Thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành trong điều tra, xử lý tội phạm lừa đảo trực tuyến trong lĩnh vực ngân hàng

Công nghệ & ngân hàng số
Tội phạm lừa đảo trực tuyến đang trở thành một trong những thách thức lớn đối với an ninh tài chính và hoạt động ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số. Với thủ đoạn ngày càng tinh vi, có sự hỗ trợ của công nghệ cao và tính chất liên ngành, xuyên biên giới, việc xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, doanh nghiệp viễn thông và ngành Ngân hàng là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hiệu quả điều tra, xử lý và phòng ngừa loại tội phạm này.
aa

Nhận diện thủ đoạn lừa đảo công nghệ cao trên không gian mạng

Gần đây, tình hình tội phạm lừa đảo trực tuyến diễn biến ngày càng tinh vi, phức tạp, đặc biệt lĩnh vực tài chính ngân hàng thường xuyên là “đích nhắm” của tội phạm. Đối tượng lừa đảo tận dụng công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), lợi dụng chủ trương, chính sách, công tác quản lý nhà nước, tình hình chính trị - kinh tế - xã hội... để xây dựng các kịch bản lừa đảo.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

Theo các đơn vị chức năng, có một số phương thức, thủ đoạn lừa đảo chính như:

Giả mạo cơ quan nhà nước. Đối tượng giả danh Công an, Viện kiểm sát, Tòa án (sử dụng video call dàn dựng bối cảnh công sở) để đe dọa, thao túng tâm lý. Ngoài ra, đối tượng giả mạo nhân viên y tế, giáo viên, điện lực, luật sư hoặc các thương hiệu du lịch, trại hè để lừa chiếm đoạt tiền phí, tiền cọc hoặc thông tin tài khoản ngân hàng.

Thông qua hoạt động đầu tư: Thiết lập các sàn giao dịch giả mạo, kêu gọi đầu tư tiền ảo với cam kết lợi nhuận phi thực tế theo mô hình đa cấp, thường có sự tham gia quảng bá của các cá nhân có ảnh hưởng trên mạng xã hội.

Thông qua sử dụng công nghệ AI, Deepfake: Tạo ra các video call giả mạo khuôn mặt, giọng nói của người thân, bạn bè của bị hại để vay tiền khẩn cấp hoặc sử dụng AI ghép mặt bị hại vào các video, ảnh nhạy cảm để lừa đảo, tống tiền.

Thông qua cài app: Các đối tượng tạo ra các app giả mạo (giao diện giống như app thật), lừa đảo nạn nhân cài đặt để chiếm quyền điều khiển thiết bị để chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng.

Một số hình thức khác như: Thông qua hoạt động tuyển dụng việc làm online; lừa đảo tình cảm qua mạng để dẫn dụ đầu tư; gửi đường link giả mạo thanh toán thương mại điện tử; cho vay online; chuyển tiền nhầm tài khoản hoặc lợi dụng hoạt động từ thiện để trục lợi; thông qua việc vay, mượn, thuê tài sản của người khác để cầm cố, thế chấp, mua bán nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc sử dụng giấy tờ giả để thực hiện hành vi lừa đảo như làm giả giấy tờ, tài liệu giả để ký hợp đồng ảo...

Ngăn chặn tình trạng lợi dụng mở và sử dụng tài khoản thanh toán, ví điện thử, thẻ ngân hàng cho mục đích bất hợp pháp

Thời gian qua, thể hiện sự quan tâm và quyết tâm trong việc ngăn chặn các hành vi lợi dụng tài khoản thanh toán phục vụ hoạt động vi phạm pháp luật, Chính phủ đã quy định mức xử phạt nghiêm khắc đối với hành vi mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán. Cụ thể:

Nghị định số 340/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng (thay thế Nghị định số 88/2019/NĐ-CP ngày 14/11/2019 và Nghị định số 143/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021) đã bổ sung thêm các chế tài xử phạt đối với hành vi mở, sử dụng và ủy quyền sử dụng tài khoản thanh toán (TKTT)/thẻ ngân hàng, ví điện tử không đúng quy định của pháp luật trong quá trình sử dụng dịch vụ thanh toán (Điều 30).

Tại khoản 5 Điều 30 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ, ngân hàng: Đối với hành vi “Mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán hoặc mua, bán thông tin tài khoản thanh toán với số lượng từ 01 tài khoản thanh toán đến dưới 10 tài khoản thanh toán mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự” bị phạt tiền từ 100.000.000 đồng đến 150.000.000 đồng.

Tại khoản 6 Điều 30 Nghị định số 340/2025/NĐ-CP quy định: Đối với hành vi “Mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán hoặc mua, bán thông tin tài khoản thanh toán với số lượng từ 10 tài khoản thanh toán trở lên mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự”, mức phạt tiền từ 150.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.

Về phía ngành Ngân hàng, thời gian qua, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tích cực phối hợp với các cơ quan liên quan triển khai thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để góp phần ngăn chặn tình trạng lợi dụng mở và sử dụng TKTT, ví điện thử, thẻ ngân hàng cho các mục đích bất hợp pháp; nghiên cứu, hoàn thiện hành lang pháp lý về hoạt động thanh toán và các quy định về đảm bảo an ninh, an toàn trong hoạt động thanh toán.

Cụ thể, NHNN đã tham mưu Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 về thanh toán không dùng tiền mặt, trong đó bổ sung các quy định về các hành vi bị cấm (Điều 8). Đồng thời, NHNN đã ban hành các Thông tư hướng dẫn Nghị định số 52/2024/NĐ-CP nhằm quy định chặt chẽ hơn quy trình mở và sử dụng TKTT, ví điện tử, thẻ ngân hàng, quản lý đơn vị chấp nhận thanh toán (ĐVCNTT) như: (i) Yêu cầu phải thực hiện đối chiếu khớp đúng thông tin sinh trắc học của chủ tài khoản hoặc người đại diện khi mở, sử dụng TKTT/Thẻ ngân hàng/ví điện tử và chỉ được thực hiện rút tiền, giao dịch thanh toán bằng phương tiện điện tử trên TKTT/thẻ ngân hàng/ví điện tử khi đã hoàn thành việc đối chiếu khớp đúng giấy tờ tùy thân và thông tin sinh trắc học của chủ tài khoản hoặc người đại diện; (ii) Quy định ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải ban hành quy định nội bộ về quản lý rủi ro trong mở và sử dụng TKTT, ví điện tử, thẻ ngân hàng, trong đó bao gồm Bộ tiêu chí nhận diện TKTT, ví điện tử, thẻ ngân hàng, ĐVCNTT có dấu hiệu nghi ngờ gian lận, lừa đảo, vi phạm pháp luật. Trong đó, Bộ tiêu chí phải bao gồm dấu hiệu TKTT phát sinh giao dịch bất thường như giá trị, số lượng giao dịch lớn, bất thường không phù hợp với địa điểm, thời gian, tần suất bất thường, bao gồm phát hiện địa chỉ IP nước ngoài.

Bên cạnh đó, NHNN cũng ban hành các quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng trong đó bổ sung quy định: (i) Yêu cầu các tổ chức tín dụng, tổ chức trung gian thanh toán phải áp dụng biện pháp xác thực sinh trắc học đối với giao dịch thanh toán trực tuyến vượt ngưỡng quy định; (ii) Bổ sung quy định phải có giải pháp nhằm phòng, chống, phát hiện các hành vi can thiệp trái phép vào ứng dụng Mobile Banking đã cài đặt trong thiết bị di động của khách hàng nhằm góp phần hạn chế việc chiếm quyền điều khiển thiết bị; (iii) Bổ sung các tiêu chuẩn an toàn, bảo mật đối với giải pháp kỹ thuật, công nghệ về định danh, xác thực thông tin sinh trắc học trên ứng dụng ngân hàng điện tử nhằm góp phần phát hiện, ngăn chặn sử dụng ứng dụng AI/Deepface trong xác thực sinh trắc học (tại Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN của Thống đốc NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng. Việc bổ sung quy định tại Thông tư số 77/2025/TT-NHNN về việc áp dụng hình thức xác nhận khớp đúng thông tin sinh trắc học đối với giao dịch thanh toán trực tuyến của khách hàng là tổ chức nhằm triển khai chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Công điện số 139/CĐ-TTg về việc tăng cường phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng và các kiến nghị của Bộ Công an, góp phần ngăn chặn việc lợi dụng thành lập “doanh nghiệp ma” để thực hiện giao dịch chuyển tiền lừa đảo, vi phạm pháp luật.

Triển khai Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030” (Đề án 06), NHNN đã phối hợp với Bộ Công an ban hành Kế hoạch phối hợp số 01/KHPHBCA-NHNNVN ngày 24/4/2023 về việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ tại Đề án 06 giữa Bộ Công an và NHNN. Trong đó có nội dung về kết nối, khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư (CSDLQGvDC) làm sạch dữ liệu khách hàng và xác minh thông tin nhận biết khách hàng góp phần rà soát đối tượng nghi ngờ, giả mạo giấy tờ tùy thân. Theo Vụ Thanh toán (NHNN), tính đến ngày 22/5/2026, cả ngành Ngân hàng đã có hơn 161,2 triệu hồ sơ khách hàng cá nhân; hơn 2,26 triệu hồ sơ khách hàng tổ chức có TKTT đã được đối chiếu thông tin sinh trắc học qua căn cước công dân (CCCD) gắn chíp hoặc Ứng dụng định danh điện tử (VNeID).

Từ năm 2024, NHNN đã triển khai Hệ thống thông tin hỗ trợ quản lý, giám sát và phòng ngừa rủi ro gian lận trong hoạt động thanh toán (SIMO) dựa trên thông tin dữ liệu về TKTT, thẻ ngân hàng, ví điện tử, ĐVCNTT có dấu hiệu nghi ngờ gian lận do các ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán báo cáo. Từ đó, NHNN triển khai dịch vụ truy vấn trạng thái nghi ngờ, để các đơn vị khai thác, cảnh báo cho khách hàng khi thực hiện giao dịch chuyển tiền, thanh toán qua ứng dụng ngân hàng điện tử. Theo số liệu của Vụ Thanh toán (NHNN), tính đến hết ngày 31/5/2026, Hệ thống SIMO đã hỗ trợ cảnh báo đến hơn 4,4 triệu lượt khách hàng, trong đó có hơn 1,5 triệu lượt khách hàng đã tạm dừng/hủy bỏ giao dịch sau khi nhận được cảnh báo, với tổng số tiền giao dịch tương ứng là hơn 5 nghìn tỉ đồng. Đây là minh chứng rõ nét cho việc chuyển đổi số không chỉ nhằm nâng cao tiện ích, mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của khách hàng và tăng cường an toàn trong hoạt động ngân hàng.

NHNN thường xuyên có các văn bản chỉ đạo các ngân hàng, tổ chức trung gian thanh toán tăng cường đảm bảo an ninh an toàn trong hoạt động thanh toán và cung cấp dịch vụ ngân hàng trực tuyến; yêu cầu chấp hành nghiêm các quy định pháp luật về mở và sử dụng TKTT, ví điện tử, thẻ ngân hàng; tăng cường các biện pháp đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động thanh toán; tăng cường phòng ngừa, xử lý hoạt động lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng. NHNN luôn chú trọng công tác thanh tra, kiểm tra, qua thanh tra; phối hợp với các bộ, ngành liên quan trong công tác phòng, chống lừa đảo trực tuyến. Bên cạnh đó, các ngân hàng cũng đang tích cực triển khai Sổ tay hướng dẫn phối hợp hỗ trợ xử lý rủi ro đối với tài khoản, thẻ, ĐVCNTT liên quan đến giao dịch chuyển tiền, thanh toán nghi ngờ gian lận giả mạo, lừa đảo do Hiệp hội Ngân hàng đầu mối ban hành.

Đấu tranh hiệu quả với tội phạm sử dụng công nghệ cao lừa đảo trong lĩnh vực ngân hàng

Có thể thấy, khi công nghệ phát triển, đi kèm với cơ hội và những thách thức trong vấn đề an ninh, bảo mật, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng. Thủ đoạn tội phạm công nghệ cao ngày càng tinh vi, có quy mô xuyên quốc gia. Tội phạm lừa đảo liên tục áp dụng các công nghệ tiên tiến như Deepfake và AI để giả mạo danh tính, thao túng tâm lý, thậm chí vượt qua các hàng rào bảo mật, hệ thống xác thực sinh trắc học của ngân hàng nhằm chiếm đoạt tài sản. Hoặc các đối tượng lừa đảo mượn CCCD, thuê, mua tài khoản cá nhân để đứng tên đại diện pháp luật, thành lập doanh nghiệp “ma”, mở tài khoản doanh nghiệp để bán cho các đối tượng lừa đảo trực tuyến, rửa tiền.

Bên cạnh đó, một bộ phận khách hàng vẫn chưa nhận diện được các phương thức, thủ đoạn tinh vi của tội phạm, đồng thời còn chủ quan trong việc bảo mật thông tin cá nhân, chưa hiểu biết về các quy định pháp luật liên quan đến mở và sử dụng tài khoản ngân hàng và sử dụng dịch vụ ngân hàng trực tuyến, từ đó tạo điều kiện cho các đối tượng dễ dàng tiếp cận, thao túng và thực hiện hành vi lừa đảo.

Thời gian tới, để tăng cường phối hợp trong công tác phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm công nghệ cao và lừa đảo trực tuyến trong lĩnh vực ngân hàng, đồng thời đảm bảo an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu, an toàn tài khoản cho khách hàng, bên cạnh sự nỗ lực của ngành Ngân hàng cần sự phối hợp đồng bộ của các bộ, ngành, chính quyền địa phương. Theo đó, một số giải pháp được đề xuất như sau:

Đối với các bộ, ngành, chính quyền địa phương

- Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước đối với những lĩnh vực mà tội phạm lừa đảo gia tăng lợi dụng hoạt động như: Viễn thông, ngân hàng, quản lý đất đai, thương mại, y tế, việc làm...; tiếp tục nâng cao hơn nữa chất lượng, hiệu quả công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật.

- Hoàn thiện hành lang pháp lý để xử lý, giải quyết các vụ, việc mới, chưa có tiền lệ liên quan đến các hành vi vi phạm pháp luật sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng.

- Ứng dụng khoa học, công nghệ trong công tác quản lý; xây dựng cơ sở dữ liệu ngành, kết nối đồng bộ các hệ thống, cơ sở dữ liệu của các bộ, ngành để so sánh, đối chiếu dữ liệu nhằm phát hiện, phòng ngừa, đấu tranh với tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản và các loại tội phạm khác.

- Thiết lập cơ chế phối hợp, kết nối kỹ thuật, cung cấp dữ liệu, chứng cứ điện tử nhanh chóng giữa các doanh nghiệp viễn thông, Internet, tài chính, ngân hàng với các cơ quan chức năng phục vụ công tác điều tra, xử lý tội phạm; tiến tới thành lập mô hình phối hợp liên ngành để xử lý nhanh, kịp thời các vụ việc có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản sử dụng công nghệ cao, trên không gian mạng.

Đối với ngành Ngân hàng

- Tiếp tục nghiên cứu, rà soát, sửa đổi, bổ sung quy định pháp lý đảm bảo an ninh, an toàn hoạt động thanh toán.

- Tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng: (i) Phối hợp với Bộ Công an chỉ đạo các TCTD đẩy mạnh triển khai Kế hoạch 01 về triển khai Đề án 06 để làm sạch dữ liệu, xác thực khách hàng và ứng dụng, triển khai các hoạt động nghiệp vụ ngân hàng; (ii) Phối hợp với bộ, ngành liên quan làm sạch và đồng bộ thông tin chủ thuê bao với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để thực hiện đối khớp thông tin chủ thuê bao với chủ tài khoản thanh toán, góp phần đấu tranh hiệu quả với tội phạm sử dụng công nghệ cao lừa đảo, chiếm đoạt tài sản trên không gian mạng.

Đối với các TCTD

Bên cạnh đầu tư hạ tầng công nghệ bảo mật, cần đẩy mạnh truyền thông, thông tin đến các khách hàng dưới nhiều hình thức để hướng dẫn, nâng cao nhận thức, hiểu biết của khách hàng sử dụng dịch vụ tài chính ngân hàng trên môi trường số đảm bảo an toàn, hiệu quả.

Đối với người dân

Cần hình thành thói quen thường xuyên cập nhật thông tin về các phương thức thủ đoạn mới của tội phạm. Để tự bảo vệ mình, người dùng mạng tuyệt đối không truy cập vào những đường link lạ, không rõ nguồn gốc và chỉ nên cài đặt các ứng dụng từ các kho phần mềm chính thống như App Store hay Google Play. Những thông tin bảo mật quan trọng như mật khẩu cá nhân, mã OTP hay thông tin tài khoản ngân hàng tuyệt đối không được cung cấp cho bất kỳ ai, đặc biệt là người lạ qua điện thoại hoặc tin nhắn. Trong trường hợp nghi ngờ thông tin cá nhân đã bị lộ lọt, người dân cần nhanh chóng thực hiện khóa các dịch vụ thanh toán trực tuyến để ngăn chặn thiệt hại. Đồng thời, người dân cần lưu ý các hành vi mua, bán, thuê, cho thuê, mượn, cho mượn tài khoản thanh toán đều bị xử lý theo quy định.

Tài liệu tham khảo

1. Nghị định số 52/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ về thanh toán không dùng tiền mặt.

2. Nghị định số 340/2025/NĐ-CP ngày 25/12/2025 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tiền tệ và ngân hàng.

3. Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN của Thống đốc NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến trong ngành Ngân hàng.

4. https://bocongan.gov.vn

Hà Anh - NHNN

Tin bài khác

Tinh giản quy định tài chính trong kỷ nguyên số: Cân bằng giữa hiệu quả quản lý, ổn định tài chính và các rủi ro mới

Tinh giản quy định tài chính trong kỷ nguyên số: Cân bằng giữa hiệu quả quản lý, ổn định tài chính và các rủi ro mới

Bài viết phân tích những yêu cầu đặt ra đối với khuôn khổ pháp lý và hoạt động giám sát ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, từ đó làm rõ sự cần thiết của việc đổi mới phương thức quản lý nhằm vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo, vừa bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định tài chính trong kỷ nguyên số.
Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Quản trị dữ liệu và an toàn thông tin trong ngân hàng số: Tiếp cận tích hợp hướng tới chống chịu vận hành

Bài viết này làm rõ xu hướng chuyển dịch sang mô hình ngân hàng dựa trên dữ liệu, phân tích các thách thức về bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản trị rủi ro công nghệ và an toàn thông tin, từ đó đề xuất khuôn khổ quản trị tích hợp nhằm nâng cao khả năng chống chịu vận hành của các tổ chức tín dụng trong môi trường số.
Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Bảo đảm an ninh tài chính số: Từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin

Trí tuệ nhân tạo (AI) đang mở ra những cơ hội rất lớn cho ngành Ngân hàng. Nhưng mặt khác, nếu thiếu kiểm soát, AI có thể tạo ra những rủi ro mới, ảnh hưởng đến niềm tin thị trường. Các phương thức lừa đảo chiếm đoạt tài sản ngày càng tinh vi, có tổ chức và đặc biệt sự hỗ trợ của công nghệ AI đã tạo những niềm tin giả rất khó phân biệt. Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải thay đổi cách tiếp cận trong bảo đảm an ninh tài chính số, từ phòng ngự thụ động sang chủ động kiến tạo niềm tin.
Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Tích hợp Agentic AI và Generative AI trong tái định nghĩa hoạt động ngân hàng

Bài viết phân tích sự hội tụ giữa trí tuệ nhân tạo (AI) tác nhân (Agentic AI) và AI tạo sinh (Generative AI) trong quá trình tái định hình hoạt động ngân hàng hiện đại, qua đó cho thấy AI đang trở thành nền tảng chiến lược giúp các ngân hàng chuyển từ mô hình vận hành phản ứng sang chủ động, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, cá nhân hóa dịch vụ và tối ưu hóa trải nghiệm khách hàng trong kỷ nguyên số.
Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Quản trị dữ liệu khách hàng của ngân hàng thương mại trong hoạt động bảo hiểm liên kết

Trong bối cảnh hoạt động bảo hiểm liên kết (Bancassurance) phát triển mạnh cùng xu hướng ngân hàng số, quản trị dữ liệu khách hàng đang trở thành “lá chắn” pháp lý và công nghệ quan trọng, quyết định mức độ minh bạch, an toàn và niềm tin của người dùng đối với hệ sinh thái tài chính - bảo hiểm.
Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Tác động của trí tuệ nhân tạo và tự động hóa quy trình bằng robot đến nghề kế toán ngân hàng

Sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI) và tự động hóa quy trình bằng robot (RPA) đang làm thay đổi sâu sắc nghề kế toán ngân hàng, không chỉ ở cách thức vận hành nghiệp vụ mà còn ở vai trò, kỹ năng và bản sắc nghề nghiệp của kế toán viên trong kỷ nguyên số.
Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Số hóa tài chính và sức khỏe tài chính hộ gia đình: Cơ hội, rủi ro và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động hai mặt của số hóa tài chính đối với sức khỏe tài chính hộ gia đình, qua đó nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ sinh thái tài chính số an toàn, bao trùm và bền vững trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bảo vệ dữ liệu cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam trong kỷ nguyên số

Bài viết này phân tích thực trạng bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, đồng thời chỉ ra những rủi ro ngày càng gia tăng trong bối cảnh số hóa, từ đó đề xuất các giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ, nhân lực và quản lý nhằm xây dựng một hệ sinh thái ngân hàng số an toàn và bền vững.
Xem thêm
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng