Ứng dụng công nghệ số và kết nối dữ liệu - Gia tăng tiện ích cho khách hàng

Công nghệ & ngân hàng số
Nhằm phát triển và cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng theo hướng cá thể hóa, tiện ích, phù hợp với nhu cầu và hành vi của từng nhóm khách hàng; đồng thời phòng ngừa gian lận, bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật thông tin và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng, thời gian tới, ngành Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu hiện có, đặc biệt là kết nối Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDV).
aa

Có thể nói, Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030) có tác động mạnh mẽ đến ngành Ngân hàng, giúp xác thực danh tính khách hàng hiệu quả hơn, từ đó làm sạch dữ liệu, loại bỏ tài khoản ảo, tăng cường an toàn trong phòng, chống lừa đảo, thúc đẩy thanh toán không tiền mặt, góp phần kiến tạo hệ sinh thái tài chính số, mang lại tiện ích lớn cho người dân và doanh nghiệp. Ngân hàng cũng là ngành tiên phong ứng dụng dữ liệu dân cư để nâng cao chất lượng dịch vụ và bảo mật, góp phần phát triển kinh tế số, xã hội số.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Từ hoàn thiện pháp lý đến kết nối dữ liệu, mở rộng hệ sinh thái số

Trong giai đoạn 2022 - 2025, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành 06 kế hoạch thực hiện Đề án 06 và hơn 21 văn bản chỉ đạo thực hiện. Trong việc rà soát, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật để ứng dụng Định danh điện tử quốc gia (VNeID) trong công tác chuyển đổi số, NHNN đã hoàn thành triển khai từ năm 2024. Tại các thông tư (như Thông tư quy định về việc quản lý, sử dụng chữ ký số, chứng thư số và dịch vụ chứng thực chữ ký số của NHNN1; Thông tư quy định việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán2; Thông tư quy định về hoạt động thẻ ngân hàng3; Thông tư quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán (TGTT)4… đã bổ sung quy định trường hợp khách hàng có tài khoản VNeID, ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài không yêu cầu khách hàng phải cung cấp các tài liệu, thông tin, dữ liệu đã được tích hợp trên VNeID.

Về kết nối CSDLQGvDC với các nghiệp vụ của NHNN: NHNN đã triển khai hệ thống kết nối, khai thác CSDLQGvDC cho hệ thống dịch vụ công trực tuyến (cấp chứng thư số) từ tháng 12/2022. Đến ngày 14/12/2025, hệ thống đã kết nối, khai thác dữ liệu dân cư phục vụ xử lý hơn 1.739 lượt hồ sơ.

Nhờ ứng dụng số hóa, công tác cải cách hành chính được nâng cao rõ rệt, nhiều năm liên tiếp NHNN thuộc top dẫn đầu bảng xếp hạng Par Index của các bộ, ngành. Thời gian qua, NHNN đã triển khai cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính theo Đề án 06; trong năm 2025, NHNN tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa 269/298 thủ tục hành chính, đạt 90,3%, cắt giảm 255 điều kiện kinh doanh, thay thế hồ sơ giấy bằng dữ liệu đối với 21 thủ tục. Đồng thời, NHNN đã chính thức cung cấp thêm 32 dịch vụ công toàn trình, nâng tổng số đã cung cấp lên 57 dịch vụ, hoàn thành nhiệm vụ 100% thủ tục hành chính đủ điều kiện liên quan đến doanh nghiệp được nâng cấp lên dịch vụ công toàn trình.

Trong triển khai kết nối, khai thác CSDLQGvDC liên quan đến nghiệp vụ thông tin tín dụng, phòng, chống rửa tiền, NHNN đã phối hợp với các đơn vị thuộc Bộ Công an kiểm tra an toàn bảo mật hệ thống trước khi kết nối CSDLQGvDC.

Thực hiện Đề án 06, ngành Ngân hàng xác định dữ liệu dân cư là "nguồn tài nguyên vàng" để làm sạch và chuẩn hóa dữ liệu Ngành. Công tác làm sạch dữ liệu được phối hợp chặt chẽ với Bộ Công an, bảo đảm dữ liệu luôn "đúng, đủ, sạch, sống".

NHNN đã chỉ đạo các tổ chức tín dụng (TCTD), chi nhánh ngân hàng nước ngoài, tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT nghiên cứu, ứng dụng dữ liệu về dân cư, căn cước công dân (CCCD) gắn chíp, tài khoản VNeID để làm sạch dữ liệu, nhận biết, xác minh chính xác khách hàng nhằm phòng chống, ngăn ngừa việc tội phạm mạo danh, sử dụng giấy tờ tùy thân giả mạo đăng ký sử dụng dịch vụ ngân hàng cho mục đích bất hợp pháp; đồng thời nghiên cứu ứng dụng dữ liệu dân cư trong triển khai các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng thuận tiện, an toàn nhất đến với người dân, khách hàng.

Thực hiện Kế hoạch triển khai Đề án 06 của ngành Ngân hàng và Kế hoạch phối hợp giữa Bộ Công an và NHNN, nhiều TCTD, TGTT đã và đang phối hợp với C06 (Cục Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Bộ Công an) triển khai mở rộng giải pháp xác thực khách hàng qua thẻ CCCD gắn chíp và triển khai giải pháp xác thực khách hàng qua ứng dụng VNeID trong việc mở tài khoản và sử dụng các dịch vụ ngân hàng điện tử.

Tính đến hết ngày 31/12/2025, cả ngành Ngân hàng đã có hơn 143 triệu hồ sơ khách hàng (CIF) cá nhân; hơn 1,5 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức có tài khoản thanh toán đã được đối chiếu thông tin sinh trắc học qua CCCD gắn chíp hoặc ứng dụng VNeID; 57 TCTD và 39 tổ chức TGTT đã triển khai ứng dụng thẻ CCCD gắp chíp qua ứng dụng điện thoại; 63 TCTD đã triển khai ứng dụng thẻ CCCD gắn chíp qua thiết bị tại quầy; 32 TCTD và 15 TGTT đang triển khai ứng dụng VNeID, trong đó có 21 đơn vị đã triển khai chính thức (gồm 16 TCTD và 5 TGTT).

Về làm sạch dữ liệu qua C06: Có 29 TCTD đã ký kết với C06 để triển khai làm sạch dữ liệu khách hàng mở tài khoản thanh toán, trong đó 27 TCTD đã gửi dữ liệu cho C06 để làm sạch; 11 tổ chức TGTT đã ký kết với C06 để triển khai làm sạch dữ liệu khách hàng mở tài khoản thanh toán; 29 ngân hàng và 04 TGTT đã triển khai liên kết tài khoản phục vụ chi trả an sinh xã hội thông qua ứng dụng VNeID.

Dữ liệu còn là chìa khóa kết nối hệ sinh thái số. Các ngân hàng đã và đang xây dựng hệ sinh thái tích hợp đa dịch vụ, với người dùng là trung tâm, kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia và các ngành, lĩnh vực, hệ sinh thái ngoài ngân hàng để cung ứng dịch vụ một cách liền mạch, tiện ích cho khách hàng.

Về hạ tầng dữ liệu, NHNN là một trong những bộ, ngành hoàn thành sớm nhiệm vụ đồng bộ 100% cơ sở dữ liệu chuyên ngành được giao lên Trung tâm dữ liệu quốc gia theo Nghị quyết số 71/NQ-CP5. Kho dữ liệu tập trung của NHNN đã đạt quy mô lớn với dung lượng hơn 15TB và hơn 37 tỉ dòng dữ liệu được thu thập từ gần 1.500 đơn vị.

Không chỉ dừng lại ở nội bộ, NHNN còn chủ động xây dựng các giao diện lập trình ứng dụng (API) chia sẻ dữ liệu liên thông với Văn phòng Chính phủ và Kiểm toán Nhà nước qua Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia (NDXP), góp phần tạo nên một hệ sinh thái dữ liệu mở và hiệu quả cho cả hệ thống chính trị.

Hiệu quả của dữ liệu số được minh chứng rõ nét qua Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro cho khách hàng (SIMO) của NHNN (triển khai thí điểm từ cuối năm 2024), đến hết ngày 31/12/2025 có hơn 2,4 triệu lượt khách hàng nhận được cảnh báo, trong đó có hơn 776 nghìn lượt khách hàng đã tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận cảnh báo với tổng số tiền giao dịch tương ứng là gần 2,9 nghìn tỉ đồng.

Tiếp tục chuẩn hóa hạ tầng, liên thông dữ liệu

Bên cạnh những kết quả nêu trên, thực tiễn công tác triển khai Đề án 06 cũng như quá trình số hóa ngân hàng cũng có những thách thức, đặc biệt, trong việc bảo vệ dữ liệu cá nhân. Những năm gần đây, các vụ vi phạm dữ liệu cá nhân ngày càng tinh vi, phức tạp. Chưa kể, hiện nay dữ liệu còn phân tán, phân mảnh, chất lượng chưa đồng đều, chuẩn hóa còn chậm, chia sẻ, liên thông chưa thông suốt, chưa có sự đồng bộ và chuẩn hóa cơ sở hạ tầng giữa các ngành, lĩnh vực để tạo điều kiện thuận tiện nhất cho việc kết nối, tích hợp tạo lập hệ sinh thái số. Thông tin, dữ liệu về tài khoản thanh toán của người nộp thuế là các thông tin nhạy cảm, đòi hỏi việc xử lý, tổng hợp cẩn thận, đáp ứng quy định về bảo vệ bí mật thông tin khách hàng và bảo vệ dữ liệu cá nhân.

Nguồn nhân lực chất lượng cao, có kinh nghiệm, có kiến thức về nghiệp vụ và công nghệ phục vụ chuyển đổi số trong ngành Ngân hàng còn thiếu. Xu hướng gia tăng tội phạm công nghệ với những thủ đoạn mới ngày càng tinh vi, khó lường, gia tăng rủi ro an ninh mạng. Trong khi đó vẫn còn một bộ phận người dân có tâm lý e ngại khi tiếp cận và sử dụng các dịch vụ thanh toán trên nền tảng số, nhiều người vẫn chưa sử dụng VNeID thành thạo và thường xuyên.

Thời gian tới, để triển khai hiệu quả Đề án 06, thúc đẩy quá trình số hóa dịch vụ ngân hàng, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu của chuyển đổi số quốc gia, ngành Ngân hàng tiếp tục bám sát các nhiệm vụ của Đề án 06 giai đoạn 2025 - 2030, bảo đảm phù hợp với mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số Quốc gia và Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW; tiếp tục nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngành Ngân hàng bảo đảm an ninh, an toàn, chú trọng việc xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu dùng chung ngành Ngân hàng tiến đến ra quyết định dựa trên dữ liệu.

Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng tiếp tục đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số và khai thác hiệu quả các cơ sở dữ liệu hiện có, đặc biệt là kết nối, sử dụng CSDLQGvDV, nhằm đổi mới căn bản phương thức thiết kế, phát triển và cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng theo hướng cá thể hóa, tiện ích, phù hợp với nhu cầu và hành vi của từng nhóm khách hàng; đồng thời nâng cao năng lực cảnh báo sớm, phát hiện và phòng ngừa gian lận, tăng cường bảo đảm an ninh, an toàn, bảo mật thông tin và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng. Các TCTD, tổ chức cung ứng dịch vụ TGTT cần tiếp tục đẩy nhanh tiến độ triển khai tích hợp ứng dụng VNeID để tạo sự tiện lợi cho khách hàng trong quá trình cung ứng dịch vụ; làm sạch, xác thực kết nối dữ liệu chuyên ngành với CSDLQGvDC, giảm thiểu tài khoản rác, ví điện tử rác; tiến tới ứng dụng dữ liệu từ CSDLQGvDC trong đánh giá khách hàng vay của TCTD (xây dựng, hoàn thiện giải pháp chấm điểm khả tín); tiếp tục triển khai phối hợp liên ngành: Tích hợp, kết nối, chia sẻ thông tin ngành Ngân hàng với các ngành, lĩnh vực khác góp phần hình thành hệ sinh thái số liên thông, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tiếp cận các dịch vụ nhanh chóng, an toàn, hiệu quả.

Đặc biệt, ngành Ngân hàng cần tập trung phát triển nhân lực, đẩy mạnh đào tạo nhân lực về dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo; có chính sách đãi ngộ đặc thù, thu hút và trọng dụng nhân tài ngành dữ liệu; đẩy mạnh hợp tác trong và ngoài nước nhằm học hỏi các công nghệ mới và liên kết đào tạo nhân sự công nghệ cao.

Ở tầm vĩ mô, Chính phủ cần ưu tiên đầu tư kinh phí, nhân lực cho Trung tâm dữ liệu quốc gia; đồng thời rà soát, sửa đổi, bổ sung văn bản quy phạm pháp luật để thống nhất quy trình dịch vụ công dựa trên dữ liệu; đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính (mục tiêu 100% thủ tục hành chính liên quan doanh nghiệp thực hiện trực tuyến); xây dựng cơ chế, chính sách linh hoạt cho phát triển dữ liệu và kinh tế số.

Đồng thời, các bộ, ngành cần phối hợp xây dựng, số hóa, làm sạch, và tích hợp các cơ sở dữ liệu (như dữ liệu dân cư, định danh điện tử), tạo sự thống nhất, liên thông dữ liệu.

1 Thông tư số 16/2023/TT-NHNN ngày 15/12/2023 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 28/2015/TT-NHNN ngày 18/12/2015 của Thống đốc NHNN quy định về việc quản lý, sử dụng chữ ký số, chứng thư số và dịch vụ chứng thực chữ ký số của NHNN.

2 Thông tư số 17/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán tại tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 25/2025/TTNHNN ngày 31/8/2025).

3 Thông tư số 18/2024/TT-NHNN ngày 28/6/2024 của Thống đốc NHNN quy định về hoạt động thẻ ngân hàng (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 45/2025/TTNHNN ngày 19/11/2025).

4 Thông tư số 40/2024/TT-NHNN ngày 17/7/2024 của Thống đốc NHNN Quy định về hoạt động cung ứng dịch vụ TGTT (đã được sửa đổi, bổ sung tại Thông tư số 41/2025/TTNHNN ngày 05/11/2025).

5 Nghị quyết số 71/NQ-CP của Chính phủ: Sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

Tài liệu tham khảo

1. Quyết định số 06/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 06/01/2022 phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030.

2. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.

3. Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ Sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW.

4. Quyết định số 1744/QĐ-NHNN ngày 11/4/2025 của NHNN ban hành Kế hoạch năm 2025 của ngành Ngân hàng triển khai Chỉ thị số 07/CT-TTg ngày 14/03/2025 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh triển khai Đề án 06 tại các bộ, ngành, địa phương năm 2025 và những năm tiếp theo.

5. Quyết định số 67/QĐ-NHNN ngày 06/01/2025 phê duyệt Đề án chuyển đổi số của NHNN triển khai tiện ích cốt lõi phát triển ngành Ngân hàng, bảo đảm kết nối với Đề án 06 năm 2025.

Lan Anh (NHNN)

Tin bài khác

Tinh giản quy định tài chính trong kỷ nguyên số: Cân bằng giữa hiệu quả quản lý, ổn định tài chính và các rủi ro mới

Tinh giản quy định tài chính trong kỷ nguyên số: Cân bằng giữa hiệu quả quản lý, ổn định tài chính và các rủi ro mới

Bài viết phân tích những yêu cầu đặt ra đối với khuôn khổ pháp lý và hoạt động giám sát ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, từ đó làm rõ sự cần thiết của việc đổi mới phương thức quản lý nhằm vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định tài chính trong kỷ nguyên số.
Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Bài viết này làm rõ xu hướng chuyển dịch sang mô hình ngân hàng dựa trên dữ liệu, phân tích các thách thức về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản trị rủi ro công nghệ và an toàn thông tin, từ đó đề xuất khuôn khổ quản trị tích hợp nhằm nâng cao khả năng chống chịu vận hành của các tổ chức tín dụng trong môi trường số.
Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội rất lớn cho ngành Ngân hàng. Nhưng mặt khác, nếu thiếu kiểm soát, AI có thể tạo ra những rủi ro mới, ảnh hưởng đến niềm tin thị trường. Các phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày càng tinh vi, có tổ chức và đặc biệt sự hỗ trợ của công nghệ AI đã tạo những niềm tin giả rất khó phân biệt. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi cách tiếp cận trong bảo đảm an ninh tài chính số, từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin.
Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Bài viết phân tích sự hội tụ giữa trí tuệ nhân tạo (AI) tác nhân (Agentic AI) và AI tạo sinh (Generative AI) trong quá trình tái định hình hoạt động ngân hàng hiện đại, qua đó cho thấy AI đang trở thành nền tảng chiến lược giúp các ngân hàng chuyển từ mô hình vận hành phản ứng sang chủ động, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, cá nhân hóa dịch vụ và tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng trong kỷ nguyên số.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa quy trình bằng robot (RPA) đang làm thay đổi sâu sắc nghề kế toán ngân hàng, không chỉ ở cách thức vận hành nghiệp vụ mà còn ở vai trò, kỹ năng và bản sắc nghề nghiệp của kế toán viên trong kỷ nguyên số.
Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động hai mặt của số hóa tài chính đối với sức khỏe tài chính hộ gia đình, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết này phân tích thực trạng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời chỉ ra những rủi ro ngày càng gia tăng trong bối cảnh số hóa, từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và quản lý nhằm xây dựng một hệ sinh thái ngân hàng số an toàn và bền vững.
Xem thêm
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng