Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành trong điều tra, xử lý tội phạm lừa đảo trực tuyến trong lĩnh vực ngân hàng

Công nghệ & ngân hàng số
Tội phạm lừa đảo trực tuyến đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với an ninh tài chính và hoạt động ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số. Với thủ đoạn ngày càng tinh vi, có sự hỗ trợ của công nghệ cao và tính chất liên ngành, xuyên biên giới, việc xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, doanh nghiệp viễn thông và ngành Ngân hàng là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả điều tra, xử lý và phòng ngừa loại tội phạm này.
aa

Nhận diện thủ đoạn lừa đảo công nghệ cao trên không gian mạng

Gần đây, tình hình tội phạm lừa đảo trực tuyến diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp, đặc biệt lĩnh vực tài chính ngân hàng thường xuyên là “đích nhắm” của tội phạm. Đối tượng lừa đảo tận dụng công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), lợi dụng chủ trương, chính sách, công tác quản lý nhà nước, tình hình chính trị - kinh tế - xã hội... để xây dựng các kịch bản lừa đảo.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Theo các đơn vị chức năng, có một số phương thức, thủ đoạn lừa đảo chính như:

Giả mạo cơ quan nhà nước. Đối tượng giả danh Công an, Viện kiểm sát, Tòa án (sử dụng video call dàn dựng bối cảnh công sở) để đe dọa, thao túng tâm lý. Ngoài ra, đối tượng giả mạo nhân viên y tế, giáo viên, điện lực, luật sư hoặc các thương hiệu du lịch, trại hè để lừa chiếm đoạt tiền phí, tiền cọc hoặc thông tin tài khoản ngân hàng.

Thông qua hoạt động đầu tư: Thiết lập các sàn giao dịch giả mạo, kêu gọi đầu tư tiền ảo với cam kết lợi nhuận phi thực tế theo mô hình đa cấp, thường có sự tham gia quảng bá của các cá nhân có ảnh hưởng trên mạng xã hội.

Thông qua sử dụng công nghệ AI, Deepfake: Tạo ra các video call giả mạo khuôn mặt, giọng nói của người thân, bạn bè của bị hại để vay tiền khẩn cấp hoặc sử dụng AI ghép mặt bị hại vào các video, ảnh nhạy cảm để lừa đảo, tống tiền.

Thông qua cài app: Các đối tượng tạo ra các app giả mạo (giao diện giống như app thật), lừa đảo nạn nhân cài đặt để chiếm quyền điều khiển thiết bị để chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng.

Một số hình thức khác như: Thông qua hoạt động tuyển dụng việc làm online; lừa đảo tình cảm qua mạng để dẫn dụ đầu tư; gửi đường link giả mạo thanh toán thương mại điện tử; cho vay online; chuyển tiền nhầm tài khoản hoặc lợi dụng hoạt động từ thiện để trục lợi; thông qua việc vay, mượn, thuê tài sản của người khác để cầm cố, thế chấp, mua bán nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng giấy tờ giả để thực hiện hành vi lừa đảo như làm giả giấy tờ, tài liệu giả để ký hợp đồng ảo...

Ngăn chặn tình trạng lợi dụng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, ví điện thử, thẻ ngân hàng cho mục đích bất hợp pháp

Thời gian qua, thể hiện sự quan tâm và quyết tâm trong việc ngăn chặn các hành vi lợi dụng tài khoản thanh toán phục vụ hoạt động vi phạm pháp luật, Chính phủ đã quy định mức xử phạt nghiêm khắc đối với hành vi mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán. Cụ thể:

Nghị định số 340/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (thay thế Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 và Nghị định số 143/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021) đã bổ sung thêm các chế tài xử phạt đối với hành vi mở, sử dụng và ủy quyền sử dụng tài khoản thanh toán (TKTT)/thẻ ngân hàng, ví điện tử không đúng quy định của pháp luật trong quá trình sử dụng dịch vụ thanh toán (Điều 30).

Tại khoản 5 Điều 30 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng: Đối với hành vi “Mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán hoặc mua, bán thông tin tài khoản thanh toán với số lượng từ 01 tài khoản thanh toán đến dưới 10 tài khoản thanh toán mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự” bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng.

Tại khoản 6 Điều 30 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP quy định: Đối với hành vi “Mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán hoặc mua, bán thông tin tài khoản thanh toán với số lượng từ 10 tài khoản thanh toán trở lên mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, mức phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.

Về phía ngành Ngân hàng, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tích cực phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để góp phần ngăn chặn tình trạng lợi dụng mở và sử dụng TKTT, ví điện thử, thẻ ngân hàng cho các mục đích bất hợp pháp; nghiên cứu, hoàn thiện hành lang pháp lý về hoạt động thanh toán và các quy định về đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán.

Cụ thể, NHNN đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 về thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó bổ sung các quy định về các hành vi bị cấm (Điều 8). Đồng thời, NHNN đã ban hành các Thông tư hướng dẫn Nghị định số 52/2024/NĐ-CP nhằm quy định chặt chẽ hơn quy trình mở và sử dụng TKTT, ví điện tử, thẻ ngân hàng, quản lý đơn vị chấp nhận thanh toán (ĐVCNTT) như: (i) Yêu cầu phải thực hiện đối chiếu khớp đúng thông tin sinh trắc học của chủ tài khoản hoặc người đại diện khi mở, sử dụng TKTT/Thẻ ngân hàng/ví điện tử và chỉ được thực hiện rút tiền, giao dịch thanh toán bằng phương tiện điện tử trên TKTT/thẻ ngân hàng/ví điện tử khi đã hoàn thành việc đối chiếu khớp đúng giấy tờ tùy thân và thông tin sinh trắc học của chủ tài khoản hoặc người đại diện; (ii) Quy định ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải ban hành quy định nội bộ về quản lý rủi ro trong mở và sử dụng TKTT, ví điện tử, thẻ ngân hàng, trong đó bao gồm Bộ tiêu chí nhận diện TKTT, ví điện tử, thẻ ngân hàng, ĐVCNTT có dấu hiệu nghi ngờ gian lận, lừa đảo, vi phạm pháp luật. Trong đó, Bộ tiêu chí phải bao gồm dấu hiệu TKTT phát sinh giao dịch bất thường như giá trị, số lượng giao dịch lớn, bất thường không phù hợp với địa điểm, thời gian, tần suất bất thường, bao gồm phát hiện địa chỉ IP nước ngoài.

Bên cạnh đó, NHNN cũng ban hành các quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng trong đó bổ sung quy định: (i) Yêu cầu các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán phải áp dụng biện pháp xác thực sinh trắc học đối với giao dịch thanh toán trực tuyến vượt ngưỡng quy định; (ii) Bổ sung quy định phải có giải pháp nhằm phòng, chống, phát hiện các hành vi can thiệp trái phép vào ứng dụng Mobile Banking đã cài đặt trong thiết bị di động của khách hàng nhằm góp phần hạn chế việc chiếm quyền điều khiển thiết bị; (iii) Bổ sung các tiêu chuẩn an toàn, bảo mật đối với giải pháp kỹ thuật, công nghệ về định danh, xác thực thông tin sinh trắc học trên ứng dụng ngân hàng điện tử nhằm góp phần phát hiện, ngăn chặn sử dụng ứng dụng AI/Deepface trong xác thực sinh trắc học (tại Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN của Thống đốc NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng. Việc bổ sung quy định tại Thông tư số 77/2025/TT-NHNN về việc áp dụng hình thức xác nhận khớp đúng thông tin sinh trắc học đối với giao dịch thanh toán trực tuyến của khách hàng là tổ chức nhằm triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 139/CĐ-TTg về việc tăng cường phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng và các kiến nghị của Bộ Công an, góp phần ngăn chặn việc lợi dụng thành lập “doanh nghiệp ma” để thực hiện giao dịch chuyển tiền lừa đảo, vi phạm pháp luật.

Triển khai Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” (Đề án 06), NHNN đã phối hợp với Bộ Công an ban hành Kế hoạch phối hợp số 01/KHPHBCA-NHNNVN ngày 24/4/2023 về việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án 06 giữa Bộ Công an và NHNN. Trong đó có nội dung về kết nối, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDC) làm sạch dữ liệu khách hàng và xác minh thông tin nhận biết khách hàng góp phần rà soát đối tượng nghi ngờ, giả mạo giấy tờ tùy thân. Theo Vụ Thanh toán (NHNN), tính đến ngày 22/5/2026, cả ngành Ngân hàng đã có hơn 161,2 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân; hơn 2,26 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức có TKTT đã được đối chiếu thông tin sinh trắc học qua căn cước công dân (CCCD) gắn chíp hoặc Ứng dụng định danh điện tử (VNeID).

Từ năm 2024, NHNN đã triển khai Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) dựa trên thông tin dữ liệu về TKTT, thẻ ngân hàng, ví điện tử, ĐVCNTT có dấu hiệu nghi ngờ gian lận do các ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán báo cáo. Từ đó, NHNN triển khai dịch vụ truy vấn trạng thái nghi ngờ, để các đơn vị khai thác, cảnh báo cho khách hàng khi thực hiện giao dịch chuyển tiền, thanh toán qua ứng dụng ngân hàng điện tử. Theo số liệu của Vụ Thanh toán (NHNN), tính đến hết ngày 31/5/2026, Hệ thống SIMO đã hỗ trợ cảnh báo đến hơn 4,4 triệu lượt khách hàng, trong đó có hơn 1,5 triệu lượt khách hàng đã tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận được cảnh báo, với tổng số tiền giao dịch tương ứng là hơn 5 nghìn tỉ đồng. Đây là minh chứng rõ nét cho việc chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao tiện ích, mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng và tăng cường an toàn trong hoạt động ngân hàng.

NHNN thường xuyên có các văn bản chỉ đạo các ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán tăng cường đảm bảo an ninh an toàn trong hoạt động thanh toán và cung cấp dịch vụ ngân hàng trực tuyến; yêu cầu chấp hành nghiêm các quy định pháp luật về mở và sử dụng TKTT, ví điện tử, thẻ ngân hàng; tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động thanh toán; tăng cường phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng. NHNN luôn chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, qua thanh tra; phối hợp với các bộ, ngành liên quan trong công tác phòng, chống lừa đảo trực tuyến. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng đang tích cực triển khai Sổ tay hướng dẫn phối hợp hỗ trợ xử lý rủi ro đối với tài khoản, thẻ, ĐVCNTT liên quan đến giao dịch chuyển tiền, thanh toán nghi ngờ gian lận giả mạo, lừa đảo do Hiệp hội Ngân hàng đầu mối ban hành.

Đấu tranh hiệu quả với tội phạm sử dụng công nghệ cao lừa đảo trong lĩnh vực ngân hàng

Có thể thấy, khi công nghệ phát triển, đi kèm với cơ hội và những thách thức trong vấn đề an ninh, bảo mật, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Thủ đoạn tội phạm công nghệ cao ngày càng tinh vi, có quy mô xuyên quốc gia. Tội phạm lừa đảo liên tục áp dụng các công nghệ tiên tiến như Deepfake và AI để giả mạo danh tính, thao túng tâm lý, thậm chí vượt qua các hàng rào bảo mật, hệ thống xác thực sinh trắc học của ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản. Hoặc các đối tượng lừa đảo mượn CCCD, thuê, mua tài khoản cá nhân để đứng tên đại diện pháp luật, thành lập doanh nghiệp “ma”, mở tài khoản doanh nghiệp để bán cho các đối tượng lừa đảo trực tuyến, rửa tiền.

Bên cạnh đó, một bộ phận khách hàng vẫn chưa nhận diện được các phương thức, thủ đoạn tinh vi của tội phạm, đồng thời còn chủ quan trong việc bảo mật thông tin cá nhân, chưa hiểu biết về các quy định pháp luật liên quan đến mở và sử dụng tài khoản ngân hàng và sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến, từ đó tạo điều kiện cho các đối tượng dễ dàng tiếp cận, thao túng và thực hiện hành vi lừa đảo.

Thời gian tới, để tăng cường phối hợp trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm công nghệ cao và lừa đảo trực tuyến trong lĩnh vực ngân hàng, đồng thời đảm bảo an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu, an toàn tài khoản cho khách hàng, bên cạnh sự nỗ lực của ngành Ngân hàng cần sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành, chính quyền địa phương. Theo đó, một số giải pháp được đề xuất như sau:

Đối với các bộ, ngành, chính quyền địa phương

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với những lĩnh vực mà tội phạm lừa đảo gia tăng lợi dụng hoạt động như: Viễn thông, ngân hàng, quản lý đất đai, thương mại, y tế, việc làm...; tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật.

- Hoàn thiện hành lang pháp lý để xử lý, giải quyết các vụ, việc mới, chưa có tiền lệ liên quan đến các hành vi vi phạm pháp luật sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng.

- Ứng dụng khoa học, công nghệ trong công tác quản lý; xây dựng cơ sở dữ liệu ngành, kết nối đồng bộ các hệ thống, cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành để so sánh, đối chiếu dữ liệu nhằm phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các loại tội phạm khác.

- Thiết lập cơ chế phối hợp, kết nối kỹ thuật, cung cấp dữ liệu, chứng cứ điện tử nhanh chóng giữa các doanh nghiệp viễn thông, Internet, tài chính, ngân hàng với các cơ quan chức năng phục vụ công tác điều tra, xử lý tội phạm; tiến tới thành lập mô hình phối hợp liên ngành để xử lý nhanh, kịp thời các vụ việc có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng.

Đối với ngành Ngân hàng

- Tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung quy định pháp lý đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động thanh toán.

- Tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng: (i) Phối hợp với Bộ Công an chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh triển khai Kế hoạch 01 về triển khai Đề án 06 để làm sạch dữ liệu, xác thực khách hàng và ứng dụng, triển khai các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng; (ii) Phối hợp với bộ, ngành liên quan làm sạch và đồng bộ thông tin chủ thuê bao với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để thực hiện đối khớp thông tin chủ thuê bao với chủ tài khoản thanh toán, góp phần đấu tranh hiệu quả với tội phạm sử dụng công nghệ cao lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng.

Đối với các TCTD

Bên cạnh đầu tư hạ tầng công nghệ bảo mật, cần đẩy mạnh truyền thông, thông tin đến các khách hàng dưới nhiều hình thức để hướng dẫn, nâng cao nhận thức, hiểu biết của khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính ngân hàng trên môi trường số đảm bảo an toàn, hiệu quả.

Đối với người dân

Cần hình thành thói quen thường xuyên cập nhật thông tin về các phương thức thủ đoạn mới của tội phạm. Để tự bảo vệ mình, người dùng mạng tuyệt đối không truy cập vào những đường link lạ, không rõ nguồn gốc và chỉ nên cài đặt các ứng dụng từ các kho phần mềm chính thống như App Store hay Google Play. Những thông tin bảo mật quan trọng như mật khẩu cá nhân, mã OTP hay thông tin tài khoản ngân hàng tuyệt đối không được cung cấp cho bất kỳ ai, đặc biệt là người lạ qua điện thoại hoặc tin nhắn. Trong trường hợp nghi ngờ thông tin cá nhân đã bị lộ lọt, người dân cần nhanh chóng thực hiện khóa các dịch vụ thanh toán trực tuyến để ngăn chặn thiệt hại. Đồng thời, người dân cần lưu ý các hành vi mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán đều bị xử lý theo quy định.

Tài liệu tham khảo

1. Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt.

2. Nghị định số 340/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

3. Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN của Thống đốc NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng.

4. https://bocongan.gov.vn

Hà Anh - NHNN

Tin bài khác

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Vai trò kiến tạo của hạ tầng thanh toán xuyên biên giới

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Vai trò kiến tạo của hạ tầng thanh toán xuyên biên giới

Bài viết nghiên cứu vai trò then chốt của hệ thống thanh toán xuyên biên giới trong lộ trình hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam. Bằng phương pháp nghiên cứu định tính, tổng hợp và phân tích dữ liệu thứ cấp kết hợp so sánh điển cứu quốc tế, nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù thị trường công nghệ tài chính (Fintech) Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ, hạ tầng thanh toán vẫn còn khoảng cách về chuẩn hóa kỹ thuật (ISO 20022) và năng lực bán buôn so với chuẩn IFC toàn cầu. Kết quả nghiên cứu khẳng định việc nâng cấp hạ tầng mềm và hoàn thiện khung pháp lý thử nghiệm (Sandbox) là điều kiện tiên quyết để thu hút dòng vốn quốc tế. Từ đó, bài viết đề xuất các hàm ý chính sách trọng tâm về khung pháp lý, chuẩn hóa dữ liệu, thí điểm công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và gia nhập các mạng lưới thanh toán đa phương nhằm tối ưu hóa năng lực cạnh tranh cho IFC tại Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng.
Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Ứng dụng hệ sinh thái trí tuệ nhân tạo và tự động hóa trong chiến lược tối ưu hóa phễu chuyển đổi khách hàng tại các ngân hàng thương mại

Trong bối cảnh chuyển đổi số, bài viết đề xuất mô hình kết hợp trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa nhằm tối ưu phễu chuyển đổi khách hàng (mô hình mô phỏng hành trình của một khách hàng từ lúc lần đầu biết đến thương hiệu cho đến khi thực hiện hành động mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ) tại ngân hàng thương mại, qua đó giảm chi phí thu hút, rút ngắn thời gian ra quyết định tín dụng và cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng.
Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Xây dựng năng lực tự bảo vệ trước rủi ro tâm lý và công nghệ cho thế hệ Z trong bối cảnh thí điểm thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam

Trong bối cảnh thị trường tài sản mã hóa tại Việt Nam đang được triển khai thí điểm, thế hệ Z với lợi thế về khả năng tiếp cận công nghệ lại đứng trước nhiều rủi ro đan xen, đặt ra yêu cầu cấp thiết về nâng cao năng lực tài chính số và xây dựng cơ chế bảo vệ khi tham gia thị trường.
Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Ứng dụng AI thúc đẩy kinh tế xanh và Net-Zero trong doanh nghiệp: Kinh nghiệm quốc tế, bài học cho Việt Nam

Trên cơ sở kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong thúc đẩy kinh tế xanh và thực hiện chiến lược Net-Zero, qua đó, đề xuất bài học và giải pháp giúp doanh nghiệp Việt Nam kết hợp chuyển đổi số với chuyển đổi xanh, hướng đến phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.
Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Hệ khuyến nghị học liên kết: Xu hướng phát triển trong kỷ nguyên dữ liệu phân tán

Trong bối cảnh dữ liệu ngày càng phân tán và yêu cầu nghiêm ngặt về bảo vệ quyền riêng tư, hệ khuyến nghị học liên kết (Federated Recommender Systems - FRS) nổi lên như một hướng tiếp cận tiềm năng, cho phép khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn mà không cần chia sẻ dữ liệu gốc, qua đó mở rộng khả năng ứng dụng trong ngân hàng, thương mại điện tử, y tế và giáo dục.
Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và AI

Ngày 18 - 19/8/2026, sự kiện Chuyển đổi số ngành Ngân hàng năm 2026 với chủ đề “Ngân hàng thông minh trong kỷ nguyên dữ liệu và Trí tuệ nhân tạo (AI)” đã chính thức diễn ra tại Hà Nội.
Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Chuyển đổi số ngân hàng: An toàn số là nền tảng của niềm tin

Ngành Ngân hàng là một trong những ngành tiên phong trong công cuộc chuyển đổi số, không ngừng đổi mới, ứng dụng công nghệ và khai thác hiệu quả dữ liệu, qua đó góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế số, xã hội số và Chính phủ số. Cùng với những thành quả đạt được, an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và phòng, chống gian lận là cấu phần không thể thiếu trong chiến lược chuyển đổi số toàn Ngành. Tinh thần chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) là: Chuyển đổi số phải đi cùng an toàn; khai thác dữ liệu phải đi cùng bảo vệ dữ liệu; ứng dụng AI phải đi cùng quản trị rủi ro; đổi mới sáng tạo phải đi cùng tuân thủ, kiểm soát và trách nhiệm giải trình.
Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Trí tuệ nhân tạo trong bảo mật dữ liệu chuỗi cung ứng tài chính

Bài viết phân tích vai trò của trí tuệ nhân tạo (AI) trong tăng cường bảo mật dữ liệu và quản trị rủi ro an ninh mạng đối với chuỗi cung ứng tài chính (Financial Supply Chain - FSC) trong ngành Ngân hàng, qua đó làm rõ những lợi ích, thách thức và hàm ý nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng AI trong bối cảnh chuyển đổi số.
Xem thêm
Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Áp dụng bộ chuẩn mực kiểm toán nội bộ toàn cầu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh hoạt động ngân hàng ngày càng chịu tác động bởi những rủi ro mới và yêu cầu quản trị ngày càng cao, kiểm toán nội bộ giữ vai trò quan trọng trong củng cố hệ thống kiểm soát, quản trị rủi ro và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Phát triển Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam: Từ chiến lược đến hành động

Việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) mở ra cơ hội để Việt Nam thu hút dòng vốn toàn cầu, nâng cao năng lực cạnh tranh tài chính khu vực, đồng thời đòi hỏi những đột phá về thể chế, hạ tầng, địa kinh tế và nguồn nhân lực chất lượng cao.
Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Một số vấn đề pháp lý về thanh toán bằng thẻ ngân hàng ở Việt Nam

Sự phát triển nhanh của thanh toán bằng thẻ ngân hàng đang đặt ra những yêu cầu mới đối với khuôn khổ pháp lý, từ điều kiện sử dụng thẻ, phân định trách nhiệm khi phát sinh giao dịch trái phép đến bảo vệ chủ thẻ và phòng ngừa gian lận, đòi hỏi tiếp tục hoàn thiện pháp luật để bảo đảm hoạt động thanh toán an toàn, minh bạch trong môi trường số.
Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Tác động của bất ổn địa chính trị đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và vai trò của các chính sách vĩ mô

Bất ổn địa chính trị đang trở thành nguồn rủi ro ngày càng lớn đối với hệ thống ngân hàng, đặt ra yêu cầu củng cố năng lực quản trị, nâng cao chất lượng thể chế và vận dụng linh hoạt các chính sách an toàn vĩ mô để tăng sức chống chịu và bảo đảm ổn định tài chính.
Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Vai trò của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân qua thực tiễn hoạt động cho vay hỗ trợ

Bài viết phân tích thực trạng hoạt động cho vay hỗ trợ của Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân - QTDND (Quỹ bảo toàn), qua đó làm rõ những kết quả đạt được, các điểm nghẽn trong thực tiễn triển khai và một số giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của Quỹ trong thời gian tới.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 44/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 40/2025/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với đầu tư ra nước ngoài trong hoạt động dầu khí

Thông tư số 43/2026/TT-NHNN hướng dẫn hoạt động thanh toán và chuyển tiền liên quan đến kinh doanh chuyển khẩu hàng hóa

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối