Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Chính sách
Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
aa

Tóm tắt: Trong bối cảnh Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới với mục tiêu duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao gắn với ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, việc điều hành chính sách tiền tệ đòi hỏi sự linh hoạt, chủ động và thích ứng với những biến động của môi trường kinh tế trong nước và quốc tế. Trên cơ sở đó, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN ngày 22/6/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, góp phần điều hành linh hoạt các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong việc hài hòa giữa mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng kinh tế với yêu cầu duy trì an toàn hệ thống ngân hàng.

Từ khóa: Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, hoạt động ngân hàng, chính sách tiền tệ.

FLEXIBLE MANAGEMENT OF BANKING PRUDENTIAL RATIOS:
A DRIVER OF ECONOMIC GROWTH UNDER CIRCULAR NO. 25/2026/TT-NHNN

Abstract: As Vietnam enters a new stage of development with the goal of sustaining robust economic growth while maintaining macroeconomic stability and safeguarding the resilience of the financial system, the conduct of monetary policy requires greater flexibility, proactiveness, and responsiveness to changes in both the domestic and global economic environment. Against this backdrop, the State Bank of Vietnam (SBV) issued Circular No. 25/2026/TT-NHNN dated June 22, 2026, amending and supplementing several provisions of Circular No. 22/2019/TT-NHNN on prudential limits and safety ratios applicable to banks and foreign bank branches. The Circular enhances the flexibility of prudential regulation, helping strike an appropriate balance between supporting economic growth and maintaining the safety and stability of the banking system.

Keywords: Circular No. 25/2026/TT-NHNN, banking operations, monetary policy.

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN
Ảnh minh họa (Nguồn: baochinhphu.vn)

1. Cơ sở thực tiễn và yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động ngân hàng

Trong bối cảnh kinh tế thế giới còn nhiều biến động, chính sách tiền tệ không chỉ đóng vai trò ổn định thị trường tiền tệ mà còn phải tạo điều kiện thuận lợi cho việc huy động và phân bổ nguồn lực tài chính, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững. Giai đoạn 2026 - 2030 mở ra yêu cầu mới đối với điều hành chính sách tiền tệ khi Việt Nam đặt mục tiêu duy trì tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số, đồng thời bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và giữ vững an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng. Định hướng này được xác định tại Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số", trong đó nhấn mạnh yêu cầu thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế 2 con số gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế.

Theo đó, chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển. Trong bối cảnh trên, hệ thống ngân hàng tiếp tục giữ vai trò là kênh cung ứng vốn chủ yếu của nền kinh tế. Tính đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế đạt trên 17,2 triệu tỉ đồng, tăng khoảng 15,1% so với cuối năm 2024, phản ánh vai trò trung tâm của tín dụng ngân hàng trong việc đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp và nền kinh tế. Tuy nhiên, khả năng mở rộng tín dụng của các tổ chức tín dụng (TCTD) vẫn chịu ảnh hưởng bởi sự mất cân đối giữa cơ cấu nguồn vốn và nhu cầu sử dụng vốn. Trong khi nguồn vốn huy động chủ yếu là ngắn hạn thì nhu cầu tín dụng lại tập trung nhiều vào các khoản vay trung và dài hạn phục vụ đầu tư kết cấu hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển công nghiệp công nghệ cao. Điều này làm gia tăng áp lực quản trị tài sản - nguồn vốn đồng thời hạn chế dư địa cung ứng tín dụng khi các TCTD phải tuân thủ các giới hạn bảo đảm an toàn theo quy định.

Việc duy trì tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn ở mức 30% trong thời gian qua đã góp phần kiểm soát rủi ro chênh lệch kỳ hạn và bảo đảm an toàn thanh khoản của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, trong điều kiện nhu cầu vốn trung và dài hạn của nền kinh tế ngày càng gia tăng, giới hạn này cũng làm gia tăng áp lực cơ cấu lại nguồn vốn và chi phí huy động của các TCTD. Theo FiinGroup (2026), việc duy trì giới hạn 30% khiến nhiều ngân hàng phải tăng huy động vốn trung và dài hạn với chi phí cao hơn để đáp ứng yêu cầu về cơ cấu nguồn vốn, làm giảm dư địa mở rộng tín dụng và tạo áp lực đối với mặt bằng lãi suất cho vay.

Từ thực tiễn đó, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 25/2026/TT-NHNN ngày 22/6/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN nhằm điều chỉnh quy định về tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn, đồng thời hoàn thiện cơ chế xác định tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi (LDR) nhằm tạo thêm dư địa cho các TCTD mở rộng khả năng cung ứng vốn, đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế trong khi vẫn bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng.

2. Nội dung điều chỉnh chính sách theo Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Một là, điều chỉnh tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn

Điểm điều chỉnh quan trọng nhất của Thông tư số 25/2026/TT-NHNN là sửa đổi khoản 5 Điều 16 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN theo hướng nâng tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn từ 30% lên 40%, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026. Xét dưới góc độ quản trị ngân hàng, tỷ lệ này là công cụ kiểm soát mức độ chuyển hóa kỳ hạn trong hoạt động của TCTD. Chuyển hóa kỳ hạn là chức năng kinh tế cốt lõi của ngân hàng thương mại, cho phép chuyển đổi các khoản tiền gửi có kỳ hạn ngắn thành các khoản tín dụng có thời hạn dài hơn để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế nhưng đồng thời cũng là nguồn gốc của rủi ro chênh lệch kỳ hạn và rủi ro thanh khoản nếu không được quản trị phù hợp (Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng - BCBS, 2023).

Theo khuôn khổ Basel III, thay vì áp dụng các biện pháp hạn chế tuyệt đối đối với hoạt động chuyển hóa kỳ hạn, các quốc gia tập trung quản lý thông qua các chuẩn mực về tỷ lệ bao phủ thanh khoản (LCR), tỷ lệ nguồn vốn ổn định ròng (NSFR), kết hợp với quản trị tài sản - nguồn vốn và kiểm tra sức chịu đựng thanh khoản nhằm bảo đảm khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các cú sốc thanh khoản. Thực tiễn giám sát tại nhiều nền kinh tế phát triển như Liên minh châu Âu và Singapore cũng cho thấy xu hướng chuyển từ mô hình quản lý dựa trên các ngưỡng giới hạn định lượng cố định sang mô hình giám sát dựa trên rủi ro, trong đó các cơ quan giám sát đánh giá đồng thời mức độ an toàn vốn, thanh khoản, quản trị rủi ro và khả năng chống chịu của từng TCTD thay vì chỉ dựa vào một chỉ tiêu đơn lẻ (ECB, 2025).

Trong bối cảnh đó, việc điều chỉnh tỷ lệ từ 30% lên 40% tại Việt Nam phản ánh sự điều chỉnh về mức độ chấp nhận rủi ro theo hướng linh hoạt hơn, phù hợp với yêu cầu gia tăng khả năng cung ứng vốn cho nền kinh tế nhưng không làm thay đổi nguyên tắc bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Nói cách khác, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN không thay thế các công cụ quản lý rủi ro hiện hành mà hoàn thiện khuôn khổ pháp lý theo hướng tạo điều kiện để các TCTD chủ động hơn trong cân đối nguồn vốn và sử dụng vốn, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính, đồng thời vẫn phải tuân thủ đầy đủ các quy định về tỷ lệ an toàn vốn, quản trị rủi ro thanh khoản và các giới hạn an toàn khác theo Luật Các TCTD năm 2024 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Hai là, hoàn thiện cơ chế xác định LDR

Bên cạnh việc điều chỉnh tỷ lệ sử dụng nguồn vốn ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN cũng sửa đổi điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN liên quan đến việc xác định tổng tiền gửi làm cơ sở tính LDR. Theo quy định mới, ngoài việc tiếp tục loại trừ tiền ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng và tiền gửi không kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước, 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước hoặc một tỷ lệ khác do Thống đốc NHNN quyết định trong từng thời kỳ được tính vào tổng tiền gửi để xác định LDR.

Về bản chất, LDR phản ánh mối quan hệ giữa quy mô tín dụng và nguồn vốn huy động của TCTD, hỗ trợ đánh giá khả năng cân đối giữa hoạt động cho vay và nguồn vốn tài trợ. Mặc dù Basel III không quy định một ngưỡng LDR thống nhất áp dụng cho tất cả các quốc gia, BCBS yêu cầu các cơ quan giám sát đánh giá rủi ro thanh khoản trên cơ sở tổng thể. Theo đó, ngoài các chỉ tiêu như LDR, Basel III sử dụng chỉ tiêu LCR để đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu thanh khoản ngắn hạn của ngân hàng và NSFR để đánh giá mức độ phù hợp giữa cơ cấu nguồn vốn với kỳ hạn sử dụng vốn trong trung và dài hạn. Cách tiếp cận này giúp đánh giá toàn diện hơn khả năng thanh khoản và mức độ an toàn của TCTD, thay vì chỉ dựa trên một chỉ tiêu đơn lẻ (BCBS, 2023).

Ngoài ra, điểm mới quan trọng của Thông tư số 25/2026/TT-NHNN không nằm ở việc tiếp tục xác định 80% số dư tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước được tính vào tổng tiền gửi khi xác định LDR mà ở việc cho phép áp dụng một tỷ lệ khác do Thống đốc NHNN quyết định phù hợp với điều kiện thực tiễn trong từng thời kỳ. Quy định này tạo cơ sở pháp lý để NHNN chủ động điều chỉnh phương pháp xác định LDR theo diễn biến thanh khoản của hệ thống và yêu cầu điều hành chính sách tiền tệ mà không phải sửa đổi văn bản quy phạm pháp luật. Qua đó, khuôn khổ điều hành được hoàn thiện theo hướng linh hoạt hơn nhưng vẫn bảo đảm giữ nguyên bản chất và mục tiêu quản lý của chỉ tiêu LDR. Quy định này phù hợp với xu hướng quản lý ngân hàng hiện đại, trong đó các cơ quan giám sát sử dụng đồng thời nhiều công cụ giám sát an toàn vi mô và an toàn vĩ mô để tăng khả năng ứng phó trước các biến động của hệ thống tài chính nhưng vẫn duy trì mục tiêu bảo đảm ổn định tài chính và an toàn hoạt động ngân hàng (Ngân hàng Thanh toán Quốc tế - BIS, 2024).

3. Cơ chế truyền dẫn và tác động của việc điều chỉnh các tỷ lệ bảo đảm an toàn đối với hoạt động ngân hàng và nền kinh tế

Từ góc độ kinh tế học tiền tệ, việc điều chỉnh các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo Thông tư số 25/2026/TT-NHNN không chỉ làm thay đổi khuôn khổ quản lý hoạt động của các TCTD mà còn tác động đến quá trình truyền dẫn của chính sách tiền tệ thông qua kênh tín dụng ngân hàng. Theo Bernanke và Gertler (1995), khả năng cung ứng tín dụng của hệ thống ngân hàng là một trong những kênh truyền dẫn quan trọng giúp chính sách tiền tệ tác động đến đầu tư, tiêu dùng và tăng trưởng kinh tế. Trong bối cảnh Việt Nam vẫn là nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng, việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về các tỷ lệ bảo đảm an toàn có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ và hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính.

3.1. Tác động đến khả năng cung ứng vốn của các TCTD

Việc điều chỉnh tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung và dài hạn và hoàn thiện cơ chế xác định LDR giúp các TCTD có thêm dư địa trong quản trị bảng cân đối kế toán, giúp nâng cao khả năng sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động. Dưới góc độ trung gian tài chính, sự điều chỉnh này góp phần giảm các ràng buộc về thanh khoản và cơ cấu nguồn vốn, tạo điều kiện để các TCTD chủ động hơn trong việc phân bổ tín dụng mà vẫn bảo đảm tuân thủ các giới hạn an toàn theo quy định. Đây là bước điều chỉnh mang tính chất tối ưu hóa khuôn khổ điều tiết thay vì nới lỏng các chuẩn mực an toàn của hệ thống ngân hàng.

3.2. Tăng cường khả năng truyền dẫn tín dụng đến khu vực sản xuất và đầu tư

Khi khả năng cân đối nguồn vốn của các TCTD được cải thiện, dòng vốn tín dụng có điều kiện được phân bổ hiệu quả hơn tới các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và đầu tư phát triển. Theo World Bank (2024), khả năng tiếp cận tín dụng của doanh nghiệp có mối quan hệ chặt chẽ với mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ và nâng cao năng suất. Do đó, việc gia tăng tính linh hoạt trong các tỷ lệ bảo đảm an toàn sẽ góp phần cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính, đặc biệt đối với các lĩnh vực ưu tiên như kết cấu hạ tầng, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và đổi mới sáng tạo, qua đó nâng cao năng lực cạnh tranh và tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế.

3.3. Nâng cao hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ

Một điểm đáng chú ý của Thông tư số 25/2026/TT-NHNN là tăng cường tính linh hoạt trong điều hành thanh khoản của NHNN thông qua việc hoàn thiện cơ chế xác định tỷ lệ LDR. Điều này giúp cơ quan quản lý có thêm công cụ để điều tiết khả năng cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng phù hợp với diễn biến của thị trường tiền tệ và yêu cầu điều hành trong từng thời kỳ. Theo IMF (2025), hiệu quả của chính sách tiền tệ phụ thuộc không chỉ vào việc sử dụng các công cụ điều hành mà còn vào khả năng truyền dẫn của các công cụ đó thông qua hệ thống ngân hàng. Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về các tỷ lệ bảo đảm an toàn vì vậy sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của kênh tín dụng ngân hàng trong cơ chế truyền dẫn chính sách tiền tệ.

3.4. Góp phần củng cố ổn định tài chính và tăng trưởng bền vững

Việc mở rộng khả năng cung ứng tín dụng theo Thông tư số 25/2026/TT-NHNN vẫn được đặt trong khuôn khổ các chuẩn mực an toàn theo Luật Các TCTD và các nguyên tắc giám sát ngân hàng của BCBS. Điều này phản ánh quan điểm điều hành nhất quán của NHNN là hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trên cơ sở duy trì ổn định tài chính và bảo đảm an toàn hệ thống. Theo BCBS (2023), một hệ thống ngân hàng có khả năng chống chịu cao không chỉ góp phần giảm thiểu rủi ro hệ thống mà còn tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế bền vững trong dài hạn. Vì vậy, Thông tư số 25/2026/TT-NHNN còn giúp nâng cao hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ, cải thiện hiệu quả phân bổ nguồn lực và củng cố ổn định tài chính theo hướng phù hợp với thông lệ quốc tế.

4. Một số kiến nghị nhằm thực thi hiệu quả Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Việc điều chỉnh các tỷ lệ bảo đảm an toàn theo Thông tư số 25/2026/TT-NHNN là bước hoàn thiện quan trọng trong khuôn khổ pháp lý về bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, góp phần tạo thêm dư địa để các TCTD chủ động quản trị nguồn vốn và mở rộng khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế. Tuy nhiên, hiệu quả của chính sách không chỉ phụ thuộc vào nội dung của quy định pháp luật mà còn gắn chặt với năng lực quản trị của các TCTD, hiệu quả thanh tra, giám sát của NHNN và sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách kinh tế vĩ mô. Theo các Nguyên tắc cốt lõi về giám sát ngân hàng hiệu quả (Core Principles for Effective Banking Supervision) của BCBS, việc điều chỉnh các chuẩn mực an toàn chỉ phát huy hiệu quả khi được triển khai đồng thời với hệ thống quản trị rủi ro vững chắc, cơ chế giám sát dựa trên rủi ro và chính sách điều hành phù hợp. Trên cơ sở đó, để Thông tư số 25/2026/TT-NHNN được thực thi hiệu quả và đạt được mục tiêu vừa hỗ trợ tăng trưởng tín dụng, vừa bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng, cần quan tâm một số nội dung sau:

Thứ nhất, bảo đảm tăng trưởng tín dụng gắn với quản trị rủi ro và nâng cao chất lượng tín dụng

Việc gia tăng dư địa hoạt động cho các TCTD không đồng nghĩa với việc nới lỏng các chuẩn mực quản trị rủi ro hoặc mở rộng tín dụng bằng mọi giá. Theo khuyến nghị của BCBS, tăng trưởng tín dụng chỉ thực sự bền vững khi đi đôi với việc duy trì chất lượng tài sản, năng lực quản trị rủi ro và khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng. Vì vậy, trong quá trình triển khai Thông tư số 25/2026/TT-NHNN, các TCTD cần tiếp tục hoàn thiện khung quản trị rủi ro, nâng cao chất lượng thẩm định, tăng cường giám sát sau cho vay, thực hiện đầy đủ việc phân loại nợ và trích lập dự phòng theo quy định. Đồng thời, việc phân bổ tín dụng cần bám sát định hướng điều hành của Chính phủ và NHNN, ưu tiên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và các dự án kết cấu hạ tầng có hiệu quả, đồng thời kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Đây là điều kiện quan trọng để nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính, bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững.

Thứ hai, tiếp tục nâng cao năng lực quản trị thanh khoản và quản trị tài sản - nguồn vốn

Việc gia tăng tính linh hoạt trong sử dụng nguồn vốn cũng đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực quản trị của các TCTD. Theo khuôn khổ Basel III, quản trị thanh khoản không chỉ dừng ở việc đáp ứng các tỷ lệ an toàn mà còn bao gồm việc xây dựng hệ thống quản trị tài sản - nguồn vốn, dự báo dòng tiền, đánh giá khả năng chịu đựng trước các cú sốc thanh khoản và duy trì cơ cấu nguồn vốn ổn định phục vụ hoạt động kinh doanh. Do đó, các TCTD cần tận dụng dư địa mà Thông tư số 25/2026/TT-NHNN mang lại để tiếp tục hiện đại hóa công tác quản trị, nâng cao năng lực dự báo và quản lý thanh khoản theo thời gian thực; đồng thời áp dụng các thông lệ quản trị tiên tiến, tăng cường hệ thống cảnh báo sớm và xây dựng các kịch bản ứng phó với biến động của thị trường tiền tệ. Điều này sẽ góp phần nâng cao khả năng chống chịu của từng TCTD cũng như của toàn hệ thống ngân hàng trước các biến động của thị trường.

Thứ ba, nâng cao hiệu quả thanh tra, giám sát và điều hành chính sách trên cơ sở ứng dụng công nghệ

Việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cần được thực hiện đồng bộ với đổi mới phương thức thanh tra, giám sát ngân hàng. Xu hướng quốc tế hiện nay đang chuyển mạnh từ mô hình giám sát truyền thống sang giám sát dựa trên rủi ro kết hợp ứng dụng công nghệ giám sát (SupTech) nhằm nâng cao khả năng phát hiện sớm các dấu hiệu mất an toàn của hệ thống. Trong bối cảnh chuyển đổi số của ngành Ngân hàng đang được đẩy mạnh, NHNN cần tiếp tục đầu tư hoàn thiện hạ tầng dữ liệu dùng chung, mở rộng kết nối và chia sẻ dữ liệu với các cơ quan quản lý có liên quan, đồng thời tăng cường ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data), trí tuệ nhân tạo (AI) và các công cụ phân tích dữ liệu trong hoạt động thanh tra, giám sát. Qua đó, nâng cao chất lượng dự báo, cảnh báo sớm rủi ro, đồng thời hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ và các công cụ an toàn vĩ mô theo hướng chủ động, linh hoạt và hiệu quả hơn.

Thứ tư, tăng cường sự phối hợp đồng bộ giữa chính sách tiền tệ và các chính sách kinh tế vĩ mô

Việc duy trì ổn định tài chính và hỗ trợ tăng trưởng bền vững đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa và các công cụ an toàn vĩ mô nhằm bảo đảm tính nhất quán trong điều hành và nâng cao hiệu quả truyền dẫn chính sách. Trong điều kiện nền kinh tế Việt Nam vẫn phụ thuộc chủ yếu vào tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, việc mở rộng khả năng cung ứng tín dụng cần được triển khai đồng thời với phát triển thị trường vốn, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, đẩy mạnh giải ngân đầu tư công và nâng cao hiệu quả thu hút các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển. Việc đa dạng hóa các kênh dẫn vốn sẽ góp phần giảm áp lực lên hệ thống ngân hàng, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.

5. Kết luận

Thông tư số 25/2025/TT-NHNN là bước hoàn thiện quan trọng trong khuôn khổ pháp lý về các tỷ lệ bảo đảm an toàn của TCTD, góp phần tăng tính linh hoạt trong quản trị nguồn vốn, nâng cao khả năng cung ứng tín dụng cho nền kinh tế và từng bước tiệm cận các thông lệ quốc tế về an toàn ngân hàng. Những điều chỉnh của Thông tư không chỉ hỗ trợ thực hiện hiệu quả mục tiêu điều hành chính sách tiền tệ mà còn củng cố an toàn hệ thống ngân hàng, nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tạo nền tảng cho tăng trưởng kinh tế bền vững. Đây cũng là cơ sở quan trọng để hệ thống ngân hàng Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng cường khả năng chống chịu trước các biến động của thị trường và phát triển theo hướng an toàn, hiện đại, phù hợp với yêu cầu hội nhập quốc tế.

Tài liệu tham khảo

1. BIS (2023), Annual Economic Report, https://www.bis.org/annualeconomicreports/index.htm

2. BCBS (2023), Core Principles for Effective Banking Supervision, Bank for International Settlements.

3. Cục Thống kê (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội năm 2025.

4. IMF (2025), Vietnam: 2025 Article IV Consultation -Staff Report.

5. Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số".

6. Luật Các TCTD (Luật số 32/2024/QH15).

7. Thông tư số 25/2026/TT-NHNN ngày 22/6/2026 của Thống đốc NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

Ngô Huyền Linh
Thanh tra NHNN

Tin bài khác

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bất định chính sách thương mại của Hoa Kỳ không chỉ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực ứng phó trước các cú sốc từ môi trường kinh tế quốc tế và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính - ngân hàng.
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Xem thêm
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bất định chính sách thương mại của Hoa Kỳ không chỉ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực ứng phó trước các cú sốc từ môi trường kinh tế quốc tế và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính - ngân hàng.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy