Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Chính sách
Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
aa

Tóm tắt: Phát triển du lịch nông nghiệp là hướng đi quan trọng nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuyển đổi mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo hướng xanh, bền vững và nâng cao thu nhập cho người dân nông thôn. Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy tái cấu trúc nền kinh tế và phát triển du lịch thành ngành kinh tế mũi nhọn, việc hình thành một khung chính sách đầu tư liên ngành cho du lịch nông nghiệp không chỉ là nhu cầu thực tiễn mà còn là điều kiện tiên quyết để đảm bảo sự phát triển đồng bộ, hiệu quả và có khả năng nhân rộng. Bài viết này phân tích khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp, đồng thời đưa ra một số hàm ý nhằm phát triển du lịch nông nghiệp bền vững ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030.

Từ khóa: Du lịch nông nghiệp, đầu tư, chính sách tài chính.

ORIENTATION OF THE INVESTMENT AND CREDIT POLICY FRAMEWORK
FOR AGRICULTURAL TOURISM DEVELOPMENT IN VIETNAM DURING THE 2026 - 2030 PERIOD

Abstract: Developing agricultural tourism is a crucial pathway for realizing the goals of transforming the agricultural growth model toward green, sustainable development while improving rural incomes. In the context of Vietnam’s ongoing efforts to restructure the economy and position tourism as a spearhead sector, the establishment of an integrated financial-investment policy framework for agricultural tourism is not only a practical necessity but also a prerequisite for ensuring coherent, effective, and scalable development. This article analyzes the investment and credit policy framework for the development of agricultural tourism and proposes several policy implications to promote sustainable agricultural tourism development in Vietnam during the 2026 - 2030 period.

Keywords: Agritourism, invest, financial policy.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Sự cần thiết xây dựng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp

Phát triển du lịch nông nghiệp đang trở thành một xu hướng tất yếu trong chiến lược phát triển nông thôn bền vững ở Việt Nam, góp phần đa dạng hóa sinh kế, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế và bảo tồn giá trị văn hóa - sinh thái địa phương. Tuy nhiên, quá trình phát triển này vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản, đặc biệt là sự thiếu vắng một cơ chế, chính sách đầu tư toàn diện, liên ngành và bền vững. Việc hình thành hay hoàn thiện một khung chính sách mới không chỉ mang tính cấp bách về mặt thực tiễn, mà còn có ý nghĩa chiến lược trong việc thể chế hóa mô hình kinh tế nông nghiệp gắn với du lịch, một hướng đi được nhiều quốc gia áp dụng thành công trong nỗ lực phát triển bền vững.

Theo Khung phân tích Đa luồng của Kingdon (1984), tính cấp thiết của một chính sách mới được xác định khi ba luồng: Vấn đề (problems), chính sách (policy) và chính trị (politics) hội tụ đồng thời, tạo thành “cửa sổ chính sách” (policy window). Trong bối cảnh hiện nay, có thể nhận thấy rõ sự đồng quy của ba luồng này trong lĩnh vực du lịch nông nghiệp tại Việt Nam.

Thứ nhất, về luồng vấn đề: Hệ thống chính sách hiện hành còn phân tán, thiếu cơ chế tài chính đặc thù và chưa có khung đầu tư công rõ ràng cho du lịch nông nghiệp. Các chính sách hỗ trợ chủ yếu lồng ghép trong chương trình nông thôn mới, OCOP hoặc xúc tiến du lịch, dẫn đến hiệu quả đầu tư hạn chế. Nhiều địa phương gặp khó khăn trong việc thiếu cơ chế ưu đãi thuế và không có hướng dẫn cụ thể về tiêu chí đầu tư hạ tầng, công nghệ cho mô hình du lịch nông nghiệp. Điều này cho thấy một khoảng trống chính sách đáng kể, đòi hỏi sự điều chỉnh và bổ sung kịp thời.

Thứ hai, về luồng chính sách: Các sáng kiến và mô hình thí điểm ở nhiều địa phương của Việt Nam đã chứng minh tiềm năng lớn của du lịch nông nghiệp trong phát triển kinh tế nông thôn. Tuy nhiên, việc thiếu khung chính sách đầu tư tổng thể khiến các mô hình này khó nhân rộng, thiếu bền vững và phụ thuộc vào nguồn lực tự thân của địa phương, người dân hoặc doanh nghiệp. Trong khi đó, các quốc gia như Nhật Bản và Hàn Quốc đã sớm xây dựng cơ chế hỗ trợ tài chính riêng cho du lịch nông nghiệp, bao gồm quỹ đầu tư xanh, chính sách tín dụng nông thôn và hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực, giúp đảm bảo sự gắn kết chặt chẽ giữa nông nghiệp - du lịch - môi trường.

Thứ ba, về luồng chính trị: Chủ trương phát triển bền vững, kinh tế tuần hoàn và chuyển đổi xanh đang được Chính phủ Việt Nam xác định là định hướng trọng tâm trong giai đoạn 2025 - 2035, với nhiều cam kết quốc tế về giảm phát thải và phát triển bao trùm. Đây là cơ sở thuận lợi để đưa nội dung “du lịch nông nghiệp” trở thành một trụ cột trong chiến lược phát triển nông nghiệp và du lịch quốc gia, đồng thời mở ra “cửa sổ chính sách” cho việc hình thành một khung đầu tư liên ngành, nhằm đảm bảo tính bền vững, khả thi và khả năng nhân rộng.

Từ sự hội tụ của ba luồng trên, có thể thấy rằng thời điểm hiện nay là cơ hội để Việt Nam ban hành một cơ chế, chính sách đầu tư toàn diện cho phát triển du lịch nông nghiệp. Cơ chế này cần được thiết kế theo hướng tích hợp, kết nối giữa nông nghiệp - du lịch - môi trường, gắn với mục tiêu chuyển đổi xanh và phát triển bền vững nông thôn. Đồng thời, cần cụ thể hóa các công cụ chính sách như quỹ đầu tư công, tín dụng xanh, ưu đãi thuế và hỗ trợ đào tạo nhân lực, giúp tăng tính khả thi và tạo động lực phát triển cho khu vực kinh tế nông thôn.

2. Mục tiêu và nguyên tắc xây dựng khung chính sách đầu tư để phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam

2.1. Mục tiêu

Mục tiêu tổng quát của chính sách là xây dựng và thể chế hóa một khung chính sách đầu tư thống nhất, toàn diện và bền vững cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam. Khung này không chỉ nhằm khắc phục tình trạng phân tán, thiếu liên kết giữa các ngành và các cấp quản lý, mà còn hướng đến việc tạo lập cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực đầu tư công - tư hiệu quả, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xanh và nông nghiệp bền vững của quốc gia.

Mục tiêu cụ thể của chính sách bao gồm:

Thứ nhất, chính sách cần thiết lập một cơ chế đầu tư và tài chính đồng bộ, kết nối giữa ba lĩnh vực chủ chốt: Du lịch, nông nghiệp và tài chính. Điều này nhằm đảm bảo sự nhất quán trong định hướng chiến lược, đồng thời tạo hành lang pháp lý rõ ràng cho các mô hình du lịch nông nghiệp tiếp cận được các nguồn vốn ưu đãi, quỹ tín dụng xanh hoặc chương trình hỗ trợ khởi nghiệp nông thôn.

Thứ hai, chính sách hướng đến thu hút nguồn vốn đầu tư tư nhân và quốc tế, qua đó nâng cao hiệu quả sử dụng vốn công. Các biện pháp ưu đãi về thuế, tín dụng, bảo lãnh đầu tư hoặc hợp tác công - tư (PPP) sẽ đóng vai trò then chốt trong việc khuyến khích doanh nghiệp và nông hộ tham gia vào chuỗi giá trị du lịch nông nghiệp.

Thứ ba, thông qua việc thúc đẩy các mô hình du lịch nông nghiệp gắn với bảo tồn sinh thái, nông nghiệp hữu cơ và văn hóa bản địa, chính sách này kỳ vọng góp phần thúc đẩy kinh tế nông thôn phát triển theo hướng xanh, tuần hoàn và có khả năng chống chịu cao trước biến động thị trường và khí hậu.

Thứ tư, nâng cao thu nhập, cải thiện sinh kế cho người dân nông thôn, đồng thời củng cố bản sắc địa phương như một yếu tố cạnh tranh trong phát triển du lịch bền vững.

2.2. Nguyên tắc

Để đảm bảo tính khả thi và bền vững, khung chính sách đầu tư cho du lịch nông nghiệp cần được xây dựng dựa trên ba nhóm nguyên tắc định hướng cốt lõi sau:

Thứ nhất, nguyên tắc thống nhất và liên ngành: Phát triển du lịch nông nghiệp là quá trình giao thoa giữa nhiều lĩnh vực, đặc biệt là du lịch, nông nghiệp và tài chính. Vì vậy, chính sách cần bảo đảm sự thống nhất trong mục tiêu và cơ chế điều phối giữa các bộ, ngành, tránh tình trạng chồng chéo và phân tán. Một ban điều phối liên ngành hoặc cơ chế liên bộ có thể được thiết lập để đảm bảo việc hoạch định, phân bổ và giám sát chính sách diễn ra hiệu quả, nhất quán từ Trung ương đến địa phương.

Thứ hai, nguyên tắc huy động nguồn lực theo cơ chế thị trường: Nhà nước giữ vai trò kiến tạo, thiết lập khung pháp lý minh bạch và cơ chế khuyến khích, trong khi khu vực tư nhân, hợp tác xã và cộng đồng địa phương trở thành chủ thể đầu tư, vận hành và đổi mới. Chính sách cần tạo điều kiện thuận lợi cho các hình thức PPP, quỹ đầu tư địa phương, tín dụng xanh hoặc bảo hiểm nông nghiệp - du lịch, qua đó huy động nguồn lực xã hội rộng rãi thay vì quá phụ thuộc vào ngân sách công.

Thứ ba, nguyên tắc công bằng và bền vững: Chính sách phải đảm bảo tính công bằng giữa các vùng miền, đặc biệt ưu tiên khu vực khó khăn và miền núi - nơi du lịch nông nghiệp có tiềm năng nhưng hạn chế về hạ tầng và nguồn vốn. Đồng thời, việc phát triển phải gắn liền với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, cân bằng sinh thái và gìn giữ bản sắc văn hóa nông thôn, hướng đến các tiêu chí phát triển xanh và kinh tế tuần hoàn.

3. Thực trạng chính sách đầu tư thúc đẩy phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam

3.1. Hệ thống chính sách điều chỉnh lĩnh vực nông nghiệp - du lịch

Ở cấp Trung ương, các văn bản như Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mỗi xã một sản phẩm giai đoạn 2018 - 2020; Quyết định số 922/QĐ-TTg ngày 02/8/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phát triển du lịch nông thôn trong xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025; Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 16/6/2022 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIII về nông nghiệp, nông dân, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Kết luận số 219-KL/TW ngày 26/11/2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 19-NQ/TW là khung thể chế nền tảng, tạo hành lang pháp lý cho việc gắn kết nông nghiệp với du lịch và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn. Đặc biệt, ngày 04/4/2026, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 85/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Kết luận số 219-KL/TW. Đây là văn bản quan trọng định hướng phát triển khu vực “tam nông” đến năm 2030, tầm nhìn 2045, trong đó nhấn mạnh: Phát triển kinh tế nông thôn đa giá trị; gắn nông nghiệp với du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng, trải nghiệm văn hóa bản địa, OCOP và làng nghề; khuyến khích phát triển mô hình du lịch nông nghiệp, farmstay, du lịch cộng đồng miền núi và ven biển; tăng thu nhập cho người dân nông thôn thông qua dịch vụ du lịch. Các chính sách này đã hỗ trợ trực tiếp cho các mô hình du lịch nông nghiệp gắn với sản phẩm OCOP, du lịch cộng đồng và sinh thái nông nghiệp, góp phần tạo ra nhiều sáng kiến đầu tư mới ở cấp địa phương.

Ở cấp địa phương, hiện nay, việc huy động nguồn lực đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp và các mô hình du lịch nông nghiệp tại địa phương, vùng diễn ra theo hướng xã hội hóa mạnh mẽ, gắn với chương trình OCOP và phát triển du lịch cộng đồng. Trong giai đoạn 2021 - 2024, hoạt động phát triển du lịch nông nghiệp tại mỗi vùng, địa phương tại Việt Nam đã ghi nhận sự đa dạng và chuyển biến tích cực trong việc huy động các nguồn lực. Các tỉnh, thành trong vùng đã từng bước hình thành cơ chế phối hợp giữa Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng, tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các mô hình du lịch nông nghiệp theo hướng bền vững và hiệu quả.

Hầu hết các tỉnh, thành phố như Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Bình… đã ban hành kế hoạch, đề án hoặc nghị quyết riêng về phát triển du lịch nông nghiệp, chú trọng vào khai thác giá trị đặc sản nông nghiệp, phát triển vùng nguyên liệu gắn với du lịch trải nghiệm và thúc đẩy khởi nghiệp nông thôn. Mỗi địa phương có chính sách và văn bản điều hành trọng điểm được ban hành, bao gồm các chương trình quốc gia, quy hoạch vùng, kế hoạch phát triển cấp tỉnh và đề án chuyên biệt về du lịch nông nghiệp.

Nhìn chung, hệ thống văn bản chính sách hiện hành tương đối phong phú và toàn diện. Tuy nhiên, tính thống nhất và khả năng thực thi vẫn còn hạn chế. Một số quy định về đất đai, đầu tư và quản lý du lịch chưa thật sự đồng bộ, dẫn đến việc triển khai còn lúng túng ở cấp cơ sở. Cụ thể, một số địa phương chưa có hướng dẫn cụ thể về chuyển đổi đất nông nghiệp sang mô hình du lịch; chính sách đầu tư công và hỗ trợ doanh nghiệp chưa có tiêu chí riêng cho lĩnh vực du lịch nông nghiệp; cơ chế phối hợp giữa Bộ Nông nghiệp và Môi trường và Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch mới dừng ở cấp chương trình, chưa hình thành bộ khung giám sát và đánh giá thống nhất. Việc Chính phủ ban hành Quyết định số 922/QĐ-TTg được xem là bước ngoặt quan trọng, mở đầu cho quá trình hình thành khung chính sách quốc gia về du lịch nông nghiệp bền vững, đặt nền tảng cho giai đoạn 2026 - 2030.

3.2. Các chính sách cụ thể

3.2.1. Chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam

- Chính sách đầu tư công và chính sách phát triển hạ tầng du lịch tại nông thôn: Trong những năm qua, Việt Nam đã triển khai nhiều chương trình đầu tư công quy mô lớn tại khu vực nông thôn, tiêu biểu như Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, Chương trình OCOP hay Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030. Các chương trình này đã góp phần cải thiện đáng kể hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội ở nông thôn, đặc biệt là hạ tầng giao thông, điện, nước, viễn thông, cơ sở lưu trú và không gian sinh hoạt cộng đồng, qua đó tạo nền tảng quan trọng cho phát triển du lịch nông nghiệp. Tuy nhiên, đầu tư công cho du lịch nông thôn vẫn còn phân tán, thiếu trọng tâm và chưa gắn kết chặt chẽ với quy hoạch phát triển vùng, chuỗi giá trị du lịch và nhu cầu thị trường.

Tuy nhiên, chính sách đầu tư công cho du lịch nông nghiệp còn mang tính gián tiếp và phân tán, do chưa hình thành danh mục đầu tư riêng biệt, trong khi các hạng mục liên quan chủ yếu lồng ghép trong các chương trình phát triển nông thôn hoặc du lịch nói chung. Nguồn vốn chủ yếu tập trung vào hạ tầng cơ bản như giao thông, điện, nước, ít chú trọng đến hạ tầng du lịch đặc thù; đồng thời, sự chồng chéo giữa các chương trình và thiếu cơ chế phối hợp thống nhất làm giảm hiệu quả sử dụng vốn và khả năng gắn kết với chuỗi giá trị du lịch nông nghiệp. Vì vậy, việc xây dựng danh mục đầu tư công chuyên biệt, có tiêu chí ưu tiên và cơ chế giám sát rõ ràng là yêu cầu cấp thiết để nâng cao hiệu quả và vai trò dẫn dắt của đầu tư công trong lĩnh vực này.

- Chính sách đầu tư tư nhân và mô hình PPP trong lĩnh vực du lịch nông nghiệp: Bên cạnh đầu tư công, khu vực tư nhân và doanh nghiệp giữ vai trò động lực trong huy động nguồn lực cho phát triển du lịch nông nghiệp. Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ phê duyệt về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn đã tạo nền tảng pháp lý cho các ưu đãi đầu tư, bao gồm miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, hỗ trợ chi phí hạ tầng và tiếp cận tín dụng ưu đãi. Ngoài ra, Nghị định số 35/2021/NĐ-CP ngày 29/3/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư theo phương thức đối tác công tư, trong đó đề cập đối tác công - tư trong nông nghiệp đã mở ra khuôn khổ hợp tác mới giữa Nhà nước và doanh nghiệp trong phát triển hạ tầng du lịch.

Trong khi đầu tư công đóng vai trò nền tảng, đầu tư tư nhân lại là yếu tố quyết định tính bền vững và khả năng mở rộng của du lịch nông nghiệp. Tuy nhiên, khu vực tư nhân hiện vẫn ít mặn mà với lĩnh vực này do thiếu cơ chế khuyến khích và môi trường đầu tư hấp dẫn. Do thiếu khung pháp lý rõ ràng về đầu tư tư nhân vào du lịch nông nghiệp. Hiện nay, pháp luật Việt Nam chưa có quy định riêng cho loại hình “nông nghiệp kết hợp du lịch” dẫn đến tình trạng các dự án bị xếp vào nhóm “nông nghiệp” hoặc “du lịch dịch vụ” tùy theo địa phương. Sự không thống nhất này gây khó khăn trong cấp phép, thẩm định và hưởng ưu đãi đầu tư. Hơn nữa, phần lớn các doanh nghiệp đầu tư vào du lịch nông nghiệp là doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ nên khó tiếp cận các dự án quy mô lớn. Đầu tư tư nhân cho du lịch nông nghiệp ở Việt Nam vẫn còn ở giai đoạn khởi phát, quy mô nhỏ, phân tán và thiếu tính bền vững.

Đối với mô hình PPP, hiện nay mô hình này trong nông nghiệp Việt Nam mới chỉ phát triển ở một số lĩnh vực như hạ tầng thủy lợi, chế biến, logistics mà chưa mở rộng sang du lịch nông nghiệp và du lịch cộng đồng. Các dự án PPP du lịch chủ yếu tập trung tại đô thị hoặc khu du lịch quốc gia, trong khi khu vực nông thôn, nơi có tiềm năng du lịch sinh thái, trải nghiệm, văn hóa lại chưa được khai thác theo hình thức này. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu cơ chế chia sẻ rủi ro và lợi nhuận giữa khu vực công và tư nhân, cùng với việc quy trình thủ tục PPP còn phức tạp và thời gian phê duyệt kéo dài.

Các mô hình đối tác PPP bước đầu được triển khai hiệu quả như: Tại Thành phố Đà Nẵng, mô hình du lịch cộng đồng Cẩm Thanh (Hội An) được đầu tư hạ tầng giao thông, bến thuyền và quảng bá do Nhà nước hỗ trợ 40% vốn đầu tư, phần còn lại do doanh nghiệp du lịch và cộng đồng đóng góp. Tại tỉnh Lâm Đồng, doanh nghiệp tư nhân đã hợp tác với chính quyền địa phương xây dựng “làng du lịch cà phê - hoa Đà Lạt”, kết hợp sản xuất nông nghiệp công nghệ cao với trải nghiệm du lịch; dự án được hỗ trợ một phần hạ tầng từ ngân sách nhà nước. Tương tự, mô hình du lịch nông nghiệp cộng đồng ở Ninh Bình hay Tuyên Quang đã thu hút được một số doanh nghiệp lữ hành và quỹ đầu tư nhỏ nhờ vào sự hỗ trợ chính sách của địa phương. Một số mô hình thành công bước đầu cho thấy nếu có cơ chế phù hợp, đầu tư tư nhân có thể trở thành động lực chính của du lịch nông nghiệp.

Để tạo bước đột phá, cần hình thành cơ chế khuyến khích đầu tư tư nhân thông qua chính sách PPP linh hoạt, cơ chế đồng tài trợ, đặc biệt là môi trường thể chế rõ ràng, minh bạch và ổn định. Đây sẽ là nền tảng để huy động các nguồn lực xã hội, giảm phụ thuộc vào ngân sách công và đưa du lịch nông nghiệp trở thành ngành kinh tế tổng hợp, liên kết giữa nông nghiệp - du lịch - dịch vụ.

Nhìn chung, hệ thống chính sách đầu tư cho du lịch nông nghiệp tại Việt Nam hiện còn thiếu tính đồng bộ, chưa tạo được động lực mạnh cho thị trường. Một số hạn chế như đầu tư công phân tán, thiếu danh mục riêng; đầu tư tư nhân, PPP chưa phát huy tiềm năng. Những khoảng trống này đặt ra yêu cầu cần thiết xây dựng khung chính sách đầu tư toàn diện, liên ngành, gắn với mục tiêu phát triển du lịch nông nghiệp xanh, bao trùm và bền vững.

3.2.2. Chính sách tín dụng

Tín dụng là một trong những công cụ quan trọng giúp huy động và luân chuyển nguồn lực tài chính cho phát triển du lịch nông nghiệp. Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã từng bước hoàn thiện khung chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp - nông thôn, trong đó có lĩnh vực du lịch nông nghiệp.

Trước năm 2025, cơ sở pháp lý chủ yếu là Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tuy nhiên, các quy định này chưa bao quát được đặc thù của mô hình du lịch nông nghiệp, đặc biệt đối với hộ dân và hợp tác xã có hoạt động kết hợp giữa sản xuất và dịch vụ. Tiếp đó, Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 55/2015/NĐ-CP đã mở rộng phạm vi vay vốn cho các hoạt động có yếu tố du lịch trong nông nghiệp, với các điểm mới nổi bật: Tăng hạn mức vay không có tài sản bảo đảm lên đến 2 tỉ đồng/hộ sản xuất và 5 tỉ đồng/hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ; cho phép tài sản hình thành từ dự án du lịch nông nghiệp (như cơ sở lưu trú, điểm trải nghiệm) được dùng làm tài sản bảo đảm vay vốn; áp dụng lãi suất ưu đãi giảm 2 - 3% so với mức trung bình đối với các dự án gắn với phát triển xanh, du lịch sinh thái, hoặc chuyển đổi số; khuyến khích các ngân hàng thương mại phát triển gói tín dụng đặc thù như “Tín dụng OCOP”, “Tín dụng du lịch cộng đồng”…

Bên cạnh đó, NHNN đã triển khai nhiều chương trình, chính sách, giải pháp tín dụng hỗ trợ khu vực nông nghiệp, nông thôn. Tính đến cuối năm 2025, đã có trên 90 TCTD và gần 1.100 quỹ tín dụng nhân dân tham gia cho vay phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn với dư nợ đạt trên 4,2 triệu tỉ đồng, tăng khoảng 14,5% so với cuối năm 2024, chiếm gần 23% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, phục vụ trên 14,5 triệu khách hàng còn dư nợ. Vốn tín dụng tiếp tục ưu tiên cho các ngành hàng nông sản xuất khẩu chủ lực. Trong đó, dư nợ ngành thủy sản đạt trên 285 nghìn tỉ đồng, với hai ngành hàng tôm và cá tra chiếm tỉ trọng tín dụng cao nhất (trên 40%); dư nợ ngành lúa, gạo đạt gần 232 nghìn tỉ đồng, tập trung chủ yếu vào khâu thu mua, chế biến và tiêu thụ (trên 83%); dư nợ ngành cà phê đạt gần 145 nghìn tỉ đồng. Đối với khu vực nông thôn, dư nợ cho vay trên địa bàn các xã trong toàn quốc đạt khoảng 2,4 triệu tỉ đồng, tương đương 141% kế hoạch vốn tín dụng được giao thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025; tăng trưởng bình quân giai đoạn đạt khoảng 12%/năm, với gần 10 triệu khách hàng còn dư nợ, phần lớn là cá nhân và hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư và diêm nghiệp.

Trên thực tế, để phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam cần hoàn thiện một số cơ chế đặc thù, do hoạt động du lịch mang tính mùa vụ, tiềm ẩn rủi ro và khó định giá các giá trị tài sản vô hình như cảnh quan hay thương hiệu địa phương. Bên cạnh đó, việc nghiên cứu, xây dựng các cơ chế tài chính chuyên biệt như tín dụng xanh hoặc quỹ bảo lãnh dành cho du lịch nông nghiệp bền vững đang là hướng đi có tiềm năng. Kinh nghiệm từ một số quốc gia trong khu vực như Thái Lan hay Nhật Bản cho thấy, các mô hình “Quỹ Du lịch Nông thôn Xanh” có thể góp phần khuyến khích phát triển du lịch thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng và bảo tồn văn hóa bản địa. Đây cũng là cơ sở tham chiếu quan trọng để Việt Nam từng bước mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn vốn quốc tế phục vụ phát triển du lịch nông nghiệp theo hướng xanh và bền vững.

4. Một số giải pháp xây dựng chính sách đầu tư phát triển du lịch nông nghiệp giai đoạn 2026 - 2030

Một là, phát triển tín dụng xanh và cơ chế bảo lãnh tín dụng cho hợp tác xã, hộ dân. Chính sách tín dụng xanh không chỉ mở rộng khả năng tiếp cận vốn, mà còn góp phần thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế nông thôn xanh và bao trùm. Mở rộng các gói tín dụng xanh với lãi suất ưu đãi thấp hơn 1 - 2% so với thông thường. Nguồn vốn này có thể được cung cấp thông qua hệ thống Ngân hàng Chính sách xã hội, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nhằm ưu tiên cho các dự án farmstay, homestay sinh thái hoặc du lịch cộng đồng có yếu tố giảm phát thải, tiết kiệm năng lượng và bảo vệ môi trường.

Hai là, cần thành lập Quỹ hỗ trợ phát triển du lịch nông nghiệp nhằm tạo công cụ tài chính chuyên biệt hỗ trợ các mô hình du lịch nông nghiệp quy mô nhỏ và vừa. Về cơ chế vận hành, Quỹ có thể được hình thành từ ba nguồn chính: (i) Ngân sách nhà nước (lồng ghép từ các chương trình mục tiêu như xây dựng nông thôn mới, phát triển sản phẩm OCOP và du lịch), (ii) đóng góp tự nguyện của doanh nghiệp, tổ chức tài chính, quỹ xã hội, và (iii) các nguồn viện trợ như ODA hoặc tài trợ quốc tế cho các dự án nông nghiệp - du lịch xanh.

Ba là, cần xây dựng và thực thi chính sách ưu đãi thuế và đất đai dành riêng cho các doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ dân đầu tư vào lĩnh vực du lịch nông nghiệp. Cần miễn hoặc giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước đối với các doanh nghiệp đầu tư farmstay, homestay, khu trải nghiệm nông nghiệp tại các vùng khó khăn, rút ngắn thủ tục giao đất, cho thuê đất phục vụ phát triển du lịch cộng đồng. Nhà nước cần ban hành hướng dẫn thống nhất về chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phục vụ du lịch, bảo đảm vừa tuân thủ quy hoạch sử dụng đất, vừa tạo điều kiện linh hoạt cho mô hình nông nghiệp - du lịch kết hợp. Góp phần tăng sức hấp dẫn đầu tư tư nhân, đặc biệt trong bối cảnh nhiều địa phương đang thiếu vốn đầu tư ban đầu cho hạ tầng du lịch nông nghiệp.

Bốn là, phát triển mô hình PPP quy mô nhỏ, gắn kết cộng đồng địa phương là giải pháp thiết thực nhằm thúc đẩy xã hội hóa đầu tư du lịch nông nghiệp. Trong mô hình này, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, đầu tư cơ sở hạ tầng công cộng (giao thông, điện nước, thông tin số, quảng bá điểm đến); doanh nghiệp tư nhân chịu trách nhiệm đầu tư cơ sở lưu trú, dịch vụ trải nghiệm, thương mại hóa sản phẩm; còn cộng đồng dân cư và hợp tác xã tham gia vận hành, cung ứng dịch vụ và gìn giữ bản sắc văn hóa địa phương.

Năm là, phát huy vai trò của doanh nghiệp lữ hành và các start-up du lịch trong phát triển du lịch nông nghiệp. Xây dựng cơ chế khuyến khích start-up du lịch nông nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp ứng dụng công nghệ số như công nghệ tài chính (Fintech), công nghệ nông nghiệp (AgriTech), công nghệ du lịch (TravelTech) vào quảng bá, đặt dịch vụ và truy xuất nguồn gốc nông sản. Các trung tâm khởi nghiệp, trường đại học và tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo có thể trở thành vườn ươm ý tưởng cho du lịch nông nghiệp số, góp phần hình thành thế hệ doanh nghiệp trẻ năng động, gắn kết giữa công nghệ - du lịch - nông nghiệp.

Sáu là, phát triển hợp tác xã du lịch nông nghiệp. Đẩy mạnh mạng lưới liên kết giữa các hợp tác xã du lịch nông nghiệp cấp vùng để hình thành “chuỗi giá trị liên vùng”, giúp chia sẻ kinh nghiệm, thu hút đầu tư và tạo sức lan tỏa trong toàn quốc. Phát triển du lịch nông nghiệp bền vững không thể tách rời vai trò của cộng đồng địa phương - những chủ thể trực tiếp quản lý, vận hành và gìn giữ tài nguyên nông nghiệp, văn hóa bản địa. Đặc biệt, cần xây dựng cơ chế phân chia lợi ích công bằng, minh bạch và ổn định giữa các bên liên quan (chia sẻ lợi ích giữa người dân - doanh nghiệp - chính quyền) để duy trì sự đồng thuận xã hội và tính bền vững cho phát triển mô hình du lịch nông nghiệp nhằm đảm bảo huy động đồng thời nguồn lực Nhà nước, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư vào cùng một chuỗi giá trị du lịch.

5. Kết luận

Hoàn thiện chính sách phát triển du lịch nông nghiệp không chỉ là yêu cầu của một lĩnh vực đơn lẻ, mà là bước đi chiến lược trong quá trình hiện đại hóa nông thôn và phát triển kinh tế vùng. Việc hình thành một khung chính sách đầu tư thống nhất, liên ngành, dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc, sẽ góp phần thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn công và quan trọng hơn cả là tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng nông thôn Việt Nam trong kỷ nguyên mới.

Tài liệu tham khảo

1. Báo cáo số 04/BC-UBND ngày 24/01/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi về Kết quả thực hiện Chương trình du lịch nông thôn năm 2024, đề xuất những nội dung, nhiệm vụ kế hoạch năm 2025.

2. Bảo Toàn, Hòa Bình (2024), “Khuyến nông gắn với du lịch nông nghiệp, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững”, https://khuyennongvn.gov.vn/chuong-trinh-nganh-nong-nghiep/tai-co-cau-nganh-nong-nghiep/hoa-binh-khuyen-nong-gan-voi-du-lich-nong-nghiep-tang-truong-xanh-va-phat-trien-ben-vung-29676.html

3. Dân Việt (2025), "Ngân hàng Nhà nước thông tin "nóng" về tín dụng tam nông trước thềm Hội nghị Thủ tướng đối thoại với nông dân 2025", https://danviet.vn/ngan-hang-nha-nuoc-thong-tin-nong-ve-tin-dung-tam-nong-truoc-them-hoi-nghi-thu-tuong-doi-thoai-voi-nong-dan-2025-d1377958.html

4. Liên minh Hợp tác xã tỉnh Ninh Bình (2024), "Giải pháp phát triển hợp tác xã hoạt động du lịch cộng đồng tỉnh Ninh Bình", https://lmhtxninhbinh.org.vn/hoat-dong-lmhtx-tinh/giai-phap-phat-trien-hop-tac-xa-hoat-dong-du-lich-cong-dong-tinh-ninh-binh-693.html

5. Lê Văn Đính (2024), "Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch cộng đồng ở tỉnh Quảng Nam", https://scholar.dlu.edu.vn/thuvienso/bitstream/DLU123456789/151153/1/CVv233S022021041.pdf

6. Việt Anh (2025), "Sơn La phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn", https://vietnamtourism.gov.vn/post/62771

TS. Nguyễn Thị Thu Đông
Trường Cao đẳng - Kinh tế Kế hoạch Đà Nẵng

Tin bài khác

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Xem thêm
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành