Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam

Bài viết khoa học chuyên sâu
Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó cho thấy niềm tin vào ngân hàng số, khả năng kiểm soát tài chính và mức độ số hóa dịch vụ đang trở thành những yếu tố then chốt thúc đẩy hành vi tiêu dùng tài chính hiện đại.
aa

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại (NHTM). Dựa trên mô hình lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) được mở rộng, nghiên cứu khảo sát 252 khách hàng sử dụng thẻ tín dụng thông qua bảng hỏi trực tuyến. Các yếu tố được đưa vào mô hình gồm: Thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, niềm tin vào ngân hàng số và mức độ chuyển đổi số của ngân hàng. Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính bội cho thấy có ba nhân tố có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng, bao gồm: Niềm tin kết hợp với nhận thức kiểm soát hành vi, thái độ và mức độ chuyển đổi số. Ngược lại, chuẩn chủ quan không có ảnh hưởng đáng kể. Nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao niềm tin, tăng cường chuyển đổi số và cải thiện trải nghiệm khách hàng để thúc đẩy hành vi sử dụng thẻ tín dụng trong thời đại số.

Từ khóa: Thẻ tín dụng, chuyển đổi số, NHTM, khách hàng cá nhân.

FACTORS AFFECTING THE DECISION TO USE CREDIT CARDS
OF INDIVIDUAL CUSTOMERS AT VIETNAMESE COMMERCIAL BANKS

Abstract: In the context of rapid digital transformation in Vietnam, this study aims to identify the factors influencing individual customers’ decisions to use credit cards at commercial banks. Based on the extended Theory of Planned Behavior (TPB), a survey of 252 credit card users was conducted through an online questionnaire. The model includes the following factors: attitude, subjective norm, perceived behavioral control, trust in digital banking, and the level of digital transformation of the bank. The multiple linear regression analysis results indicate that three factors have a positive and statistically significant impact on the decision to use credit cards: trust and perceived behavioral control, attitude and the level of digital transformation. In contrast, the subjective norm does not have a significant effect. The study proposes several recommendations to enhance customer trust, accelerate digital transformation, and improve customer experience to promote the use of credit cards in the digital age.

Keywords: Credit card, digital transformation, commercial bank, individual client.

1. Giới thiệu

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, công nghệ số đang làm thay đổi sâu sắc hoạt động kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Xu hướng giảm sử dụng tiền mặt và gia tăng các phương thức thanh toán hiện đại đã thúc đẩy thẻ tín dụng trở thành một công cụ thanh toán quan trọng, góp phần hiện đại hóa hệ thống tài chính và thúc đẩy tiêu dùng cá nhân tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Thẻ tín dụng là phương tiện thanh toán cho phép người dùng chi tiêu trước trong hạn mức được cấp và thanh toán lại sau, qua đó không chỉ đáp ứng nhu cầu tài chính ngắn hạn mà còn hỗ trợ quản lý chi tiêu, nâng cao lịch sử tín dụng và mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính. Đồng thời, việc sử dụng thẻ tín dụng góp phần thúc đẩy tiêu dùng, gia tăng tính minh bạch của giao dịch và hỗ trợ phát triển nền kinh tế không dùng tiền mặt.

Theo Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025, Việt Nam đặt mục tiêu thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao khả năng tiếp cận tài chính của toàn dân. Đây là một trong những yếu tố nền tảng giúp thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân có ý nghĩa thiết thực, giúp các NHTM xây dựng chính sách phù hợp nhằm gia tăng mức độ chấp nhận và sử dụng thẻ, hướng tới phát triển tài chính toàn diện và nền kinh tế số.

2. Tổng quan nghiên cứu

Giữa xu thế phát triển mạnh mẽ của công nghệ hiện đại, các ngân hàng thường có xu hướng đẩy mạnh chuyển đổi số để nâng cao trải nghiệm người dùng, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng.

Các nghiên cứu quốc tế đã chứng minh rằng nhân tố nhân khẩu học có tác động trực tiếp đến hành vi tiêu dùng thẻ tín dụng. Nghiên cứu của Teoh và cộng sự (2013) kết luận rằng, tuổi, thu nhập và tình trạng hôn nhân có mối quan hệ đáng kể với hành vi chi tiêu. Người trong độ tuổi trên 61 thường chi tiêu nhiều hơn so với các nhóm tuổi khác; người đã kết hôn thường chi tiêu nhiều hơn người độc thân. Tác giả lý giải điều này dựa trên khả năng chi tiêu gia tăng do thu nhập cao và nhu cầu chi trả cho gia đình ở nhóm người đã kết hôn. Tương tự vậy, Zandi và cộng sự (2019) thực hiện nghiên cứu tại Malaysia và kết quả thể hiện rằng, thu nhập tiếp tục là nhân tố có mối quan hệ chặt chẽ đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng.

Ngoài thu nhập, các yếu tố như trình độ học vấn, giới tính và tuổi cũng được ghi nhận là có ảnh hưởng đáng kể. Nghiên cứu của Devlin và cộng sự (2007), Singh và Othman (1995) đã chỉ ra rằng, những người càng lớn tuổi thì càng có nhiều khả năng sở hữu một hoặc nhiều thẻ tín dụng. Bởi vì nhóm khách hàng này thường có thu nhập ổn định, tích lũy tài chính tốt hơn, có kinh nghiệm và sự thận trọng cao khi sử dụng các công cụ tín dụng. Tuy nhiên, nghề nghiệp lại không phải là nhân tố có tác động mạnh mẽ đối với việc quyết định sử dụng thẻ (Teoh và cộng sự, 2013). Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các yếu tố nhân khẩu học như thu nhập, độ tuổi, khu vực sinh sống cũng ảnh hưởng đáng kể đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng (Nguyễn Cao Quang Nhật và Bùi Văn Thụy, 2022; Trần Thị Thanh Hương, 2022; Lê Thị Hồng Hạnh và cộng sự, 2023).

Nhóm nhân tố thuộc về cá nhân cũng ảnh hưởng lớn đến việc quyết định sử dụng thẻ tín dụng của người tiêu dùng tại các NHTM. Nghiên cứu của Sari và Rofaida (2011) cho thấy, các yếu tố thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi, chuẩn chủ quan đều ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân. Đồng thời, nghiên cứu của Anastasia và Santoso (2020) cũng cho thấy kết quả tương tự đối với ý định sử dụng thẻ tín dụng của người dùng ở Indonesia.

Chính sách của ngân hàng, đặc biệt là các chương trình khuyến mãi như điểm thưởng, hoàn tiền, hoặc các điều khoản thanh toán linh hoạt... cũng đóng vai trò sâu sắc đến việc quyết định sử dụng thẻ tín dụng. Những khích lệ này không chỉ giúp giảm bớt chi phí cho người tiêu dùng mà còn khuyến khích họ sử dụng thẻ tín dụng nhiều hơn (Chakravortin, 2003; Teoh và cộng sự, 2013). Các chiến lược như giai đoạn miễn lãi hay chính sách miễn phí trọn đời được các ngân hàng áp dụng để lôi kéo người tiêu dùng mới. Với môi trường cạnh tranh căng thẳng, các ngân hàng thường xuyên cải tiến sản phẩm và chính sách ưu đãi để giữ chân người tiêu dùng (Subramaniam và Marimuthu, 2010).

Ngoài ra, công nghệ phát triển cũng tác động mạnh mẽ đến việc tiêu dùng thẻ tín dụng. Nghiên cứu của Basnet và Adonsou (2016) cho thấy sự phát triển rộng rãi của Internet và công nghệ số giúp người tiêu dùng dễ dàng quản lý thẻ tín dụng của mình thông qua các nền tảng trực tuyến. Việc thanh toán trực tuyến an toàn, dễ dàng và nhanh chóng hơn đã thúc đẩy người tiêu dùng gia tăng việc sử dụng thẻ tín dụng trong các giao dịch. Agarwal và Zhang (2020) chứng minh rằng, công nghệ tài chính (Fintech) và hệ thống đo điểm tín dụng ngày càng cải tiến giúp cho các khách hàng cá nhân dễ dàng tiếp cận tín dụng, từ đó ảnh hưởng tích cực đến việc sử dụng thẻ tín dụng. Ramayanti và cộng sự (2024) đã thực hiện nghiên cứu hệ thống về ý định và việc tiêu dùng thực tế trong thanh toán kỹ thuật số, giúp cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương thức mà công nghệ ảnh hưởng đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng.

Tuy nhiên, sự đa dạng của các nhân tố tác động đến hành vi này vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện. Điều này mở ra một khoảng trống lớn trong việc phân tích những yếu tố tác động đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng từ nhiều góc độ khác nhau:

Thứ nhất, nghiên cứu này bổ sung nhân tố niềm tin vào ngân hàng số nhằm làm rõ vai trò của yếu tố tâm lý trong việc hình thành và duy trì hành vi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng.

Thứ hai, nghiên cứu đề xuất đưa mức độ chuyển đổi số của ngân hàng như một biến độc lập nhằm lượng hóa mức độ ứng dụng công nghệ số trong toàn bộ quy trình phát hành, quản lý và sử dụng thẻ tín dụng.

Cuối cùng, nghiên cứu cung cấp một cái nhìn sâu sắc hơn về hành vi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân, từ đó đưa ra khuyến nghị cho NHTM, các tổ chức quản lý trong việc hoàn thiện chính sách, nâng cao chất lượng dịch vụ, và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của các tổ chức phát hành thẻ.

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên mô hình TPB của Ajzen (1991), theo đó hành vi của cá nhân chịu ảnh hưởng bởi ba yếu tố chính gồm: Thái độ (TD), chuẩn chủ quan (CCQ) và nhận thức kiểm soát hành vi (KS). Trong bối cảnh chuyển đổi số của các NHTM, nghiên cứu mở rộng mô hình TPB bằng việc bổ sung hai yếu tố quan trọng là niềm tin vào ngân hàng số (NT) và mức độ chuyển đổi số của ngân hàng (CDS), nhằm phản ánh vai trò của công nghệ và niềm tin trong hành vi quyết định sử dụng thẻ tín dụng (TTD).

Trên cơ sở đó, các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H1: TD có ảnh hưởng tích cực đến TTD.

H2: CCQ có ảnh hưởng tích cực đến TTD.

H3: KS có ảnh hưởng tích cực đến TTD.

H4: NT có ảnh hưởng tích cực đến TTD.

H5: CDS có ảnh hưởng tích cực đến TTD.

Hình 1 trình bày mô hình nghiên cứu đề xuất.

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam

Sau khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA), hai biến NT và KS được hợp nhất thành một nhân tố mới là niềm tin và nhận thức kiểm soát hành vi (NT_KS). Do đó, mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh được biểu diễn như sau:

TTD = β0 + β1 TD + β2 CCQ + β3 NT_KS + β4 CDS

3.2. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với thiết kế cắt ngang (cross-sectional design). Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc đối với 252 khách hàng cá nhân đang sử dụng thẻ tín dụng tại các NHTM Việt Nam trong tháng 3/2025. Thang đo Likert 5 mức độ được sử dụng để đo lường các biến quan sát, từ 1 (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng ý). Các thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước và điều chỉnh phù hợp với bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam.

3.3. Thang đo các biến nghiên cứu

Các biến trong mô hình được đo lường thông qua thang đo đa biến, được kế thừa và phát triển từ các nghiên cứu trước, kết hợp với đề xuất của nhóm tác giả nhằm phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng (Bảng 1).

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam
Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

3.4. Phương pháp phân tích dữ liệu

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0 thông qua các bước phân tích sau:

(i) Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha nhằm loại bỏ các biến quan sát không phù hợp;

(ii) Phân tích EFA để xác định cấu trúc các nhân tố và kiểm định giá trị hội tụ của thang đo;

(iii) Phân tích hồi quy tuyến tính bội nhằm đánh giá mức độ và chiều hướng tác động của các nhân tố đến việc quyết định sử dụng thẻ tín dụng;

(iv) Kiểm định giả thuyết nghiên cứu dựa trên hệ số hồi quy (β) và mức ý nghĩa thống kê (Sig.).

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Mô tả mẫu và kiểm định thang đo

Mẫu nghiên cứu gồm 252 khách hàng cá nhân sử dụng thẻ tín dụng, trong đó nhóm tuổi từ 26 - 35 chiếm tỉ trọng lớn nhất (43,65%), phản ánh nhóm khách hàng chủ lực trên thị trường. Phần lớn người tham gia có trình độ từ đại học trở lên và thu nhập phổ biến từ 10 - 20 triệu đồng/tháng, cho thấy đối tượng sử dụng thẻ tín dụng tập trung ở nhóm có thu nhập và trình độ tương đối ổn định.

Kết quả kiểm định độ tin cậy cho thấy các thang đo đều đạt yêu cầu với hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6. Hai biến quan sát (TD5 và CCQ3) không đạt tiêu chuẩn đã được loại bỏ để đảm bảo tính nhất quán nội tại. Phân tích EFA cho thấy dữ liệu phù hợp với hệ số KMO = 0,907 và Sig. = 0,000; tổng phương sai trích đạt 69,544%, chứng tỏ mô hình có khả năng giải thích tốt. Sau khi hiệu chỉnh, các biến quan sát được nhóm thành bốn nhân tố chính gồm: NT_KS, CDS, TD và CCQ (Bảng 2).

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam

4.2. Kết quả hồi quy và kiểm định giả thuyết

Kết quả hồi quy tuyến tính cho thấy mô hình có độ phù hợp cao với hệ số R² hiệu chỉnh đạt 0,613, nghĩa là các biến độc lập giải thích được 61,3% sự biến thiên của quyết định sử dụng thẻ tín dụng. Kiểm định ANOVA cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,000).

Kết quả ước lượng cho thấy ba nhân tố có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng, bao gồm: NT_KS với hệ số tác động lớn nhất (β = 0,680), tiếp theo là TD (β = 0,337) và CDS (β = 0,237). Ngược lại, CCQ không có ý nghĩa thống kê (Sig. > 0,05) và bị loại khỏi mô hình (Bảng 3).

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam

Phương trình hồi quy ước lượng cho thấy quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân chịu tác động bởi ba nhân tố chính, bao gồm: NT_KS, TD và CDS, với dạng:

TTD = -0,088 + 0,680 NT_KS + 0,337 TD + 0,237 CDS

Kết quả phân tích cho thấy cả ba biến NT_KS, TD và CDS đều có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (Sig. < 0,01). Trong đó, NT_KS là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất (β = 0,680), cho thấy khi mức độ niềm tin và khả năng kiểm soát tài chính của khách hàng tăng lên, TTD sẽ gia tăng tương ứng, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Tiếp theo là TD với hệ số β = 0,337 và CDS với β = 0,237, phản ánh vai trò tích cực của nhận thức cá nhân và nền tảng công nghệ trong việc thúc đẩy hành vi sử dụng thẻ tín dụng. Ngược lại, biến CCQ không có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,482 > 0,05), do đó bị loại khỏi mô hình. Điều này cho thấy các yếu tố xã hội không còn ảnh hưởng đáng kể đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số. Từ kết quả trên, các giả thuyết H1, H3, H4 và H5 được chấp nhận, trong khi giả thuyết H2 bị bác bỏ.

5. Thảo luận kết quả nghiên cứu

Trong mô hình trên, ba nhân tố có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng bao gồm: Niềm tin và nhận thức kiểm soát hành vi, mức độ chuyển đổi số của ngân hàng và thái độ của khách hàng. Trong khi đó, nhân tố chuẩn chủ quan bị loại khỏi mô hình do không đạt ý nghĩa thống kê.

Thứ nhất, nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất là niềm tin và nhận thức kiểm soát hành vi, kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước (Gefen, Karahanna và Straub, 2003) khi các tác giả cho rằng, niềm tin vào hệ thống số, đặc biệt là tính bảo mật, minh bạch và khả năng phản hồi là điều kiện tiên quyết để người dùng chấp nhận giao dịch tài chính trực tuyến. Đồng thời, theo Ajzen (1991), nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh mức độ tự tin của cá nhân trong việc thực hiện hành vi, và đây là một trong ba trụ cột quan trọng trong lý thuyết hành vi hoạch định. Trong môi trường tài chính số, người tiêu dùng sẽ có xu hướng sử dụng thẻ tín dụng nếu họ tin tưởng vào khả năng kiểm soát chi tiêu và trả nợ của bản thân (Amin, 2013; Sari và Rofaida, 2011). Khi khách hàng cảm thấy an tâm về độ bảo mật, minh bạch thông tin và có năng lực tài chính cũng như kỹ năng quản lý nợ tốt, họ sẽ sẵn sàng sử dụng thẻ tín dụng nhiều hơn.

Thứ hai, mức chuyển đổi số của ngân hàng có ảnh hưởng đáng kể và tích cực đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng. Khách hàng đánh giá cao các tính năng như đăng ký thẻ trực tuyến, tích hợp ví điện tử hay cập nhật tính năng liên tục. Những yếu tố này không chỉ mang lại sự tiện lợi mà còn cho thấy năng lực công nghệ của ngân hàng, từ đó gia tăng sự tin tưởng. Kết quả này phù hợp với quan điểm của Vial (2019) cho rằng, chuyển đổi số giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng, tối ưu hóa vận hành và thúc đẩy đổi mới dịch vụ trong ngành tài chính. Đồng thời, định hướng của Chính phủ cũng được phản ánh một phần nhỏ trong việc khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt và mở rộng tài chính toàn diện thông qua nền tảng số.

Thứ ba, yếu tố thái độ khách hàng cũng có sự đồng thuận với nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Hiền và cộng sự (2022), khi thái độ tích cực đối với thẻ tín dụng góp phần thúc đẩy hành vi sử dụng. Thái độ của khách hàng đối với thẻ tín dụng cũng góp phần đáng kể trong việc định hình hành vi sử dụng. Khách hàng có thái độ tích cực về thẻ tín dụng sẽ có xu hướng sử dụng thẻ thường xuyên hơn. Kết quả cũng phù hợp với mô hình TPB của Ajzen (1991). Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của thái độ thấp hơn so với niềm tin và nhận thức kiểm soát hành vi hay mức chuyển đổi số của ngân hàng. Điều này cho thấy trong môi trường số, cảm xúc tích cực thôi là chưa đủ, mà phải đi kèm với trải nghiệm công nghệ thuận tiện và niềm tin mạnh mẽ thì mới dẫn đến hành vi thực tế (Anastasia và Santoso, 2020; Nguyễn Thị Ngọc Hiền và cộng sự, 2022).

Ngược lại, nhân tố chuẩn chủ quan mặc dù xuất phát từ lý thuyết hành vi hoạch định lại không thể hiện được vai trò trong mô hình nghiên cứu này. Có thể do đặc thù người dùng ngày nay thường có xu hướng ra quyết định tài chính dựa trên kinh nghiệm cá nhân và yếu tố công nghệ, hơn là sự tác động từ người khác. Điều này phản ánh sự chuyển dịch hành vi người tiêu dùng trong bối cảnh số hóa ngày càng sâu rộng. Kết quả nghiên cứu đưa ra một kết luận trái ngược so với đa số nghiên cứu truyền thống theo mô hình TPB như của Teoh và cộng sự (2013), Devlin và cộng sự (2007) hay Nguyễn Thị Ngọc Hiền và cộng sự (2022), nơi chuẩn chủ quan được xem là nhân tố có ý nghĩa. Tuy nhiên, điều này lại phù hợp với kết quả nghiên cứu của Vũ và cộng sự (2021) khi cho rằng, chuẩn chủ quan không còn giữ vai trò chủ đạo trong hành vi tài chính trực tuyến. Điều này có thể lý giải bởi nhờ sự phát triển của công nghệ và mạng xã hội, người tiêu dùng đã chủ động tìm kiếm thông tin, đánh giá sản phẩm và ra quyết định một cách độc lập.

6. Một số khuyến nghị chính sách

Trên cơ sở kết quả phân tích mô hình nghiên cứu ở trên, có thể khẳng định rằng quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi số chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó bao gồm các biến số mang tính tâm lý - hành vi (thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi), niềm tin vào ngân hàng số và mức độ số hóa của hệ thống ngân hàng. Mỗi yếu tố không chỉ tác động riêng lẻ mà còn tương tác lẫn nhau, hình thành nên hành vi sử dụng thẻ trong môi trường tài chính số hiện đại. Dựa vào kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số khuyến nghị cho các cơ quan quản lý và NHTM Việt Nam, nhằm nâng cao hiệu quả triển khai dịch vụ thẻ tín dụng:

Đối với cơ quan quản lý

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển dịch vụ thẻ tín dụng trong môi trường số, đồng thời đảm bảo an toàn, minh bạch và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trong đó, cần ban hành các quy định rõ ràng về bảo mật dữ liệu cá nhân, xác thực điện tử và phòng, chống gian lận trong hoạt động ngân hàng số.

Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác giám sát đối với hoạt động phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, đặc biệt trong bối cảnh số hóa nhanh chóng, nhằm hạn chế rủi ro hệ thống. Đồng thời, cơ quan quản lý cũng cần đẩy mạnh các chương trình nâng cao nhận thức tài chính cho người dân, hỗ trợ phổ cập kiến thức về sử dụng thẻ tín dụng an toàn, hiệu quả trong môi trường số. Việc thúc đẩy phát triển hạ tầng thanh toán số đồng bộ và khuyến khích đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực ngân hàng - tài chính cũng là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả triển khai dịch vụ thẻ tín dụng tại Việt Nam.

Đối với các NHTM

Cần chủ động triển khai các giải pháp nhằm thúc đẩy hành vi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng trong bối cảnh chuyển đổi số. Trước hết, cần tăng cường hoạt động truyền thông theo hướng đa kênh, cá nhân hóa nội dung để nâng cao thái độ tích cực của khách hàng đối với sản phẩm thẻ tín dụng, nhấn mạnh các lợi ích như tính tiện lợi, ưu đãi tài chính, mức độ an toàn và khả năng kiểm soát chi tiêu. Đồng thời, cần phát triển các công cụ hỗ trợ quản lý tài chính cá nhân như cảnh báo chi tiêu, phân tích hành vi tiêu dùng, quản lý hạn mức tín dụng, qua đó nâng cao nhận thức kiểm soát hành vi của người dùng.

Ngoài ra, việc củng cố niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng số cần được đặt lên hàng đầu thông qua đầu tư vào hạ tầng bảo mật, áp dụng các giải pháp xác thực đa lớp, giám sát gian lận theo thời gian thực và minh bạch trong chính sách bảo vệ dữ liệu. Cuối cùng, các NHTM cần đẩy mạnh số hóa toàn diện sản phẩm thẻ tín dụng, từ quy trình phát hành đến sử dụng, thông qua eKYC, thẻ ảo, thanh toán số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo để cá nhân hóa trải nghiệm, từ đó gia tăng mức độ gắn kết và tần suất sử dụng của khách hàng.

Tài liệu tham khảo:

1. Agarwal, S., & Zhang, J. (2020), Fintech, lending and payment innovation: A review (SSRN Working Paper No. 3573248). Social Science Research Network. https://ssrn.com/abstract=3573248

2. Ajzen, I. (1991), The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T

3. Amin, H. (2013), Factors influencing Malaysian bank customers to choose Islamic credit cards: Empirical evidence from the TRA model. Journal of Islamic Marketing, 4(3), 245-263. https://doi.org/10.1108/JIMA-02-2012-0013.

4. Basnet, H. C., & Donou-Adonsou, F. (2016), Internet, consumer spending, and credit card balance: Evidence from US consumers. Review of Financial Economics, 30, 11-22. https://doi.org/10.1016/j.rfe.2016.01.002

5. Chakravorti, S. (2003), Theory of credit card networks: A survey of the literature. Review of Network Economics, 2(2), 50-68. https://doi.org/10.2202/1446-9022.1018

6. Devlin, J. F., Worthington, S., & Gerrard, P. (2007), An analysis of main and subsidiary credit card holding and spending. International Journal of Bank Marketing, 25(2), 89-101. https://doi.org/10.1108/02652320710728429

7. Gefen, D., Karahanna, E., & Straub, D. W. (2003), Inexperience and experience with online stores: The importance of TAM and trust. IEEE Transactions on Engineering Management, 50(3), 307-321. https://doi.org/10.1109/TEM.2003.817277

8. Ramayanti, R., Rachmawati, N. A., Azhar, Z., & Nik Azman, N. H. (2024), Exploring intention and actual use in digital payments: A systematic review and roadmap for future research. Computers in Human Behavior Reports, 13, 100348. https://doi.org/10.1016/j.chbr.2023.100348

9. Sari, M., & Rofaida, R. (2011), Factors Affecting the Behavior of University Community to Use Credit Card. International Research Journal of Business Studies, 4(3), 217-228. https://www.researchgate.net/publication/314718126_Factors_Affecting_the_Behavior_of_University_Community_to_Use_Credit_Card.

10. Singh, I. K. D., & Othman, M. N. (1995), Psychographic and demographic profiles of credit card and non-credit cardholders in urban Malaysia. Jurnal Pengurusan, 14, 59-79. https://www.ukm.my/jurnalpengurusan/wp-content/uploads/2022/10/jp_14-4.pdf

11. Subramaniam, R., & Marimuthu, M. (2010), Bank credit card and the selection criteria: An exploratory study. African Journal of Business Management, 4(16), 3463-3472. https://www.researchgate.net/publication/267549489_Bank_credit_card_and_the_selection_criteria_An_exploratory_study

12. Teoh, W. M.-Y., Chong, S.-C., & Yong, S. M. (2013), Exploring the factors influencing credit card spending behavior among Malaysians. International Journal of Bank Marketing, 31(6), 481-500. https://doi.org/10.1108/IJBM-04-2013-0037.

13. Zandi, G., Mansori, S., & Ong, B. H. (2019), The effect of demographic variables and ownership on credit card market in Malaysia. International Journal of Financial Research, 10(5), 359-369. https://doi.org/10.5430/ijfr.v10n5p359

Trần Thị Thu Hường * và cộng sự **
* Học viện Ngân hàng ** Đỗ Văn Hiếu, Trần Quỳnh Trang, Nguyễn Phương Thùy, Nguyễn Thị Thủy Tiên, Nguyễn Quỳnh Trang

Tin bài khác

Rủi ro tín dụng trong dữ liệu bảng tại các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận FEM với sai số chuẩn Driscoll-Kraay, GMM và dự báo Monte-Carlo

Rủi ro tín dụng trong dữ liệu bảng tại các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận FEM với sai số chuẩn Driscoll-Kraay, GMM và dự báo Monte-Carlo

Bài viết sử dụng dữ liệu bảng để phân tích thực nghiệm các yếu tố quyết định rủi ro tín dụng tại 27 ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần trong giai đoạn 2012 - 2024, đồng thời dự báo xu hướng nợ xấu cho giai đoạn tới trong bối cảnh điều hành chính sách tiền tệ dưới các kịch bản khác nhau.
Tác động của truyền miệng điện tử đến ý định mua chéo sản phẩm, dịch vụ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của truyền miệng điện tử đến ý định mua chéo sản phẩm, dịch vụ tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Trong bối cảnh cạnh tranh và chuyển đổi số gia tăng, nghiên cứu cho thấy truyền miệng điện tử (eWOM) đóng vai trò then chốt trong việc thúc đẩy ý định mua chéo sản phẩm, dịch vụ tại các ngân hàng Việt Nam, thông qua việc củng cố niềm tin và hình ảnh thương hiệu, qua đó gợi mở nhiều hàm ý quan trọng cho chiến lược phát triển khách hàng và đa dạng hóa dịch vụ.
Đánh giá rủi ro tín dụng và hiệu quả khoản vay trong mô hình cho vay ngang hàng tại Việt Nam: Bằng chứng định lượng từ bộ dữ liệu khoản vay thử nghiệm

Đánh giá rủi ro tín dụng và hiệu quả khoản vay trong mô hình cho vay ngang hàng tại Việt Nam: Bằng chứng định lượng từ bộ dữ liệu khoản vay thử nghiệm

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng và hiệu quả khoản vay trong mô hình cho vay ngang hàng (P2P Lending) tại Việt Nam, qua đó góp phần làm rõ cơ sở thực nghiệm và đề xuất các hàm ý chính sách đối với quản lý và phát triển mô hình này trong thời gian tới.
Hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu và nghịch lý tiếp cận tài chính của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu và nghịch lý tiếp cận tài chính của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích mối quan hệ giữa hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu và tiếp cận tài chính của doanh nghiệp, chỉ ra “nghịch lý tiếp cận tài chính” khi tín dụng thực tế được cải thiện nhưng mức độ cảm nhận của doanh nghiệp không thay đổi, từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Ảnh hưởng yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận phương pháp DEA-Bootstrap

Ảnh hưởng yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận phương pháp DEA-Bootstrap

Bài viết phân tích tác động của các yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn 2014 - 2024, qua đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm nhằm gợi mở các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng.
Hiệu quả kinh tế vĩ mô và hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Hiệu quả kinh tế vĩ mô và hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết sử dụng bộ dữ liệu từ Khảo sát Môi trường Kinh doanh và Hiệu quả Doanh nghiệp (BEEPS) của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD) và Khảo sát Doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới giai đoạn 2018 - 2025 để phân tích vai trò của điều kiện kinh tế vĩ mô đối với quyết định quản lý năng lượng và theo dõi phát thải CO₂ của doanh nghiệp, qua đó làm rõ những động lực và rào cản cấu trúc trong tiến trình chuyển đổi xanh. Thông qua bộ dữ liệu đa quốc gia gồm 59.846 doanh nghiệp tại 68 quốc gia trong giai đoạn 2018 - 2025, nhóm tác giả sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (OLS) với các đặc tả trọng số khác nhau và phân tích theo châu lục. Từ đó, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò khác biệt của cấu trúc sở hữu đối với quyết định giảm phát thải của doanh nghiệp, đồng thời làm rõ sự chi phối của điều kiện tài chính và bối cảnh thể chế trong việc thúc đẩy hành động khí hậu ở cấp độ doanh nghiệp.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Xem thêm
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam