Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Tóm tắt: Nghiên cứu này phân tích tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2024. Sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (OLS) với đa tác động cố định và phương pháp ước lượng mô-men tổng quát (GMM), kết quả nghiên cứu cho thấy sự gia tăng bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ làm giảm đáng kể tỉ lệ tăng trưởng dư nợ cho vay của các NHTM Việt Nam. Do đó, nghiên cứu khuyến nghị các nhà hoạch định chính sách cần có giải pháp phù hợp để đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và hỗ trợ thanh khoản cho thị trường khi bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ gia tăng.
Từ khóa: Bất định chính sách thương mại, hoạt động cho vay, NHTM.
THE IMPACT OF U.S. TRADE POLICY UNCERTAINTY
ON THE LENDING ACTIVITIES OF VIETNAMESE COMMERCIAL BANKS
Abstract: This study examines the impact of trade policy uncertainty in the United States on the lending activities of Vietnamese commercial banks during the period 2005 - 2024. Using the Ordinary Least Squares (OLS) method with multiple fixed effects and the Generalized Method of Moments (GMM) estimation, the results indicate that an increase in U.S. trade policy uncertainty significantly reduces the loan growth rate of Vietnamese commercial banks. Accordingly, the study recommends that policymakers adopt appropriate measures to diversify export markets and support market liquidity when U.S. trade policy uncertainty rises.
Keywords: Trade policy uncertainty, lending activities, commercial banks.
1. Giới thiệu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng, những thay đổi trong chính sách thương mại của các nền kinh tế lớn, đặc biệt là Hoa Kỳ, có thể gây ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế thế giới. Một trong những yếu tố được chú ý trong những năm gần đây là sự gia tăng bất định chính sách thương mại, phản ánh mức độ bất định của các chủ thể tham gia thị trường.
Nhiều nghiên cứu chỉ ra rằng, bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ có tác động tiêu cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và ngân hàng (Yin và cộng sự, 2024; Hu và cộng sự, 2024). Tuy nhiên, tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến các nền kinh tế mới nổi, đặc biệt là Việt Nam, vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ. Trong khi đó, Việt Nam là nền kinh tế có độ mở cao và phụ thuộc nhiều vào thương mại quốc tế, đặc biệt là Hoa Kỳ - đối tác xuất khẩu quan trọng nhất của Việt Nam. Theo đó, những biến động trong chính sách thương mại của Hoa Kỳ có thể ảnh hưởng tiêu cực đến doanh nghiệp và nhu cầu tín dụng, từ đó ảnh hưởng gián tiếp đến hoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam.
2. Cơ sở lý thuyết về tác động của bất định chính sách thương mại đến hoạt động cho vay của NHTM
2.1. Tác động tích cực
Trọng tâm trong chính sách thuế quan của Hoa Kỳ là điều chỉnh quan hệ thương mại theo hướng bảo vệ lợi ích kinh tế quốc gia, thông qua việc áp dụng hoặc gia tăng thuế quan đối với một số đối tác thương mại. Mặc dù mức thuế cụ thể còn phụ thuộc vào quá trình đàm phán với từng quốc gia, song đối với Hoa Kỳ, xu hướng chung được kỳ vọng là thuế quan sẽ tiếp tục gia tăng ở các mức độ khác nhau, tùy thuộc vào kết quả và tiến triển của các thỏa thuận đạt được.
Khi mức thuế quan tăng lên, các hộ gia đình và doanh nghiệp có xu hướng điều chỉnh hành vi tiêu dùng và đầu tư của mình do lo ngại về sự suy giảm sức mua của đồng tiền. Cụ thể, các hộ gia đình dự đoán rằng, giá cả hàng hóa tăng sẽ dẫn đến việc dời hoạt động tiêu dùng và đầu tư từ tương lai về hiện tại (Caldara và cộng sự, 2020). Do vậy, họ có xu hướng gia tăng chi tiêu, bao gồm việc tích trữ hàng hóa thiết yếu nhằm tránh chi phí cao hơn trong tương lai. Điều này làm gia tăng tổng tiêu dùng trong ngắn hạn. Đồng thời, doanh nghiệp cũng đẩy mạnh đầu tư vào máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu do lo ngại chi phí đầu vào sẽ gia tăng khi thuế quan chính thức có hiệu lực. Kết quả là tổng cầu trong nền kinh tế có xu hướng tăng lên trong ngắn hạn và thúc đẩy hoạt động cho vay của ngân hàng (do tổng cầu trong nền kinh tế tăng lên cũng kéo theo nhu cầu tín dụng lớn hơn). Tuy nhiên, tác động này thường chỉ mang tính ngắn hạn. Khi mặt bằng giá cả tăng lên, thu nhập thực tế của hộ gia đình giảm, dẫn đến xu hướng thắt chặt chi tiêu; đồng thời, doanh nghiệp cũng có xu hướng cắt giảm đầu tư do chi phí gia tăng và triển vọng kinh doanh kém thuận lợi. Hệ quả là nhu cầu tín dụng suy giảm, khiến hoạt động cho vay của các NHTM giảm trong giai đoạn tiếp theo.
2.2. Tác động tiêu cực
Mặc dù việc tăng thuế nhập khẩu là một yếu tố tương đối dễ dự đoán và có thể tạo ra tác động tích cực trong ngắn hạn, nhưng mức độ bất định của chính sách thuế quan lại xuất phát từ nhiều yếu tố khó lường, khiến việc đánh giá tác động trong trung và dài hạn trở nên phức tạp hơn. Cụ thể, những người tham gia thị trường thường khó dự đoán chính xác mức độ điều chỉnh thuế, thời điểm ban hành chính sách, cũng như phản ứng từ các đối tác thương mại. Hơn nữa, những diễn biến bất ngờ trong nền kinh tế toàn cầu hoặc trong các dự án đầu tư cũng có thể làm gia tăng sự bất định về định hướng chính sách thương mại.
Sự bất định trong chính sách thuế quan có thể thúc đẩy hành vi phòng ngừa của các doanh nghiệp Hoa Kỳ, từ đó ảnh hưởng đến các quyết định đầu tư và hoạt động kinh doanh (Caldara và cộng sự, 2020; Yin và cộng sự, 2024). Cụ thể, trong bối cảnh khó có thể dự đoán được sự thay đổi của chính sách và tác động của chúng đến nền kinh tế vĩ mô cũng như hiệu quả của các dự án đầu tư, doanh nghiệp có xu hướng trì hoãn hoặc thu hẹp quy mô đầu tư. Một nguyên nhân quan trọng là đặc tính không thể đảo ngược, hoặc chi phí đảo ngược rất lớn của các quyết định đầu tư - bao gồm các khoản bồi thường hợp đồng, chi phí sa thải lao động, tổn thất khi thanh lý tài sản chưa hoàn thành, chi phí pháp lý, và sự suy giảm uy tín doanh nghiệp trên thị trường.
Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp thường lựa chọn giải pháp tăng tích lũy tiền mặt để duy trì khả năng thanh khoản, đồng thời chờ đợi cho đến khi bất định chính sách được hóa giải (Nguyen, 2021). Tương tự, các hộ gia đình cũng phản ứng bằng cách thắt chặt chi tiêu và gia tăng tiết kiệm như một biện pháp dự phòng trước nguy cơ suy giảm thu nhập hoặc mất việc làm trong tương lai (Nguyen, 2022). Hệ quả là không chỉ đầu tư của khu vực doanh nghiệp mà cả tổng cầu trong nền kinh tế Hoa Kỳ đều bị ảnh hưởng theo chiều hướng suy giảm. Điều này khiến nhu cầu tín dụng ngân hàng trong nền kinh tế suy giảm, ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động cho vay của NHTM.
2.3. Tác động cụ thể đến hoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam
Không chỉ các doanh nghiệp, ngân hàng hay nền kinh tế của Hoa Kỳ bị ảnh hưởng bởi bất định chính sách thuế quan của Hoa Kỳ, các quốc gia có quy mô nền kinh tế nhỏ hoặc có độ mở cao như Việt Nam cũng có thể bị ảnh hưởng không nhỏ. Vì Hoa Kỳ là quốc gia đối tác xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, sự suy giảm tổng cầu tại Hoa Kỳ ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp cũng như nhu cầu tín dụng ngân hàng trong toàn nền kinh tế đất nước.
Nghiên cứu của Nguyen và Vo (2024) cũng đã cung cấp bằng chứng rằng, bất định kinh tế Hoa Kỳ hay toàn cầu đều có ảnh hưởng đáng kể đến nền kinh tế Việt Nam. Do vậy, các doanh nghiệp xuất khẩu tại Việt Nam có thể bị ảnh hưởng không nhỏ từ bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ. Các doanh nghiệp tập trung vào thị trường trong nước vẫn có thể bị ảnh hưởng tiêu cực vì các doanh nghiệp thường là một phần trong chuỗi giá trị phục vụ cho các doanh nghiệp xuất khẩu (Yin và cộng sự, 2024).
Thứ nhất, khi các doanh nghiệp xuất khẩu thu hẹp quy mô hoạt động, các doanh nghiệp có liên kết trong chuỗi cung ứng như nhà cung cấp nguyên vật liệu đầu vào, đơn vị vận tải và logistics, cũng như các doanh nghiệp dịch vụ hỗ trợ sẽ chịu tác động tiêu cực tương ứng (Cui và Li, 2023).
Thứ hai, những doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt là trong các ngành sử dụng nhiều lao động, việc cắt giảm nhân sự sẽ dẫn đến gia tăng tỉ lệ thất nghiệp, từ đó kéo theo suy giảm thu nhập và cuối cùng là giảm tổng cầu trong nền kinh tế. Tác động lan tỏa này có thể ảnh hưởng rộng khắp đến toàn bộ doanh nghiệp trong nước (Wang và cộng sự, 2025).
Thứ ba, sự sụt giảm xuất khẩu làm giảm nguồn cung ngoại tệ, có thể gây áp lực lên tỉ giá hối đoái. Hệ quả là các doanh nghiệp nhập khẩu đối mặt với chi phí hàng hóa quốc tế gia tăng, làm suy yếu hoạt động sản xuất trong nước, từ đó buộc doanh nghiệp phải cắt giảm đầu tư và thu hẹp quy mô sản xuất. Kết quả là nhu cầu tín dụng ngân hàng cũng suy giảm do tổng cầu trong nền kinh tế của Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu cực bởi bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ. Từ đó, giả thuyết nghiên cứu được đưa ra như sau:
H1: Bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ làm giảm hoạt động cho vay của các NHTM Việt Nam.
3. Dữ liệu và mô hình nghiên cứu
3.1. Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu về hoạt động cho vay trong nghiên cứu này được thu thập từ báo cáo tài chính hợp nhất của 39 NHTM tại Việt Nam trong giai đoạn 2005 - 2024. Nhóm tác giả cũng loại bỏ các quan sát có giá trị nhỏ hơn phân vị thứ nhất và lớn hơn phân vị thứ 99 để giảm thiểu tác động của các điểm dữ liệu ngoại lai.
Dữ liệu nghiên cứu về bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ được thu thập từ cơ sở dữ liệu về bất định chính sách thương mại của Caldara và Iacoviello (2020). Chỉ số bất định chính sách thương mại được xây dựng dựa trên tần suất xuất hiện của các thuật ngữ liên quan đến bất định thuế quan trên các tờ báo lớn tại Hoa Kỳ. Chỉ số này được chuẩn hóa để dễ dàng phân tích độ lớn nên hệ số hồi quy được phân tích theo sự tăng lên của độ lệch chuẩn.
Bên cạnh các biến nghiên cứu chính, nghiên cứu này cũng thêm vào mô hình các biến kiểm soát về ngân hàng và vĩ mô mà có thể có ảnh hưởng đến hoạt động cho vay của ngân hàng.
Bảng 1 tóm tắt định nghĩa và nguồn thu thập dữ liệu của các biến được sử dụng trong mô hình nghiên cứu.
![]() |
Bảng 2 cung cấp thống kê mô tả của các biến được sử dụng trong mô hình. Nhìn chung, các NHTM tại Việt Nam có tỉ lệ tăng trưởng dư nợ cho vay thuần khoảng trên 16% trong giai đoạn 2005 - 2024. Giá trị độ lệch chuẩn khá cao so với giá trị bình quân, phản ánh tỉ lệ tăng trưởng cho vay có sự biến động không nhỏ qua các năm hoặc khác nhau đáng kể giữa các ngân hàng.
![]() |
3.2. Mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu được trình bày như sau:
Loangrit= α + β1 TPU_USt + β2 Bankit + β3Macroeconomicst + θi + εit
Trong đó:
Loangrit là tỉ lệ tăng trưởng tổng dư nợ cho vay của ngân hàng i tại thời điểm t;
TPU_USt là chỉ số bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ tại thời điểm t;
Bankit là đại diện cho các biến kiểm soát của ngân hàng i tại thời điểm t;
Macroeconomicst là đại diện các biến kiểm soát vĩ mô tại thời điểm t;
α là hằng số;
β là các hệ số hồi quy cần ước lượng;
θ là tác động cố định của doanh nghiệp (Firm FE);
ε là sai số thông thường.
Phương pháp hồi quy OLS với đa tác động cố định được sử dụng trong nghiên cứu do phương pháp này cho phép kiểm soát đồng thời các tác động cố định của doanh nghiệp cũng như các yếu tố bất biến theo thời gian nhưng không quan sát được, từ đó giúp giảm thiểu sai lệch do biến bị bỏ sót, đồng thời nâng cao hiệu quả ước lượng so với mô hình tác động cố định thông thường.
Bên cạnh đó, mô hình GMM được sử dụng để xác nhận lại kết quả và đồng thời giải quyết vấn đề biến nội sinh. Cụ thể, mô hình GMM cho phép xem xét các biến độc lập chính trong mô hình là nội sinh và sử dụng các biến công cụ nội bộ để giải quyết vấn đề biến nội sinh. Mô hình GMM cũng cho phép thêm biến độ trễ của biến phụ thuộc vào mô hình mà không làm sai lệch các ước lượng OLS để giảm thiểu vấn đề bỏ sót biến, đồng thời phù hợp với cấu trúc dữ liệu bảng lớn của nghiên cứu này.
Bảng 3 mô tả hệ số tương quan giữa các biến. Nhìn chung, hệ số tương quan giữa các biến độc lập khá nhỏ, cho thấy mô hình không có dấu hiệu của hiện tượng đa cộng tuyến nghiêm trọng.
![]() |
4. Kết quả nghiên cứu
4.1. Kết quả nghiên cứu
Kết quả nghiên cứu về tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến tăng trưởng cho vay của các NHTM Việt Nam được mô tả trong Bảng 4. Trong đó, Mô hình (1) được xây dựng như mô hình cơ sở với biến giải thích trọng tâm là bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ. Sau khi kiểm soát hiệu ứng cố định của ngân hàng, kết quả cho thấy bất định gia tăng làm giảm tăng trưởng dư nợ cho vay thuần của các NHTM Việt Nam.
![]() |
![]() |
Kết quả nghiên cứu vẫn nhất quán khi các biến kiểm soát về ngân hàng và vĩ mô được thêm vào Mô hình (2), phán ánh tính vững cao của mối quan hệ này. Mô hình (3) sử dụng tỉ lệ tăng trưởng tổng dư nợ cho vay (Gross loans_gr) thay thế cho tỉ lệ tăng trưởng tổng dư nợ cho vay thuần (Net loans_gr), kết quả nghiên cứu vẫn tiếp tục không đổi. Kết quả này xác nhận lại sự phù hợp của giả thuyết nghiên cứu H1 được đưa ra trước đó.
Xét về mặt độ lớn và giữ nguyên các yếu tố khác trong mô hình, khi mức độ bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ tăng lên một độ lệch chuẩn, ứng với mức tăng 67,6% (53,62/79,29), tỉ lệ tăng trưởng tổng dư nợ cho vay thuần trong Mô hình (2) giảm gần 1,6% (0,676 × 2,359). Vì tỉ lệ tăng trưởng tổng dư nợ cho vay thuần bình quân là 16,24%, sự suy giảm này tương ứng với mức giảm cho vay của ngân hàng khoảng gần 10% (1,6/16,24). Đây là mức giảm rất đáng kể, cho thấy rằng bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ là yếu tố quan trọng làm suy giảm tổng dư nợ cho vay tại các NHTM Việt Nam.
4.2. Giải quyết vấn đề biến nội sinh
Mặc dù nhân quả ngược không phải là vấn đề cần quan tâm trong nghiên cứu này, vì tăng trưởng hoạt động cho vay của NHTM Việt Nam không phải là yếu tố ảnh hưởng đến bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ, kết quả nghiên cứu vẫn có thể bị sai lệch do vấn đề biến nội sinh. Để giải quyết vấn đề biến nội sinh, nhóm tác giả sử dụng phương pháp hồi quy GMM hai bước hệ thống. Phương pháp này phù hợp với cấu trúc dữ liệu bảng lớn trong nghiên cứu với số ngân hàng (N) nhiều hơn giai đoạn thời gian (T). Kết quả nghiên cứu được trình bày trong Bảng 5.
![]() |
![]() |
Hệ số hồi quy của các biến độ trễ của biến phụ thuộc (L.Net loans_gr và L.Gross loans_gr) đều có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, xác nhận sự cần thiết của mô hình hồi quy động để giảm thiểu vấn đề bỏ sót biến độ trễ của biến phụ thuộc. Các kiểm định AR(1), AR(2) và Hansen J cho thấy sự phù hợp của biến công cụ được sử dụng.
Các kết quả trên cho thấy mô hình GMM là hợp lệ. Hệ số hồi quy TPU_US là âm và có ý nghĩa thống kê ở mức 1%, xác nhận rằng, sự gia tăng bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ làm suy giảm tỉ lệ tăng trưởng tổng dư nợ cho vay của các NHTM Việt Nam. Do vậy, kết quả nghiên cứu không bị sai lệch nghiêm trọng do vấn đề biến nội sinh gây ra.
5. Kết luận và một số khuyến nghị chính sách
5.1. Kết luận
Nghiên cứu này phân tích tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay của các NHTM tại Việt Nam. Kết quả nghiên cứu cho thấy bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ là yếu tố làm giảm đáng kể dư nợ cho vay của các NHTM Việt Nam. Phát hiện này cho thấy, sự gia tăng bất định trong chính sách thuế quan của Hoa Kỳ là yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế của Việt Nam bằng cách làm suy giảm nguồn cung tín dụng của các NHTM. Do đó, các nhà làm chính sách cần có giải pháp để hạn chế tác động tiêu cực từ bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ như: Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu và điều chỉnh linh hoạt chỉnh sách tiền tệ nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp.
5.2. Một số khuyến nghị chính sách
Từ các phân tích trên cho thấy, mức độ bất định gia tăng trong chính sách thuế quan của Hoa Kỳ làm suy giảm đáng kể dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng. Điều này chứng tỏ các cú sốc chính sách từ bên ngoài có thể lan truyền qua kênh thương mại và tài chính, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến nguồn cung vốn cho nền kinh tế và làm suy giảm động lực tăng trưởng của Việt Nam.
Từ kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số hàm ý chính sách như sau:
Đối với cơ quan hoạch định chính sách vĩ mô
Cần chủ động giảm thiểu mức độ phụ thuộc vào một thị trường xuất khẩu đơn lẻ thông qua chiến lược đa dạng hóa thị trường và chuỗi cung ứng. Đồng thời, chính sách tiền tệ cần tiếp tục được điều hành linh hoạt nhằm ổn định thanh khoản hệ thống, hỗ trợ khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp khi môi trường bên ngoài có sự biến động mạnh.
Bên cạnh đó, cần tăng cường theo dõi rủi ro lan truyền từ các cú sốc chính sách quốc tế tới hệ thống tài chính - ngân hàng; tích hợp các chỉ báo bất định chính sách thương mại toàn cầu vào khung giám sát an toàn vĩ mô; đồng thời hoàn thiện cơ chế cảnh báo sớm rủi ro tín dụng theo hướng gắn với biến động kinh tế và thương mại quốc tế.
Đối với các NHTM
Cần chủ động đưa chỉ số bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ vào hệ thống quản trị rủi ro và cảnh báo sớm; phát triển các sản phẩm phòng ngừa rủi ro phù hợp với doanh nghiệp xuất nhập khẩu. Đồng thời, cần cơ cấu lại danh mục tín dụng theo hướng đa dạng hóa ngành nghề và thị trường, hạn chế tập trung cho vay vào các doanh nghiệp có mức độ phụ thuộc lớn vào xuất khẩu sang Hoa Kỳ.
* Nghiên cứu này được tài trợ bởi Đại học Phenikaa cho Đề tài mã số PU2025-2-B-02.
Tài liệu tham khảo:
1. Caldara, D., Iacoviell, M., Molligo, P., Prestipino, A., & Raffo, A. (2020), The economic effects of trade policy uncertainty, Journal of Monetary Economics, 109, 38-59.
2. Correa, R., Goldberg, L. S., di Giovanni, J., & Minoiu, C. (2023), Trade uncertainty and U.S. bank lending, Federal Reserve Bank of New York Staff Report No. 1076.
3. Cui, C., & Li, L. S-Z. (2023), Trade policy uncertainty and new firm entry: Evidence from China. Journal of Development Economics, 163. 103093.
4. Hu, D., Lu, J., & Zhao, S. (2024), Does trade policy uncertainty increase commercial banks’ risk-taking? Evidence from China. International Review of Economics & Finance, 89(B), 532-551.
5. Nguyen, G., & Vo, V. (2024), Economic policy uncertainty around the world: Implications for Vietnam. International Review of Economics & Finance, 94. 103349.
6. Nguyen, T. C. (2021), Economic policy uncertainty and bank stability: Does bank regulation and supervision matter in major European economies? Journal of International Financial Markets, Institutions and Money, 74. 101387.
7. Nguyen, T. C. (2022), Economic policy uncertainty: The probability and duration of economic recessions in major European Union countries. Research in International Business and Finance, 62. 101701.
8. Wang, M., Nor, N. M., Rahim, N. A., Khan, F., & Zhou, Z. (2025), Trade policy uncertainty and corporate financialization: strategic implications for non-financial firms in China. Cogent Economics & Finance, 13(1). https://doi.org/10.1080/23322039.2025.2460078
9. Yin, D., Si, D-K., & Wang, Y. (2024), How does corporate investment respond to trade policy uncertainty in China? The role of political connections. Economic Analysis and Policy, 82, 1429-1445.
Tin bài khác
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam
Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam






