tư được ban hành đã tiếp tục hoàn thiện và đồng bộ hành lang pháp lý về an toàn, bảo mật hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng.

Hàng rào bảo mật được tăng cường với những quy định kỹ thuật nghiêm ngặt

Trước thực trạng tội phạm lợi dụng tài khoản doanh nghiệp “ma” và các công nghệ tinh vi như Deepfake hay mã độc để lừa đảo, Thông tư số 77/2025/TT-NHNN đã thiết lập cơ chế phòng vệ chủ động bằng cách bổ sung các quy định kỹ thuật nghiêm ngặt.

Điểm nổi bật là Thông tư bổ sung hoạt động cung ứng dịch vụ Tiền di động vào phạm vi điều chỉnh (tại Điều 1), đồng thời siết chặt an ninh ứng dụng ngân hàng và tăng yêu cầu xác thực đối với nhóm khách hàng tổ chức mới trong các giao dịch trực tuyến.

Theo đó, các tổ chức cung ứng dịch vụ Tiền di động sẽ phải tuân thủ yêu cầu về an toàn, bảo mật tương tự như tổ chức tín dụng và tổ chức trung gian thanh toán. Quy định này nhằm bảo đảm sự thống nhất trong quản lý rủi ro, đặc biệt trong bối cảnh tiền di động ngày càng được sử dụng rộng rãi cho thanh toán và chuyển tiền điện tử.

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN cũng bổ sung khái niệm “khách hàng tổ chức mới”, cụ thể, theo Điều 2 của Thông tư:

“Khách hàng tổ chức mới là tổ chức mới đăng ký thành lập trong vòng 12 tháng hoặc tổ chức mới thiết lập quan hệ với đơn vị trong vòng 12 tháng và được đơn vị thực hiện đánh giá rủi ro, xác định thời gian cần áp dụng hình thức khớp đúng thông tin sinh trắc học hoặc chữ ký điện tử an toàn cho khách hàng này khi thực hiện giao dịch. Quy định này không bao gồm: a) Các cơ quan nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập; b) Các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; c) Các tổ chức niêm yết theo quy định tại Luật Chứng khoán; d) Các tổ chức thuộc danh sách Fortune Global 500 do Tạp chí Fortune công bố vào năm liền trước; đ) Nhà đầu tư nước ngoài là người không cư trú mở tài khoản thanh toán để thực hiện hoạt động đầu tư gián tiếp tại Việt Nam; e) Các tổ chức khác do đơn vị lựa chọn và chịu hoàn toàn trách nhiệm về các rủi ro từ việc lựa chọn này. Đơn vị phải bảo đảm xác minh chính xác về khách hàng và chịu hoàn toàn trách nhiệm đối với việc nhận biết khách hàng”.

Liên quan đến an toàn ứng dụng ngân hàng, khoản 1 Điều 5 Thông tư siết chặt việc kiểm soát các phiên bản Mobile Banking được phát hành. Theo đó, định kỳ tối thiểu 03 tháng một lần, đơn vị phải đánh giá an toàn, bảo mật của các phiên bản phần mềm ứng dụng đang cho phép khách hàng cài đặt, sử dụng nhằm xác định các lỗ hổng bảo mật và đánh giá khả năng bị can thiệp bởi tội phạm mạng.

Trong trường hợp khách hàng kích hoạt trên thiết bị mới hoặc kích hoạt loại ứng dụng Mobile Banking, khách hàng phải cài đặt, sử dụng phiên bản mới nhất hoặc phiên bản gần nhất bảo đảm các yêu cầu về an toàn, bảo mật theo quy định. Đơn vị phải có giải pháp kiểm soát không cho phép hạ phiên bản (downgrading) xuống sử dụng các phiên bản thấp hơn trong trường hợp này.

Khi phát hiện lỗ hổng bảo mật được đánh giá ở mức cao hoặc nghiêm trọng, đơn vị phải có biện pháp kiểm tra, không cho thực hiện giao dịch hoặc có các biện pháp kiểm soát nhằm phòng, chống tội phạm lợi dụng lỗ hổng bảo mật để tấn công mạng, thực hiện giao dịch gian lận và chiếm đoạt tài sản; đồng thời đơn vị phải thực hiện xử lý, khắc phục, cập nhật ngay phiên bản mới trong thời gian quy định tại khoản 6 Điều 14 Thông tư này.

Ngoài ra, tại khoản 2 Điều 5 Thông tư cũng yêu cầu các tổ chức tín dụng và đơn vị cung cấp dịch vụ thanh toán triển khai giải pháp phòng, chống và phát hiện các hành vi can thiệp trái phép vào ứng dụng Mobile Banking đã cài đặt trên thiết bị của khách hàng.

Theo đó, ứng dụng Mobile Banking phải tự động thoát hoặc dừng hoạt động và thông báo rõ lý do cho khách hàng khi phát hiện một trong ba dấu hiệu rủi ro:

Thứ nhất, có trình gỡ lỗi (debugger) được gắn vào hoặc môi trường có trình gỡ lỗi đang hoạt động; hoặc khi ứng dụng chạy trong môi trường giả lập (emulator)/máy ảo/thiết bị giả lập; hoặc hoạt động ở chế độ cho phép máy tính giao tiếp trực tiếp với thiết bị Android (Android Debug Bridge).

Thứ hai, phần mềm ứng dụng bị chèn mã bên ngoài ứng dụng khi đang chạy, thực hiện các hành vi như theo dõi các hàm được chạy, ghi lại log dữ liệu truyền qua các hàm, API… (hook); hoặc phần mềm ứng dụng bị can thiệp, đóng gói lại (repacking).

Thứ ba, thiết bị đã bị phá khóa (root/jailbreak); hoặc bị mở khóa cơ chế bảo vệ (unlock bootloader).

Để đối phó với các hình thức tấn công ngày càng tinh vi, đặc biệt là tấn công bằng trí tuệ nhân tạo như Deepfake, Thông tư quy định giải pháp phát hiện giả mạo thông tin sinh trắc học (PAD) phải đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế ISO 30107 cấp độ 2 hoặc tiêu chuẩn tương đương. Các tổ chức cung cấp giải pháp này phải được các tổ chức uy tín như Liên minh FIDO công nhận (theo Điều 7 của Thông tư).

Hoàn thiện hạ tầng công nghệ phục vụ chuyển đổi số, tăng cường kết nối dữ liệu

Bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống công nghệ thông tin, quyền lợi hợp pháp của khách hàng là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng của ngành Ngân hàng, thời gian qua, ngành Ngân hàng đã triển khai đồng bộ nhiều giải pháp cụ thể:

Về hành lang pháp lý, NHNN đã ban hành được một hệ thống các văn bản quy định về an ninh, an toàn, bảo mật đối với các hệ thống thông tin cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử. Bên cạnh đó, cơ quan quản lý cũng thường xuyên có các văn bản chỉ đạo, cảnh báo đến các tổ chức tín dụng, trung gian thanh toán về tình hình tội phạm lừa đảo trên không gian mạng liên quan đến lĩnh vực Ngân hàng.

Bên cạnh đó, NHNN đã và đang chỉ đạo, tổ chức triển khai làm sạch dữ liệu khách hàng, loại bỏ các tài khoản ngân hàng không chính chủ. Cụ thể, NHNN đã ban hành các Thông tư hướng dẫn Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của NHNN về thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó có quy định bắt buộc khách hàng chỉ được rút tiền, thực hiện giao dịch thanh toán bằng phương tiện điện tử khi đã hoàn thành việc đối chiếu khớp đúng giấy tờ tùy thân và thông tin sinh trắc học với: (i) Dữ liệu sinh trắc học được lưu trong chíp của thẻ căn cước công dân (CCCD) đã được xác thực chính xác là do cơ quan Công an cấp hoặc thông qua xác thực tài khoản định danh điện tử do Hệ thống định danh và xác thực điện tử tạo lập; (ii) Dữ liệu sinh trắc học được thu thập thông qua gặp mặt trực tiếp đối với trường hợp là người nước ngoài không sử dụng danh tính điện tử, người gốc Việt Nam chưa xác định được quốc tịch. Đối với khách hàng cá nhân: Áp dụng từ ngày 01/01/2025; đối với khách hàng tổ chức: Áp dụng từ ngày 01/7/2025.

NHNN và các tổ chức tín dụng đã và đang triển khai nhiều giải pháp về mặt quy trình và công nghệ nhằm phòng, chống lừa đảo, gian lận trong lĩnh vực ngân hàng. Đồng thời, các tổ chức tín dụng đã và đang tích cực phối hợp với các đơn vị của Bộ Công an triển khai các giải pháp công nghệ ứng dụng dữ liệu dân cư theo định hướng tại Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030) nhằm làm sạch dữ liệu khách hàng, loại bỏ các tài khoản ngân hàng không chính chủ. Tính đến ngày 26/12/2025, cả ngành Ngân hàng đã có hơn 143 triệu hồ sơ khách hàng (CIF) cá nhân; hơn 1,5 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức có tài khoản thanh toán đã được đối chiếu thông tin sinh trắc học qua CCCD gắn chíp hoặc ứng dụng VNeID. Khoảng 22,14 triệu khách hàng cá nhân và 392 khách hàng tổ chức có ví điện tử đang hoạt động đã được thu thập, đối chiếu thông tin sinh trắc học với CCCD gắn chíp thông qua ứng dụng ví điện tử.

Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng đã tích cực triển khai các biện pháp xác thực đa thành tố, xác thực mạnh bằng sinh trắc học (qua dữ liệu CCCD gắn chíp, VNeID); triển khai tích hợp các biện pháp bảo vệ tăng cường như: Áp dụng các cơ chế giám sát, phòng chống giao dịch bất thường, giao dịch gian lận (Antifraud) đối với kênh ngân hàng điện tử để có cảnh báo sớm và biện pháp ngăn chặn kịp thời với các giao dịch đáng ngờ của khách hàng. Thực hiện nhận diện khách hàng (KYC) đối với các giao dịch nhạy cảm như chuyển tiền số lượng lớn, kích hoạt lại thiết bị mới...

Đặc biệt, NHNN đã nghiên cứu xây dựng và đưa vào vận hành Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận cho khách hàng (SIMO). Hệ thống SIMO cho phép các tổ chức thành viên tham gia thực hiện báo cáo thông tin về các tài khoản đáng ngờ khi phát hiện và chia sẻ thông tin tới các thành viên khác. Trên cơ sở nguồn dữ liệu tập trung của hệ thống SIMO và nguồn dữ liệu về danh sách tài khoản đã tham gia vào quá trình luân chuyển dòng tiền lừa đảo đã được Bộ Công an thu thập, các tổ chức tín dụng có thể đưa ra các quyết định thực hiện ngăn chặn giao dịch ngay lập tức hoặc yêu cầu xác thực, định danh tài khoản trước thực hiện giao dịch trực tuyến. Theo Vụ Thanh toán, NHNN, tính đến ngày 19/12/2025, đã có 122/149 đơn vị báo cáo thành công lên hệ thống, với tổng số 596 nghìn bản ghi tài khoản thanh toán và ví điện tử có dấu hiệu nghi ngờ gian lận, lừa đảo, vi phạm pháp luật. Hệ thống đã hỗ trợ cảnh báo hơn 2,26 triệu lượt khách hàng, trong đó trên 700 nghìn lượt khách hàng đã tạm dừng hoặc hủy bỏ giao dịch sau khi nhận cảnh báo, với tổng giá trị giao dịch tương ứng hơn 2,78 nghìn tỉ đồng.

Đồng thời, ngành Ngân hàng đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến kiến thức, hướng dẫn người dân, doanh nghiệp hiểu rõ và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng trên nền tảng số một cách an toàn, đúng quy định pháp luật; đồng thời cảnh báo các thủ đoạn, hành vi tội phạm, lừa đảo phổ biến mới xuất hiện liên quan đến hoạt động ngân hàng.

Ngoài ra, ngành Ngân hàng đã phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an và các tổ chức liên quan trong công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và phòng, chống lừa đảo qua mạng trong ngành Ngân hàng.

Trước những thách thức về sự gia tăng tội phạm sử dụng công nghệ cao với nhiều chiêu trò lừa đảo trực tuyến ngày càng tinh vi trên quy mô toàn cầu, để tăng cường an ninh, an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu của chính ngân hàng và khách hàng, bảo đảm quyền lợi hợp pháp của khách hàng, ngành Ngân hàng cần tiếp tục triển khai đồng bộ các giải pháp trên; đồng thời đẩy mạnh đầu tư hạ tầng công nghệ bảo mật, phát triển nguồn nhân lực về công nghệ có tay nghề cao.

Theo đó, về mặt công nghệ, ngành Ngân hàng đẩy mạnh nghiên cứu, xây dựng kho dữ liệu dùng chung cho ngành Ngân hàng để hướng tới các quyết định dựa trên dữ liệu; tiến tới triển khai các hạ tầng tính toán, lưu trữ, dữ liệu, ứng dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây. Hoàn thiện hạ tầng công nghệ phục vụ chuyển đổi số, tăng cường kết nối, hợp tác với các ngành, lĩnh vực khác (kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cơ sở dữ liệu CCCD, các cơ sở dữ liệu chuyên ngành khác...) nhằm tạo thuận lợi cho việc tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin với các ngân hàng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán để mở rộng hệ sinh thái số và phát triển dịch vụ ngân hàng số, thanh toán số.

Triển khai mở rộng việc kết nối, khai thác hệ thống SIMO cũng như kết nối, khai thác nguồn dữ liệu về danh sách tài khoản đã tham gia vào quá trình luân chuyển dòng tiền lừa đảo được Bộ Công an thu thập, chia sẻ để cảnh báo đến khách hàng khi thực hiện các giao dịch thanh toán trực tuyến.

Các tổ chức tín dụng, trung gian thanh toán cần hoàn thành đối chiếu khớp đúng thông tin sinh trắc học của chủ tài khoản thanh toán, ví điện tử hoặc người đại diện hợp pháp; tăng cường sử dụng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo và các công nghệ mới nhằm cung cấp dịch vụ cá nhân hóa nâng cao trải nghiệm khách hàng; phát hiện giao dịch gian lận, lừa đảo; đẩy mạnh triển khai ngân hàng mở (Open Banking), giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) nhằm tạo ra nhiều sản phẩm, dịch vụ đổi mới sáng tạo phục vụ nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Tăng cường sử dụng dịch vụ, công nghệ mới để sớm phát hiện các vụ việc lộ, lọt thông tin tài khoản, xác thực của khách hàng trên mạng Internet cũng như có cơ chế nhanh chóng gỡ bỏ các website giả mạo. Huấn luyện đội ngũ cán bộ thành thạo và am hiểu quy trình xử lý với các vụ việc lừa đảo và cách ứng xử phù hợp với khách hàng.

Đồng thời, ngành Ngân hàng cần tiếp tục phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an và các bộ, ngành để triển khai các nhiệm vụ tại Đề án 06, Kế hoạch số 01/KHPH-BCA-NHNNVN (ký kết ngày 24/4/2023 giữa Bộ Công an và NHNN về triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án 06); phối hợp trong công tác phòng, chống tội phạm sử dụng công nghệ cao và lừa đảo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng; tiếp tục đẩy mạnh truyền thông, thông tin đến khách hàng dưới nhiều hình thức để hướng dẫn, nâng cao nhận thức, kỹ năng cho khách hàng trong sử dụng dịch vụ ngân hàng trên môi trường mạng.

Tài liệu tham khảo

1. Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

2. Quyết định số 630/QĐ-NHNN ngày 31/3/2017 về việc ban hành Kế hoạch áp dụng các giải pháp về an toàn bảo mật trong thanh toán trực tuyến và thanh toán thẻ ngân hàng.

3. Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN ngày 31/10/2024 của Thống đốc NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng.

Hà Trang (NHNN)

Tin bài khác

Ứng dụng phân tích dữ liệu và học máy nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ chống rửa tiền trong ngân hàng

Ứng dụng phân tích dữ liệu và học máy nhằm nâng cao hiệu quả tuân thủ chống rửa tiền trong ngân hàng

Bài viết phân tích vai trò của phân tích dữ liệu và học máy trong nâng cao hiệu quả tuân thủ chống rửa tiền tại ngân hàng, qua đó giúp cải thiện độ chính xác phát hiện giao dịch đáng ngờ, giảm cảnh báo giả và hỗ trợ chuyển đổi từ cách tiếp cận phản ứng sang chủ động theo các chuẩn mực quốc tế.
Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Thành công trong chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2025 - Nền tảng cho phát triển an toàn, bền vững hệ thống tài chính

Chuyển đổi số đang trở thành xu thế tất yếu và là động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Đối với ngành Ngân hàng, chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu nội tại nhằm hiện đại hóa hoạt động quản lý, điều hành và kinh doanh, mà còn giữ vai trò then chốt trong việc thúc đẩy kinh tế số, tài chính toàn diện và cải cách hành chính.
Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Mở rộng hệ sinh thái số - Gia tăng tiện ích, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng

Với quan điểm tiếp cận lấy người dân làm trung tâm và sự thuận tiện, trải nghiệm của người sử dụng dịch vụ là thước đo, ngành Ngân hàng đã thực hiện nhiều giải pháp thúc đẩy chuyển đổi số trong giai đoạn mới và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu chuyển đổi số quốc gia. Thời gian tới, toàn Ngành tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ thông tin, triển khai ứng dụng các giải pháp đảm bảo an ninh, bảo mật, tăng cường khả năng kết nối, liên thông dữ liệu, tích hợp dịch vụ giữa ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác, mở rộng hệ sinh thái số để gia tăng tiện ích, trải nghiệm khách hàng.
Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và khả năng tiếp cận tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số

Bài viết tập trung làm rõ những rào cản trong tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp đổi mới sáng tạo trong bối cảnh chuyển đổi số, đồng thời đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính - ngân hàng theo hướng đồng hành, hỗ trợ hiệu quả hơn cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển bền vững.
Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Xu hướng hình thành các quỹ thị trường tiền mã hóa

Ngân hàng Thanh toán Quốc tế (BIS) vừa công bố tài liệu giới thiệu cơ bản về các quỹ thị trường tiền mã hóa (TMMF). Bài viết đánh giá tiềm năng sử dụng, giải thích mô hình hoạt động của các quỹ cơ bản, ghi chép tốc độ và cấu thành thị trường TMMF. Theo đó, bài viết cũng giải thích các nguồn và gợi ý các mối liên kết TMMF với Stablecoins (một loại tiền điện tử được gắn với một giá trị tham chiếu, phổ biến nhất là đồng USD), nhấn mạnh rủi ro hoạt động liên quan đến sai lệch thanh khoản, khả năng kết nối và vận hành.
Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Ứng dụng công nghệ Blockchain trong hoạt động ngân hàng: Nghiên cứu tình huống và bằng chứng thực nghiệm

Bài viết tổng hợp và phân tích các nghiên cứu thực nghiệm nhằm làm rõ tác động của công nghệ Blockchain đối với hiệu quả hoạt động, an ninh và tính minh bạch trong lĩnh vực ngân hàng, đồng thời chỉ ra những thách thức và hàm ý chính sách trong quá trình triển khai công nghệ này.
Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt vượt nhiều mục tiêu đề ra

Bài viết khái quát những kết quả nổi bật của hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (TTKDTM) tại Việt Nam, qua đó cho thấy nhiều chỉ tiêu đã vượt mục tiêu đề ra, đồng thời phân tích những thách thức đặt ra và định hướng giải pháp thúc đẩy thanh toán số gắn với chuyển đổi số quốc gia trong thời gian tới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong ngành Ngân hàng và những dự báo chiến lược cho tương lai

Thành công của việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong ngành Ngân hàng không chỉ phụ thuộc vào tiến bộ công nghệ mà còn vào khả năng thiết kế lại các thể chế kinh tế, chuẩn mực xã hội và chính sách công để đảm bảo rằng những lợi ích to lớn từ AI được phân phối công bằng và phục vụ cho phúc lợi chung của xã hội.
Xem thêm
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính

Bài viết phân tích và đánh giá khuôn khổ pháp luật hiện hành về quản lý viện trợ không hoàn lại trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính, qua đó chỉ ra những bất cập còn tồn tại và đề xuất định hướng hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và sử dụng nguồn lực viện trợ tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Hoàn thiện khung pháp lý về thị trường carbon tại Việt Nam: Góc nhìn từ định chế tài chính và quản trị rủi ro ngân hàng

Bài viết phân tích những khoảng trống pháp lý trong quá trình hình thành thị trường carbon tại Việt Nam, trên cơ sở so sánh kinh nghiệm từ Liên minh châu Âu (EU) và Trung Quốc, qua đó đề xuất hoàn thiện khung khổ pháp lý nhằm bảo đảm sự vận hành ổn định, minh bạch của thị trường và hạn chế rủi ro đối với lĩnh vực tài chính - ngân hàng.
Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khung pháp lý cho hoạt động cung cấp dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bài viết phân tích khoảng trống pháp lý đối với dịch vụ lưu ký tài sản mã hóa tại ngân hàng thương mại (NHTM) ở Việt Nam, đồng thời đề xuất khung pháp lý nhằm bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ khách hàng và tạo nền tảng cho sự phát triển minh bạch của thị trường tài sản số.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 57/2025/TT-NHNN quy định các hạn chế, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tài chính vi mô

Thông tư số 49/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng

Thông tư số 48/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của một số Thông tư của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong lĩnh vực quản lý, giám sát ngân hàng liên quan đến cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 47/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Hướng dẫn thủ tục chấp thuận của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đối với việc niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán nước ngoài của tổ chức tín dụng cổ phần

Thông tư số 46/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định quản lý và sử dụng mạng máy tính của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 45/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 18/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng

Thông tư số 44/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 07/2024/TT-NHNN quy định về hoạt động đại lý thanh toán

Thông tư số 43/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 08/2022/TT-NHNN quy định về trình tự, thủ tục giám sát ngân hàng