Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Công nghệ & ngân hàng số
Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội rất lớn cho ngành Ngân hàng. Nhưng mặt khác, nếu thiếu kiểm soát, AI có thể tạo ra những rủi ro mới, ảnh hưởng đến niềm tin thị trường. Các phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày càng tinh vi, có tổ chức và đặc biệt sự hỗ trợ của công nghệ AI đã tạo những niềm tin giả rất khó phân biệt. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi cách tiếp cận trong bảo đảm an ninh tài chính số, từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin.
aa

Trong kỷ nguyên AI, niềm tin không chỉ là sự cảm nhận của khách hàng mà phải được nhìn nhận như một hạ tầng chiến lược của nền kinh tế số, được xây dựng và bảo vệ bằng thể chế, bằng công nghệ, bằng quản trị rủi ro và có sự phối hợp liên ngành.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

AI và chuyển đổi số ngành Ngân hàng Việt Nam: Từ ứng dụng thực tiễn đến quản trị rủi ro

Những năm gần đây, các tổ chức tín dụng, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán tại Việt Nam đã chủ động, tích cực ứng dụng các công nghệ số tiên tiến vào hoạt động quản trị, vận hành và cung ứng dịch vụ. Đáng chú ý, AI đang trở thành một trong những công nghệ nền tảng, được triển khai ngày càng rộng rãi trong nhiều khâu nghiệp vụ trọng yếu.

Hiện nay, nhiều tổ chức tín dụng tại Việt Nam đã ứng dụng AI và học máy nhằm tối ưu hóa quy trình nghiệp vụ, nâng cao hiệu quả vận hành, cải thiện chất lượng phục vụ và gia tăng trải nghiệm khách hàng. AI không còn dừng lại ở các thử nghiệm đơn lẻ, mà đã từng bước được tích hợp vào các quy trình kinh doanh, quản trị rủi ro, chăm sóc khách hàng, phát hiện gian lận và bảo đảm an toàn giao dịch.

Có thể thấy rõ ba tầng ứng dụng lớn của AI trong hệ thống ngân hàng. Thứ nhất, AI phục vụ khách hàng thông qua Chatbot, trợ lý ảo, tổng đài thông minh, cá nhân hóa sản phẩm, tư vấn tự động và nâng cao trải nghiệm giao dịch. Thứ hai, AI phục vụ vận hành thông qua tự động hóa quy trình, xử lý hồ sơ, phân tích dữ liệu, tối ưu chi phí và nâng cao hiệu quả hoạt động. Thứ ba, AI phục vụ quản trị rủi ro thông qua phát hiện gian lận; phòng, chống rửa tiền; nhận diện giao dịch bất thường; chấm điểm tín dụng và cảnh báo sớm rủi ro.

Tuy nhiên, AI luôn có hai mặt. Một mặt, AI giúp ngân hàng phục vụ khách hàng nhanh hơn, chính xác hơn và với chi phí thấp hơn. Nhưng mặt khác, nếu thiếu kiểm soát, AI có thể tạo ra những rủi ro mới đối với an toàn hệ thống, quyền lợi khách hàng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, công bằng tài chính và niềm tin thị trường.

Cụ thể, AI cũng làm phát sinh các rủi ro mới như Deepfake (công nghệ ứng dụng AI tạo ra các sản phẩm công nghệ âm thanh, hình ảnh và video làm giả đối tượng ngoài đời thực với độ chính xác rất cao), giúp tội phạm thực hiện các hành vi lừa đảo, giả mạo danh tính, phát tán thông tin sai lệch, thao túng dư luận xã hội và xâm phạm quyền riêng tư của cá nhân, tổ chức. Bên cạnh đó, AI còn có thể bị lợi dụng để tự động hóa các cuộc tấn công mạng, tạo ra nội dung độc hại hoặc hỗ trợ các hoạt động phạm tội với quy mô và mức độ tinh vi ngày càng cao, đặt ra nhiều thách thức đối với công tác bảo đảm an ninh, an toàn thông tin và quản lý nhà nước.

Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, rủi ro không chỉ nằm ở hệ thống công nghệ mà còn nằm ở hành vi người dùng, dữ liệu cá nhân, luồng giao dịch, các nền tảng kết nối và khả năng tội phạm lợi dụng niềm tin của người dùng để thực hiện các hành vi lừa đảo, gian lận. Điều đó đặt ra yêu cầu không chỉ bảo vệ hệ thống mà phải bảo vệ cả người dùng; không chỉ phòng thủ tại từng tổ chức riêng lẻ mà phải hình thành lá chắn chung cho toàn hệ sinh thái; không chỉ xử lý sau khi rủi ro xảy ra mà phải chuyển sang trạng thái phát hiện sớm, cảnh báo sớm, ngăn chặn sớm và phối hợp phản ứng nhanh.

Nói cách khác, AI không chỉ là câu chuyện công nghệ mà còn là câu chuyện về quản trị. AI không chỉ đặt ra yêu cầu đầu tư vào hạ tầng, thuật toán và dữ liệu mà còn đặt ra yêu cầu nâng cấp năng lực quản trị rủi ro, đạo đức số, kiểm soát nội bộ, giám sát tuân thủ và bảo vệ khách hàng.

Với vai trò là cơ quan quản lý nhà nước về tiền tệ và ngân hàng, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) luôn nhất quán quan điểm: Khuyến khích đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển đổi số, nhưng đổi mới phải đi đôi với an toàn; phát triển phải đi đôi với kiểm soát rủi ro; tiện ích cho khách hàng phải đi cùng với bảo vệ khách hàng.

Trên tinh thần đó, NHNN đang tập trung hoàn thiện hành lang pháp lý cho đổi mới sáng tạo và ứng dụng AI có kiểm soát. Trong đó, Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 của Chính phủ về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng là một bước tiến quan trọng, tạo không gian pháp lý cho các mô hình, sản phẩm và dịch vụ mới được thử nghiệm trong phạm vi, thời gian và điều kiện phù hợp.

Song song với đó, NHNN đang nghiên cứu xây dựng Thông tư quy định về yêu cầu an toàn, quản lý rủi ro và điều kiện triển khai ứng dụng AI trong ngành Ngân hàng. Đây sẽ là khuôn khổ quản lý chuyên ngành quan trọng nhằm bảo đảm AI được triển khai trên cơ sở quản trị rủi ro, bảo vệ dữ liệu, minh bạch và trách nhiệm giải trình. Đồng thời, NHNN đã ban hành nhiều Thông tư hướng dẫn, các văn bản yêu cầu về đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động ngân hàng, triển khai những chuẩn mực an toàn mới nhất để bảo vệ khách hàng (điển hình là Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng).

Theo quy định tại Thông tư số 77/2025/TT-NHNN, định kỳ tối thiểu 03 tháng một lần, các đơn vị phải đánh giá an toàn, bảo mật của các phiên bản phần mềm ứng dụng đang cho phép khách hàng cài đặt, sử dụng nhằm xác định các lỗ hổng bảo mật và đánh giá khả năng bị can thiệp bởi tội phạm mạng. Thông tư cũng quy định cụ thể đối với các trường hợp sử dụng thiết bị và ứng dụng Mobile Banking, cụ thể:

Trường hợp khách hàng sử dụng trên thiết bị mới hoặc kích hoạt lại ứng dụng Mobile Banking phải cài đặt phiên bản mới nhất hoặc phiên bản gần nhất bảo đảm các yêu cầu về an toàn, bảo mật theo quy định. Các đơn vị phải có giải pháp kiểm soát không cho phép hạ phiên bản (Downgrading) xuống sử dụng các phiên bản thấp hơn trong trường hợp này.

Khi phát hiện có lỗ hổng bảo mật được đánh giá ở mức cao hoặc nghiêm trọng, các đơn vị phải có biện pháp kiểm tra, không cho thực hiện giao dịch hoặc có biện pháp kiểm soát nhằm phòng, chống tội phạm lợi dụng lỗ hổng bảo mật để tấn công mạng, thực hiện các giao dịch gian lận, chiếm đoạt tài sản; đồng thời đơn vị phải thực hiện xử lý, khắc phục, cập nhật ngay phiên bản mới trong thời gian quy định.

Bên cạnh đó, ứng dụng Mobile Banking phải tự động thoát hoặc dừng hoạt động và thông báo cho khách hàng lý do nếu phát hiện một trong các dấu hiệu sau:

(i) Có trình gỡ lỗi (debugger) được gắn vào hoặc môi trường có trình gỡ lỗi đang hoạt động; hoặc khi ứng dụng bị chạy trong môi trường giả lập (emulator)/máy ảo/thiết bị giả lập; hoặc hoạt động ở chế độ cho phép máy tính giao tiếp trực tiếp với thiết bị Android (Android Debug Bridge).

(ii) Phần mềm ứng dụng bị chèn mã bên ngoài ứng dụng khi đang chạy, thực hiện các hành vi như theo dõi các hàm được chạy, ghi lại log dữ liệu truyền qua các hàm, giao diện lập trình ứng dụng (API)... (hook); hoặc phần mềm ứng dụng bị can thiệp, đóng gói lại (repacking).

(iii) Thiết bị đã bị phá khóa (root/jailbreak) hoặc bị mở khóa cơ chế bảo vệ (unlock_bootloader).

Nhằm đối phó với các hình thức gian lận ngày càng tinh vi sử dụng AI, đặc biệt là công nghệ Deepfake, Thông tư số 77/2025/TT-NHNN còn yêu cầu giải pháp phát hiện giả mạo sinh trắc học (PAD) phải đạt tiêu chuẩn quốc tế ISO 30107 cấp độ 2 hoặc tương đương, đồng thời được các tổ chức uy tín như Liên minh FIDO công nhận.

Ngoài ra, thông qua việc đẩy mạnh xác thực sinh trắc học và kết nối, đối chiếu dữ liệu dân cư theo Đề án 06 (Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030), ngành Ngân hàng đang từng bước củng cố nền tảng định danh tin cậy cho hoạt động tài chính số. Tính đến giữa tháng 5/2026, hơn 163 triệu hồ sơ khách hàng đã được đối chiếu sinh trắc học qua căn cước công dân gắn chíp hoặc ứng dụng VNeID. Đây không chỉ là nhiệm vụ kỹ thuật, mà là nền tảng của niềm tin số. Việc làm sạch dữ liệu khách hàng giúp giảm thiểu tài khoản rác, tài khoản không chính chủ và tăng cường xác thực danh tính số, tăng minh bạch và bảo vệ quyền lợi khách hàng trong các giao dịch ngân hàng.

Đáng chú ý, NHNN đã triển khai Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro cho khách hàng (SIMO). Hệ thống SIMO cho phép các tổ chức thành viên tham gia thực hiện báo cáo thông tin về các tài khoản đáng ngờ khi phát hiện và chia sẻ thông tin tới các thành viên khác. Trên cơ sở nguồn dữ liệu tập trung của Hệ thống SIMO, các tổ chức tín dụng có thể đưa ra các quyết định thực hiện ngăn chặn giao dịch ngay lập tức hoặc yêu cầu xác thực, định danh tài khoản trước khi thực hiện giao dịch trực tuyến, qua đó góp phần giảm thiểu tình trạng gian lận, lừa đảo, bảo vệ an toàn tài khoản của khách hàng. Theo báo cáo của Cục Công nghệ thông tin (NHNN), tính đến ngày 27/4/2026, Hệ thống SIMO đã triển khai đến 149 đơn vị. Hệ thống đã hỗ trợ cảnh báo đến hơn 3,8 triệu lượt khách hàng, trong đó có hơn 1,2 triệu lượt khách hàng đã tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận được cảnh báo, với tổng số tiền giao dịch tương ứng là hơn 4,3 nghìn tỉ đồng. Đây là minh chứng rõ nét cho việc chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao tiện ích, mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng và tăng cường an toàn trong hoạt động ngân hàng.

Năng lực quản trị rủi ro số chính là nền móng của niềm tin

Trong kỷ nguyên AI, vấn đề niềm tin đang đứng trước những thách thức hoàn toàn mới. Nếu trước đây rủi ro chủ yếu nằm ở hệ thống công nghệ thì hiện nay rủi ro chuyển mạnh sang yếu tố con người, ảnh hưởng trực tiếp đến người dùng. Các phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày càng tinh vi, có tổ chức và đặc biệt sự hỗ trợ của công nghệ AI đã tạo những niềm tin giả rất khó phân biệt. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi cách tiếp cận trong bảo đảm an ninh tài chính số, từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin. Một hệ thống tài chính an toàn không chỉ là hệ thống không có rủi ro mà là hệ thống nơi người dùng thực sự được bảo vệ, được trang bị năng lực nhận diện rõ rủi ro và được hỗ trợ kịp thời khi xảy ra các sự cố.

Trong một thế giới công nghệ ngày càng phát triển, niềm tin không còn được tạo ra bằng quy mô, mà bằng năng lực bảo vệ khách hàng. AI đang mở ra một chương mới cho ngành Ngân hàng. Nhưng nếu thiếu quản trị, AI cũng có thể tạo ra những rủi ro mới, làm suy giảm niềm tin và ảnh hưởng đến an toàn hệ thống.

Theo các chuyên gia, yêu cầu đặt ra không phải là lựa chọn giữa đổi mới và an toàn. Yêu cầu đúng đắn là: Đổi mới phải được dẫn dắt bởi quản trị rủi ro; công nghệ phải phục vụ con người và phát triển số phải củng cố niềm tin, chứ không làm suy giảm niềm tin. Trong kỷ nguyên AI, năng lực quản trị rủi ro số chính là nền móng của niềm tin. Và niềm tin của khách hàng chính là tài sản chiến lược quan trọng nhất, quyết định sự phát triển an toàn, bền vững của toàn hệ thống ngân hàng.

Thực tế cho thấy, tội phạm công nghệ cao không hoạt động theo ranh giới của từng ngân hàng, từng ngành hay từng hệ thống. Vì vậy, phòng, chống gian lận trong kỷ nguyên AI đòi hỏi cách tiếp cận liên ngành.

Phát biểu tại Diễn đàn Digital Trust in Finance 2026 ngày 12/5/2026 tại Hà Nội với chủ đề “Xây dựng niềm tin số tài chính trong kỷ nguyên AI”, Phó Thống đốc NHNN Phạm Tiến Dũng nhấn mạnh: “Bảo vệ niềm tin số tài chính không thể là trách nhiệm riêng của từng ngân hàng, từng công ty chứng khoán, từng ví điện tử hay từng nền tảng công nghệ mà phải là trách nhiệm chung của toàn bộ hệ sinh thái. Chúng ta cần nỗ lực thúc đẩy cơ chế chia sẻ cảnh báo rủi ro, phối hợp xử lý tài khoản nghi vấn, phát hiện sớm hành vi gian lận, nâng cao nhận thức người dùng, đồng thời đảm bảo chia sẻ dữ liệu và tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin mạng”.

Có thể nói, bảo vệ tài chính số không chỉ là bảo vệ hệ thống, mà còn là bảo vệ niềm tin của người dùng. Vì vậy, cần thúc đẩy cơ chế phối hợp liên ngành, chia sẻ dữ liệu và xây dựng mạng lưới kiểm chứng thông tin để nâng cao năng lực phát hiện sớm, phản ứng nhanh và bảo vệ người dùng tốt hơn. Bên cạnh đó cần nâng cao nhận thức, kỹ năng số cho người dân bởi trong nhiều trường hợp, bởi vì con người là các mắt xích và cũng là tuyến phòng thủ đầu tiên của toàn bộ hệ thống. Bên cạnh đó, việc chia sẻ dữ liệu phải bảo đảm tuân thủ pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an toàn thông tin và bảo mật ngân hàng.

Thời gian tới, NHNN tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng không chỉ tập trung vào việc hạn chế rủi ro, mà còn khuyến khích đổi mới sáng tạo và tạo điều kiện cho các tổ chức tài chính thử nghiệm, hoàn thiện và mở rộng ứng dụng AI trong thực tiễn. Trước hết, cần xây dựng hoặc làm rõ hơn các quy định áp dụng đối với AI nhằm tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai công nghệ này một cách thống nhất và có kiểm soát.

Về phía các tổ chức tín dụng, cần xác định đầu tư cho công nghệ, an toàn thông tin, dữ liệu và quản trị rủi ro không còn là chi phí phụ trợ, mà là điều kiện bắt buộc để phát triển ngân hàng số và AI một cách an toàn, bền vững. Trong thời gian tới, các tổ chức tín dụng cần tiếp tục nâng cấp hạ tầng công nghệ, năng lực an toàn thông tin, quản trị dữ liệu và quản trị rủi ro tương xứng với mức độ chuyển đổi số và ứng dụng AI; xây dựng đội ngũ chuyên gia am hiểu công nghệ, rủi ro và tuân thủ để làm cầu nối giữa vận hành AI và chiến lược kinh doanh của ngân hàng.

Các tổ chức tín dụng cần thiết lập một khung quản trị rủi ro AI xuyên suốt vòng đời, trọng tâm là kiểm soát rủi ro dữ liệu, chống lại các cuộc tấn công mạng sử dụng AI (như Deepfake, lừa đảo trực tuyến...); cần thường xuyên đánh giá, kiểm tra, giám sát thuật toán AI bởi con người để đảm bảo tính công bằng và chính xác; sử dụng mô hình kết hợp tốc độ của AI với sự phán đoán, kinh nghiệm của các chuyên gia quản trị rủi ro con người; áp dụng công nghệ bảo mật đa lớp (sử dụng mã hóa và an ninh mạng tiên tiến để ngăn chặn tấn công mạng sử dụng AI).

Ở tầm vĩ mô, Chính phủ cần tiếp tục kiến tạo về thể chế và môi trường thúc đẩy hợp tác liên ngành, liên thông dữ liệu, chia sẻ cảnh báo rủi ro và phối hợp bảo vệ khách hàng trong toàn bộ hệ sinh thái số.

Tài liệu tham khảo

1. https://dichvucong.bocongan.gov.vn/

2. http://www.sbv.gov.vn

Anh Minh (NHNN)

Tin bài khác

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên AI Agent: Ứng xử trước xu hướng tái cấu trúc lao động trí tuệ tại Việt Nam

Phát triển nguồn nhân lực trong kỷ nguyên AI Agent: Ứng xử trước xu hướng tái cấu trúc lao động trí tuệ tại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của tác nhân trí tuệ nhân tạo (AI Agent) đối với quá trình tái cấu trúc lao động trí tuệ và yêu cầu kỹ năng trong nền kinh tế số, đồng thời đề xuất các định hướng phát triển nguồn nhân lực tại Việt Nam nhằm nâng cao năng lực cộng tác với trí tuệ nhân tạo (AI), thích ứng với chuyển đổi số và tăng cường năng lực cạnh tranh trong kỷ nguyên AI.
Đảm bảo an toàn hệ sinh thái số: Bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng

Đảm bảo an toàn hệ sinh thái số: Bảo vệ khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng trên không gian mạng

Để bảo đảm an toàn dữ liệu và tài khoản của khách hàng khi sử dụng dịch vụ ngân hàng trên môi trường mạng, bên cạnh nỗ lực của ngành Ngân hàng trong việc nâng cấp hạ tầng công nghệ bảo mật, cần có sự phối hợp chặt chẽ của các bộ, ngành liên quan trong công tác phòng, chống lừa đảo trực tuyến. Bởi lẽ, nếu các mắt xích trong hệ sinh thái số không được bảo vệ đồng bộ, thì ngay cả lớp xác thực sinh trắc học, dù hiện đại đến đâu, cũng khó phát huy hiệu quả tuyệt đối.
Đánh giá trải nghiệm người dùng ứng dụng di động của Tổ chức tài chính vi mô CEP: Bằng chứng từ phân tích dữ liệu trực tuyến

Đánh giá trải nghiệm người dùng ứng dụng di động của Tổ chức tài chính vi mô CEP: Bằng chứng từ phân tích dữ liệu trực tuyến

Bài viết tiến hành đánh giá trải nghiệm người dùng ứng dụng di động của Tổ chức tài chính vi mô CEP, qua đó làm rõ vai trò của việc nâng cao trải nghiệm người dùng, đồng thời đưa ra một số hạn chế và đề xuất khuyến nghị nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ tài chính vi mô trong bối cảnh chuyển đổi số.
Quản trị dữ liệu chủ động trong ngành Ngân hàng: Định hướng và khung triển khai tại Việt Nam

Quản trị dữ liệu chủ động trong ngành Ngân hàng: Định hướng và khung triển khai tại Việt Nam

Bài viết này phân tích khái niệm, đặc trưng và vai trò của quản trị dữ liệu chủ động trong bối cảnh chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đề xuất định hướng và khung triển khai nhằm nâng cao hiệu quả quản trị dữ liệu, hỗ trợ ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) và tăng cường năng lực cạnh tranh của các ngân hàng Việt Nam.
Kiểm soát rủi ro về tính riêng tư đối với ví điện tử tại Việt Nam: Thách thức và khuyến nghị

Kiểm soát rủi ro về tính riêng tư đối với ví điện tử tại Việt Nam: Thách thức và khuyến nghị

Bài viết này phân tích những rủi ro về quyền riêng tư trong dịch vụ ví điện tử tại Việt Nam từ góc độ người dùng, công nghệ và chính sách, đồng thời đề xuất các giải pháp tăng cường kiểm soát rủi ro, bảo vệ dữ liệu cá nhân và thúc đẩy phát triển hệ sinh thái thanh toán số an toàn, bền vững.
Phát triển sản phẩm, dịch vụ  ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích yêu cầu phát triển hệ sinh thái ngân hàng số phục vụ nhà đầu tư quốc tế ở Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam (VIFC). Dựa trên phương pháp nghiên cứu định tính, bài viết lập luận rằng dịch vụ ngân hàng tại IFC cần chuyển từ tư duy sản phẩm đơn lẻ sang hệ sinh thái tích hợp xuyên suốt hành trình nhà đầu tư. Khung phân tích chỉ ra năng lực cạnh tranh của IFC là kết quả đầu ra của hệ sinh thái gồm sản phẩm, công nghệ, dữ liệu, pháp lý và quản trị rủi ro. Đánh giá bối cảnh Việt Nam cho thấy cơ hội lớn nhưng vẫn tồn tại điểm nghẽn về định danh xuyên biên giới, chuẩn hóa dữ liệu, giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và rủi ro bên thứ ba. Từ đó, bài viết đề xuất lộ trình chính sách ba giai đoạn nhằm phát triển hạ tầng tài chính số an toàn, minh bạch, góp phần nâng cao năng lực hội nhập tài chính toàn cầu của Việt Nam.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Xem thêm
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bất định chính sách thương mại của Hoa Kỳ không chỉ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực ứng phó trước các cú sốc từ môi trường kinh tế quốc tế và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính - ngân hàng.
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam