Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam

Bài viết khoa học chuyên sâu
Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại ngân hàng trong bối cảnh chuyển đổi số, qua đó cho thấy niềm tin vào ngân hàng số, khả năng kiểm soát tài chính và mức độ số hóa dịch vụ đang trở thành những yếu tố then chốt thúc đẩy hành vi tiêu dùng tài chính hiện đại.
aa

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số đang diễn ra mạnh mẽ tại Việt Nam, nghiên cứu này nhằm xác định các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng thương mại (NHTM). Dựa trên mô hình lý thuyết hành vi hoạch định (TPB) được mở rộng, nghiên cứu khảo sát 252 khách hàng sử dụng thẻ tín dụng thông qua bảng hỏi trực tuyến. Các yếu tố được đưa vào mô hình gồm: Thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi, niềm tin vào ngân hàng số và mức độ chuyển đổi số của ngân hàng. Kết quả phân tích hồi quy tuyến tính bội cho thấy có ba nhân tố có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng, bao gồm: Niềm tin kết hợp với nhận thức kiểm soát hành vi, thái độ và mức độ chuyển đổi số. Ngược lại, chuẩn chủ quan không có ảnh hưởng đáng kể. Nghiên cứu đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao niềm tin, tăng cường chuyển đổi số và cải thiện trải nghiệm khách hàng để thúc đẩy hành vi sử dụng thẻ tín dụng trong thời đại số.

Từ khóa: Thẻ tín dụng, chuyển đổi số, NHTM, khách hàng cá nhân.

FACTORS AFFECTING THE DECISION TO USE CREDIT CARDS
OF INDIVIDUAL CUSTOMERS AT VIETNAMESE COMMERCIAL BANKS

Abstract: In the context of rapid digital transformation in Vietnam, this study aims to identify the factors influencing individual customers’ decisions to use credit cards at commercial banks. Based on the extended Theory of Planned Behavior (TPB), a survey of 252 credit card users was conducted through an online questionnaire. The model includes the following factors: attitude, subjective norm, perceived behavioral control, trust in digital banking, and the level of digital transformation of the bank. The multiple linear regression analysis results indicate that three factors have a positive and statistically significant impact on the decision to use credit cards: trust and perceived behavioral control, attitude and the level of digital transformation. In contrast, the subjective norm does not have a significant effect. The study proposes several recommendations to enhance customer trust, accelerate digital transformation, and improve customer experience to promote the use of credit cards in the digital age.

Keywords: Credit card, digital transformation, commercial bank, individual client.

1. Giới thiệu

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, công nghệ số đang làm thay đổi sâu sắc hoạt động kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Xu hướng giảm sử dụng tiền mặt và gia tăng các phương thức thanh toán hiện đại đã thúc đẩy thẻ tín dụng trở thành một công cụ thanh toán quan trọng, góp phần hiện đại hóa hệ thống tài chính và thúc đẩy tiêu dùng cá nhân tại nhiều quốc gia, trong đó có Việt Nam. Thẻ tín dụng là phương tiện thanh toán cho phép người dùng chi tiêu trước trong hạn mức được cấp và thanh toán lại sau, qua đó không chỉ đáp ứng nhu cầu tài chính ngắn hạn mà còn hỗ trợ quản lý chi tiêu, nâng cao lịch sử tín dụng và mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính. Đồng thời, việc sử dụng thẻ tín dụng góp phần thúc đẩy tiêu dùng, gia tăng tính minh bạch của giao dịch và hỗ trợ phát triển nền kinh tế không dùng tiền mặt.

Theo Quyết định số 1813/QĐ-TTg ngày 28/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam giai đoạn 2021 - 2025, Việt Nam đặt mục tiêu thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao khả năng tiếp cận tài chính của toàn dân. Đây là một trong những yếu tố nền tảng giúp thị trường thẻ tín dụng tại Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân có ý nghĩa thiết thực, giúp các NHTM xây dựng chính sách phù hợp nhằm gia tăng mức độ chấp nhận và sử dụng thẻ, hướng tới phát triển tài chính toàn diện và nền kinh tế số.

2. Tổng quan nghiên cứu

Giữa xu thế phát triển mạnh mẽ của công nghệ hiện đại, các ngân hàng thường có xu hướng đẩy mạnh chuyển đổi số để nâng cao trải nghiệm người dùng, đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước phân tích dưới nhiều góc độ khác nhau về các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng.

Các nghiên cứu quốc tế đã chứng minh rằng nhân tố nhân khẩu học có tác động trực tiếp đến hành vi tiêu dùng thẻ tín dụng. Nghiên cứu của Teoh và cộng sự (2013) kết luận rằng, tuổi, thu nhập và tình trạng hôn nhân có mối quan hệ đáng kể với hành vi chi tiêu. Người trong độ tuổi trên 61 thường chi tiêu nhiều hơn so với các nhóm tuổi khác; người đã kết hôn thường chi tiêu nhiều hơn người độc thân. Tác giả lý giải điều này dựa trên khả năng chi tiêu gia tăng do thu nhập cao và nhu cầu chi trả cho gia đình ở nhóm người đã kết hôn. Tương tự vậy, Zandi và cộng sự (2019) thực hiện nghiên cứu tại Malaysia và kết quả thể hiện rằng, thu nhập tiếp tục là nhân tố có mối quan hệ chặt chẽ đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng.

Ngoài thu nhập, các yếu tố như trình độ học vấn, giới tính và tuổi cũng được ghi nhận là có ảnh hưởng đáng kể. Nghiên cứu của Devlin và cộng sự (2007), Singh và Othman (1995) đã chỉ ra rằng, những người càng lớn tuổi thì càng có nhiều khả năng sở hữu một hoặc nhiều thẻ tín dụng. Bởi vì nhóm khách hàng này thường có thu nhập ổn định, tích lũy tài chính tốt hơn, có kinh nghiệm và sự thận trọng cao khi sử dụng các công cụ tín dụng. Tuy nhiên, nghề nghiệp lại không phải là nhân tố có tác động mạnh mẽ đối với việc quyết định sử dụng thẻ (Teoh và cộng sự, 2013). Tại Việt Nam, nhiều nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, các yếu tố nhân khẩu học như thu nhập, độ tuổi, khu vực sinh sống cũng ảnh hưởng đáng kể đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng (Nguyễn Cao Quang Nhật và Bùi Văn Thụy, 2022; Trần Thị Thanh Hương, 2022; Lê Thị Hồng Hạnh và cộng sự, 2023).

Nhóm nhân tố thuộc về cá nhân cũng ảnh hưởng lớn đến việc quyết định sử dụng thẻ tín dụng của người tiêu dùng tại các NHTM. Nghiên cứu của Sari và Rofaida (2011) cho thấy, các yếu tố thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi, chuẩn chủ quan đều ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân. Đồng thời, nghiên cứu của Anastasia và Santoso (2020) cũng cho thấy kết quả tương tự đối với ý định sử dụng thẻ tín dụng của người dùng ở Indonesia.

Chính sách của ngân hàng, đặc biệt là các chương trình khuyến mãi như điểm thưởng, hoàn tiền, hoặc các điều khoản thanh toán linh hoạt... cũng đóng vai trò sâu sắc đến việc quyết định sử dụng thẻ tín dụng. Những khích lệ này không chỉ giúp giảm bớt chi phí cho người tiêu dùng mà còn khuyến khích họ sử dụng thẻ tín dụng nhiều hơn (Chakravortin, 2003; Teoh và cộng sự, 2013). Các chiến lược như giai đoạn miễn lãi hay chính sách miễn phí trọn đời được các ngân hàng áp dụng để lôi kéo người tiêu dùng mới. Với môi trường cạnh tranh căng thẳng, các ngân hàng thường xuyên cải tiến sản phẩm và chính sách ưu đãi để giữ chân người tiêu dùng (Subramaniam và Marimuthu, 2010).

Ngoài ra, công nghệ phát triển cũng tác động mạnh mẽ đến việc tiêu dùng thẻ tín dụng. Nghiên cứu của Basnet và Adonsou (2016) cho thấy sự phát triển rộng rãi của Internet và công nghệ số giúp người tiêu dùng dễ dàng quản lý thẻ tín dụng của mình thông qua các nền tảng trực tuyến. Việc thanh toán trực tuyến an toàn, dễ dàng và nhanh chóng hơn đã thúc đẩy người tiêu dùng gia tăng việc sử dụng thẻ tín dụng trong các giao dịch. Agarwal và Zhang (2020) chứng minh rằng, công nghệ tài chính (Fintech) và hệ thống đo điểm tín dụng ngày càng cải tiến giúp cho các khách hàng cá nhân dễ dàng tiếp cận tín dụng, từ đó ảnh hưởng tích cực đến việc sử dụng thẻ tín dụng. Ramayanti và cộng sự (2024) đã thực hiện nghiên cứu hệ thống về ý định và việc tiêu dùng thực tế trong thanh toán kỹ thuật số, giúp cung cấp cái nhìn sâu sắc về phương thức mà công nghệ ảnh hưởng đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng.

Tuy nhiên, sự đa dạng của các nhân tố tác động đến hành vi này vẫn chưa được nghiên cứu một cách đầy đủ và toàn diện. Điều này mở ra một khoảng trống lớn trong việc phân tích những yếu tố tác động đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng từ nhiều góc độ khác nhau:

Thứ nhất, nghiên cứu này bổ sung nhân tố niềm tin vào ngân hàng số nhằm làm rõ vai trò của yếu tố tâm lý trong việc hình thành và duy trì hành vi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng.

Thứ hai, nghiên cứu đề xuất đưa mức độ chuyển đổi số của ngân hàng như một biến độc lập nhằm lượng hóa mức độ ứng dụng công nghệ số trong toàn bộ quy trình phát hành, quản lý và sử dụng thẻ tín dụng.

Cuối cùng, nghiên cứu cung cấp một cái nhìn sâu sắc hơn về hành vi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân, từ đó đưa ra khuyến nghị cho NHTM, các tổ chức quản lý trong việc hoàn thiện chính sách, nâng cao chất lượng dịch vụ, và tối ưu hóa hiệu quả hoạt động của các tổ chức phát hành thẻ.

3. Phương pháp nghiên cứu

3.1. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên mô hình TPB của Ajzen (1991), theo đó hành vi của cá nhân chịu ảnh hưởng bởi ba yếu tố chính gồm: Thái độ (TD), chuẩn chủ quan (CCQ) và nhận thức kiểm soát hành vi (KS). Trong bối cảnh chuyển đổi số của các NHTM, nghiên cứu mở rộng mô hình TPB bằng việc bổ sung hai yếu tố quan trọng là niềm tin vào ngân hàng số (NT) và mức độ chuyển đổi số của ngân hàng (CDS), nhằm phản ánh vai trò của công nghệ và niềm tin trong hành vi quyết định sử dụng thẻ tín dụng (TTD).

Trên cơ sở đó, các giả thuyết nghiên cứu được đề xuất như sau:

H1: TD có ảnh hưởng tích cực đến TTD.

H2: CCQ có ảnh hưởng tích cực đến TTD.

H3: KS có ảnh hưởng tích cực đến TTD.

H4: NT có ảnh hưởng tích cực đến TTD.

H5: CDS có ảnh hưởng tích cực đến TTD.

Hình 1 trình bày mô hình nghiên cứu đề xuất.

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam

Sau khi thực hiện phân tích nhân tố khám phá (EFA), hai biến NT và KS được hợp nhất thành một nhân tố mới là niềm tin và nhận thức kiểm soát hành vi (NT_KS). Do đó, mô hình nghiên cứu hiệu chỉnh được biểu diễn như sau:

TTD = β0 + β1 TD + β2 CCQ + β3 NT_KS + β4 CDS

3.2. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp định lượng với thiết kế cắt ngang (cross-sectional design). Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua khảo sát bằng bảng hỏi cấu trúc đối với 252 khách hàng cá nhân đang sử dụng thẻ tín dụng tại các NHTM Việt Nam trong tháng 3/2025. Thang đo Likert 5 mức độ được sử dụng để đo lường các biến quan sát, từ 1 (hoàn toàn không đồng ý) đến 5 (hoàn toàn đồng ý). Các thang đo được kế thừa từ các nghiên cứu trước và điều chỉnh phù hợp với bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam.

3.3. Thang đo các biến nghiên cứu

Các biến trong mô hình được đo lường thông qua thang đo đa biến, được kế thừa và phát triển từ các nghiên cứu trước, kết hợp với đề xuất của nhóm tác giả nhằm phù hợp với bối cảnh chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng (Bảng 1).

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam
Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam
Nguồn: Tổng hợp của nhóm tác giả

3.4. Phương pháp phân tích dữ liệu

Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS 26.0 thông qua các bước phân tích sau:

(i) Kiểm định độ tin cậy thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha nhằm loại bỏ các biến quan sát không phù hợp;

(ii) Phân tích EFA để xác định cấu trúc các nhân tố và kiểm định giá trị hội tụ của thang đo;

(iii) Phân tích hồi quy tuyến tính bội nhằm đánh giá mức độ và chiều hướng tác động của các nhân tố đến việc quyết định sử dụng thẻ tín dụng;

(iv) Kiểm định giả thuyết nghiên cứu dựa trên hệ số hồi quy (β) và mức ý nghĩa thống kê (Sig.).

4. Kết quả nghiên cứu

4.1. Mô tả mẫu và kiểm định thang đo

Mẫu nghiên cứu gồm 252 khách hàng cá nhân sử dụng thẻ tín dụng, trong đó nhóm tuổi từ 26 - 35 chiếm tỉ trọng lớn nhất (43,65%), phản ánh nhóm khách hàng chủ lực trên thị trường. Phần lớn người tham gia có trình độ từ đại học trở lên và thu nhập phổ biến từ 10 - 20 triệu đồng/tháng, cho thấy đối tượng sử dụng thẻ tín dụng tập trung ở nhóm có thu nhập và trình độ tương đối ổn định.

Kết quả kiểm định độ tin cậy cho thấy các thang đo đều đạt yêu cầu với hệ số Cronbach’s Alpha lớn hơn 0,6. Hai biến quan sát (TD5 và CCQ3) không đạt tiêu chuẩn đã được loại bỏ để đảm bảo tính nhất quán nội tại. Phân tích EFA cho thấy dữ liệu phù hợp với hệ số KMO = 0,907 và Sig. = 0,000; tổng phương sai trích đạt 69,544%, chứng tỏ mô hình có khả năng giải thích tốt. Sau khi hiệu chỉnh, các biến quan sát được nhóm thành bốn nhân tố chính gồm: NT_KS, CDS, TD và CCQ (Bảng 2).

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam

4.2. Kết quả hồi quy và kiểm định giả thuyết

Kết quả hồi quy tuyến tính cho thấy mô hình có độ phù hợp cao với hệ số R² hiệu chỉnh đạt 0,613, nghĩa là các biến độc lập giải thích được 61,3% sự biến thiên của quyết định sử dụng thẻ tín dụng. Kiểm định ANOVA cho thấy mô hình có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,000).

Kết quả ước lượng cho thấy ba nhân tố có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng, bao gồm: NT_KS với hệ số tác động lớn nhất (β = 0,680), tiếp theo là TD (β = 0,337) và CDS (β = 0,237). Ngược lại, CCQ không có ý nghĩa thống kê (Sig. > 0,05) và bị loại khỏi mô hình (Bảng 3).

Nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân tại các ngân hàng Việt Nam

Phương trình hồi quy ước lượng cho thấy quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân chịu tác động bởi ba nhân tố chính, bao gồm: NT_KS, TD và CDS, với dạng:

TTD = -0,088 + 0,680 NT_KS + 0,337 TD + 0,237 CDS

Kết quả phân tích cho thấy cả ba biến NT_KS, TD và CDS đều có tác động cùng chiều và có ý nghĩa thống kê ở mức 1% (Sig. < 0,01). Trong đó, NT_KS là nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất (β = 0,680), cho thấy khi mức độ niềm tin và khả năng kiểm soát tài chính của khách hàng tăng lên, TTD sẽ gia tăng tương ứng, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi. Tiếp theo là TD với hệ số β = 0,337 và CDS với β = 0,237, phản ánh vai trò tích cực của nhận thức cá nhân và nền tảng công nghệ trong việc thúc đẩy hành vi sử dụng thẻ tín dụng. Ngược lại, biến CCQ không có ý nghĩa thống kê (Sig. = 0,482 > 0,05), do đó bị loại khỏi mô hình. Điều này cho thấy các yếu tố xã hội không còn ảnh hưởng đáng kể đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số. Từ kết quả trên, các giả thuyết H1, H3, H4 và H5 được chấp nhận, trong khi giả thuyết H2 bị bác bỏ.

5. Thảo luận kết quả nghiên cứu

Trong mô hình trên, ba nhân tố có ảnh hưởng tích cực và có ý nghĩa thống kê đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng bao gồm: Niềm tin và nhận thức kiểm soát hành vi, mức độ chuyển đổi số của ngân hàng và thái độ của khách hàng. Trong khi đó, nhân tố chuẩn chủ quan bị loại khỏi mô hình do không đạt ý nghĩa thống kê.

Thứ nhất, nhân tố có ảnh hưởng mạnh nhất là niềm tin và nhận thức kiểm soát hành vi, kết quả này phù hợp với các nghiên cứu trước (Gefen, Karahanna và Straub, 2003) khi các tác giả cho rằng, niềm tin vào hệ thống số, đặc biệt là tính bảo mật, minh bạch và khả năng phản hồi là điều kiện tiên quyết để người dùng chấp nhận giao dịch tài chính trực tuyến. Đồng thời, theo Ajzen (1991), nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh mức độ tự tin của cá nhân trong việc thực hiện hành vi, và đây là một trong ba trụ cột quan trọng trong lý thuyết hành vi hoạch định. Trong môi trường tài chính số, người tiêu dùng sẽ có xu hướng sử dụng thẻ tín dụng nếu họ tin tưởng vào khả năng kiểm soát chi tiêu và trả nợ của bản thân (Amin, 2013; Sari và Rofaida, 2011). Khi khách hàng cảm thấy an tâm về độ bảo mật, minh bạch thông tin và có năng lực tài chính cũng như kỹ năng quản lý nợ tốt, họ sẽ sẵn sàng sử dụng thẻ tín dụng nhiều hơn.

Thứ hai, mức chuyển đổi số của ngân hàng có ảnh hưởng đáng kể và tích cực đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng. Khách hàng đánh giá cao các tính năng như đăng ký thẻ trực tuyến, tích hợp ví điện tử hay cập nhật tính năng liên tục. Những yếu tố này không chỉ mang lại sự tiện lợi mà còn cho thấy năng lực công nghệ của ngân hàng, từ đó gia tăng sự tin tưởng. Kết quả này phù hợp với quan điểm của Vial (2019) cho rằng, chuyển đổi số giúp nâng cao trải nghiệm khách hàng, tối ưu hóa vận hành và thúc đẩy đổi mới dịch vụ trong ngành tài chính. Đồng thời, định hướng của Chính phủ cũng được phản ánh một phần nhỏ trong việc khuyến khích thanh toán không dùng tiền mặt và mở rộng tài chính toàn diện thông qua nền tảng số.

Thứ ba, yếu tố thái độ khách hàng cũng có sự đồng thuận với nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Hiền và cộng sự (2022), khi thái độ tích cực đối với thẻ tín dụng góp phần thúc đẩy hành vi sử dụng. Thái độ của khách hàng đối với thẻ tín dụng cũng góp phần đáng kể trong việc định hình hành vi sử dụng. Khách hàng có thái độ tích cực về thẻ tín dụng sẽ có xu hướng sử dụng thẻ thường xuyên hơn. Kết quả cũng phù hợp với mô hình TPB của Ajzen (1991). Tuy nhiên, mức độ ảnh hưởng của thái độ thấp hơn so với niềm tin và nhận thức kiểm soát hành vi hay mức chuyển đổi số của ngân hàng. Điều này cho thấy trong môi trường số, cảm xúc tích cực thôi là chưa đủ, mà phải đi kèm với trải nghiệm công nghệ thuận tiện và niềm tin mạnh mẽ thì mới dẫn đến hành vi thực tế (Anastasia và Santoso, 2020; Nguyễn Thị Ngọc Hiền và cộng sự, 2022).

Ngược lại, nhân tố chuẩn chủ quan mặc dù xuất phát từ lý thuyết hành vi hoạch định lại không thể hiện được vai trò trong mô hình nghiên cứu này. Có thể do đặc thù người dùng ngày nay thường có xu hướng ra quyết định tài chính dựa trên kinh nghiệm cá nhân và yếu tố công nghệ, hơn là sự tác động từ người khác. Điều này phản ánh sự chuyển dịch hành vi người tiêu dùng trong bối cảnh số hóa ngày càng sâu rộng. Kết quả nghiên cứu đưa ra một kết luận trái ngược so với đa số nghiên cứu truyền thống theo mô hình TPB như của Teoh và cộng sự (2013), Devlin và cộng sự (2007) hay Nguyễn Thị Ngọc Hiền và cộng sự (2022), nơi chuẩn chủ quan được xem là nhân tố có ý nghĩa. Tuy nhiên, điều này lại phù hợp với kết quả nghiên cứu của Vũ và cộng sự (2021) khi cho rằng, chuẩn chủ quan không còn giữ vai trò chủ đạo trong hành vi tài chính trực tuyến. Điều này có thể lý giải bởi nhờ sự phát triển của công nghệ và mạng xã hội, người tiêu dùng đã chủ động tìm kiếm thông tin, đánh giá sản phẩm và ra quyết định một cách độc lập.

6. Một số khuyến nghị chính sách

Trên cơ sở kết quả phân tích mô hình nghiên cứu ở trên, có thể khẳng định rằng quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng cá nhân trong bối cảnh chuyển đổi số chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, trong đó bao gồm các biến số mang tính tâm lý - hành vi (thái độ, nhận thức kiểm soát hành vi), niềm tin vào ngân hàng số và mức độ số hóa của hệ thống ngân hàng. Mỗi yếu tố không chỉ tác động riêng lẻ mà còn tương tác lẫn nhau, hình thành nên hành vi sử dụng thẻ trong môi trường tài chính số hiện đại. Dựa vào kết quả nghiên cứu, nhóm tác giả đề xuất một số khuyến nghị cho các cơ quan quản lý và NHTM Việt Nam, nhằm nâng cao hiệu quả triển khai dịch vụ thẻ tín dụng:

Đối với cơ quan quản lý

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển dịch vụ thẻ tín dụng trong môi trường số, đồng thời đảm bảo an toàn, minh bạch và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trong đó, cần ban hành các quy định rõ ràng về bảo mật dữ liệu cá nhân, xác thực điện tử và phòng, chống gian lận trong hoạt động ngân hàng số.

Bên cạnh đó, cần tăng cường công tác giám sát đối với hoạt động phát hành và sử dụng thẻ tín dụng, đặc biệt trong bối cảnh số hóa nhanh chóng, nhằm hạn chế rủi ro hệ thống. Đồng thời, cơ quan quản lý cũng cần đẩy mạnh các chương trình nâng cao nhận thức tài chính cho người dân, hỗ trợ phổ cập kiến thức về sử dụng thẻ tín dụng an toàn, hiệu quả trong môi trường số. Việc thúc đẩy phát triển hạ tầng thanh toán số đồng bộ và khuyến khích đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực ngân hàng - tài chính cũng là yếu tố quan trọng góp phần nâng cao hiệu quả triển khai dịch vụ thẻ tín dụng tại Việt Nam.

Đối với các NHTM

Cần chủ động triển khai các giải pháp nhằm thúc đẩy hành vi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng trong bối cảnh chuyển đổi số. Trước hết, cần tăng cường hoạt động truyền thông theo hướng đa kênh, cá nhân hóa nội dung để nâng cao thái độ tích cực của khách hàng đối với sản phẩm thẻ tín dụng, nhấn mạnh các lợi ích như tính tiện lợi, ưu đãi tài chính, mức độ an toàn và khả năng kiểm soát chi tiêu. Đồng thời, cần phát triển các công cụ hỗ trợ quản lý tài chính cá nhân như cảnh báo chi tiêu, phân tích hành vi tiêu dùng, quản lý hạn mức tín dụng, qua đó nâng cao nhận thức kiểm soát hành vi của người dùng.

Ngoài ra, việc củng cố niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng số cần được đặt lên hàng đầu thông qua đầu tư vào hạ tầng bảo mật, áp dụng các giải pháp xác thực đa lớp, giám sát gian lận theo thời gian thực và minh bạch trong chính sách bảo vệ dữ liệu. Cuối cùng, các NHTM cần đẩy mạnh số hóa toàn diện sản phẩm thẻ tín dụng, từ quy trình phát hành đến sử dụng, thông qua eKYC, thẻ ảo, thanh toán số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo để cá nhân hóa trải nghiệm, từ đó gia tăng mức độ gắn kết và tần suất sử dụng của khách hàng.

Tài liệu tham khảo:

1. Agarwal, S., & Zhang, J. (2020), Fintech, lending and payment innovation: A review (SSRN Working Paper No. 3573248). Social Science Research Network. https://ssrn.com/abstract=3573248

2. Ajzen, I. (1991), The theory of planned behavior. Organizational Behavior and Human Decision Processes, 50(2), 179-211. https://doi.org/10.1016/0749-5978(91)90020-T

3. Amin, H. (2013), Factors influencing Malaysian bank customers to choose Islamic credit cards: Empirical evidence from the TRA model. Journal of Islamic Marketing, 4(3), 245-263. https://doi.org/10.1108/JIMA-02-2012-0013.

4. Basnet, H. C., & Donou-Adonsou, F. (2016), Internet, consumer spending, and credit card balance: Evidence from US consumers. Review of Financial Economics, 30, 11-22. https://doi.org/10.1016/j.rfe.2016.01.002

5. Chakravorti, S. (2003), Theory of credit card networks: A survey of the literature. Review of Network Economics, 2(2), 50-68. https://doi.org/10.2202/1446-9022.1018

6. Devlin, J. F., Worthington, S., & Gerrard, P. (2007), An analysis of main and subsidiary credit card holding and spending. International Journal of Bank Marketing, 25(2), 89-101. https://doi.org/10.1108/02652320710728429

7. Gefen, D., Karahanna, E., & Straub, D. W. (2003), Inexperience and experience with online stores: The importance of TAM and trust. IEEE Transactions on Engineering Management, 50(3), 307-321. https://doi.org/10.1109/TEM.2003.817277

8. Ramayanti, R., Rachmawati, N. A., Azhar, Z., & Nik Azman, N. H. (2024), Exploring intention and actual use in digital payments: A systematic review and roadmap for future research. Computers in Human Behavior Reports, 13, 100348. https://doi.org/10.1016/j.chbr.2023.100348

9. Sari, M., & Rofaida, R. (2011), Factors Affecting the Behavior of University Community to Use Credit Card. International Research Journal of Business Studies, 4(3), 217-228. https://www.researchgate.net/publication/314718126_Factors_Affecting_the_Behavior_of_University_Community_to_Use_Credit_Card.

10. Singh, I. K. D., & Othman, M. N. (1995), Psychographic and demographic profiles of credit card and non-credit cardholders in urban Malaysia. Jurnal Pengurusan, 14, 59-79. https://www.ukm.my/jurnalpengurusan/wp-content/uploads/2022/10/jp_14-4.pdf

11. Subramaniam, R., & Marimuthu, M. (2010), Bank credit card and the selection criteria: An exploratory study. African Journal of Business Management, 4(16), 3463-3472. https://www.researchgate.net/publication/267549489_Bank_credit_card_and_the_selection_criteria_An_exploratory_study

12. Teoh, W. M.-Y., Chong, S.-C., & Yong, S. M. (2013), Exploring the factors influencing credit card spending behavior among Malaysians. International Journal of Bank Marketing, 31(6), 481-500. https://doi.org/10.1108/IJBM-04-2013-0037.

13. Zandi, G., Mansori, S., & Ong, B. H. (2019), The effect of demographic variables and ownership on credit card market in Malaysia. International Journal of Financial Research, 10(5), 359-369. https://doi.org/10.5430/ijfr.v10n5p359

Trần Thị Thu Hường * và cộng sự **
* Học viện Ngân hàng ** Đỗ Văn Hiếu, Trần Quỳnh Trang, Nguyễn Phương Thùy, Nguyễn Thị Thủy Tiên, Nguyễn Quỳnh Trang

Tin bài khác

Đánh giá rủi ro tín dụng và hiệu quả khoản vay trong mô hình cho vay ngang hàng tại Việt Nam: Bằng chứng định lượng từ bộ dữ liệu khoản vay thử nghiệm

Đánh giá rủi ro tín dụng và hiệu quả khoản vay trong mô hình cho vay ngang hàng tại Việt Nam: Bằng chứng định lượng từ bộ dữ liệu khoản vay thử nghiệm

Bài viết phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng và hiệu quả khoản vay trong mô hình cho vay ngang hàng (P2P Lending) tại Việt Nam, qua đó góp phần làm rõ cơ sở thực nghiệm và đề xuất các hàm ý chính sách đối với quản lý và phát triển mô hình này trong thời gian tới.
Hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu và nghịch lý tiếp cận tài chính của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu và nghịch lý tiếp cận tài chính của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích mối quan hệ giữa hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu và tiếp cận tài chính của doanh nghiệp, chỉ ra “nghịch lý tiếp cận tài chính” khi tín dụng thực tế được cải thiện nhưng mức độ cảm nhận của doanh nghiệp không thay đổi, từ đó đề xuất một số hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Ảnh hưởng yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận phương pháp DEA-Bootstrap

Ảnh hưởng yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng Việt Nam: Tiếp cận phương pháp DEA-Bootstrap

Bài viết phân tích tác động của các yếu tố tài chính đến hiệu quả kỹ thuật của các ngân hàng thương mại (NHTM) Việt Nam giai đoạn 2014 - 2024, qua đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm nhằm gợi mở các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động và quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng.
Hiệu quả kinh tế vĩ mô và hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Hiệu quả kinh tế vĩ mô và hành động giảm thiểu biến đổi khí hậu của doanh nghiệp: Bằng chứng quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết sử dụng bộ dữ liệu từ Khảo sát Môi trường Kinh doanh và Hiệu quả Doanh nghiệp (BEEPS) của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu (EBRD) và Khảo sát Doanh nghiệp của Ngân hàng Thế giới giai đoạn 2018 - 2025 để phân tích vai trò của điều kiện kinh tế vĩ mô đối với quyết định quản lý năng lượng và theo dõi phát thải CO₂ của doanh nghiệp, qua đó làm rõ những động lực và rào cản cấu trúc trong tiến trình chuyển đổi xanh. Thông qua bộ dữ liệu đa quốc gia gồm 59.846 doanh nghiệp tại 68 quốc gia trong giai đoạn 2018 - 2025, nhóm tác giả sử dụng phương pháp bình phương tối thiểu thông thường (OLS) với các đặc tả trọng số khác nhau và phân tích theo châu lục. Từ đó, nghiên cứu cung cấp bằng chứng thực nghiệm về vai trò khác biệt của cấu trúc sở hữu đối với quyết định giảm phát thải của doanh nghiệp, đồng thời làm rõ sự chi phối của điều kiện tài chính và bối cảnh thể chế trong việc thúc đẩy hành động khí hậu ở cấp độ doanh nghiệp.
Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Khẩu vị rủi ro và rủi ro phá sản: Bằng chứng thống kê từ các ngân hàng thương mại Việt Nam

Nghiên cứu đề xuất hàm ý chính sách cho các nhà quản trị ngân hàng và cơ quan quản lý: Các ngân hàng cần định hình và vận dụng khẩu vị rủi ro như một chiếc la bàn xuyên suốt quá trình quản trị; đồng thời, cần chủ động trích lập dự phòng dựa trên các dự báo và kịch bản kinh tế vĩ mô, tăng cường giám sát sớm để phát hiện kịp thời các dấu hiệu suy giảm chất lượng tín dụng, xử lý nợ xấu một cách dứt khoát nhằm tránh hiệu ứng tích tụ rủi ro.
Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Ảnh hưởng của minh bạch thông tin đến mức độ chủ động vay vốn của doanh nghiệp

Quyết định vay vốn của doanh nghiệp chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố ngoài thị trường tài chính thuần túy, trong đó môi trường thông tin và thể chế ngày càng nổi lên như những biến số quan trọng. Trên cơ sở phân tích định lượng, bài viết đánh giá vai trò của tự do ngôn luận trong mối quan hệ giữa tham nhũng và sự nản lòng vay vốn ngân hàng.
Xác định phong cách đầu tư: Góc nhìn tài chính hành vi

Xác định phong cách đầu tư: Góc nhìn tài chính hành vi

Bài viết làm rõ phân loại nhà đầu tư, phong cách đầu tư tương ứng, đồng thời, phân tích ý nghĩa của việc xác định phong cách từ góc độ tài chính hành vi và trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm đánh giá về việc áp dụng các phong cách đầu tư làm gia tăng hiệu quả của danh mục, cũng như hiệu quả quản lý thị trường chứng khoán.
Ngân hàng xanh: Phân tích trắc lượng thư mục và xu hướng nghiên cứu tiềm năng

Ngân hàng xanh: Phân tích trắc lượng thư mục và xu hướng nghiên cứu tiềm năng

Ngân hàng xanh đã trở thành một xu hướng quan trọng trong ngành Ngân hàng hiện đại, phản ánh cam kết của các tổ chức tài chính đối với phát triển bền vững và bảo vệ môi trường. Trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng nghiêm trọng và áp lực từ các bên liên quan, ngân hàng xanh không chỉ là một trách nhiệm xã hội mà còn là cơ hội kinh doanh chiến lược...
Xem thêm
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng