Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Chính sách
Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
aa

Tóm tắt: Bài viết đánh giá toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán NSNN tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025 dưới lăng kính minh bạch và trách nhiệm giải trình. Áp dụng phương pháp định tính và phân tích dữ liệu từ Bộ Tài chính và Khảo sát ngân sách mở (OBS), nghiên cứu ghi nhận những tiến bộ trong việc công khai tài liệu ngân sách với điểm minh bạch đạt 51/100 (OBS, 2023), bội chi được kiểm soát và giảm dần từ 4,5% GDP (năm 2020) xuống 3,8% GDP (năm 2025), và vai trò giám sát của Quốc hội ngày càng được củng cố. Tuy nhiên, kết quả cũng chỉ ra những "nghịch lý": Công tác lập dự toán quá thận trọng tạo ra chênh lệch lớn khi thực hiện, tiến độ giải ngân đầu tư công chậm trễ dù nguồn lực dồi dào, và đặc biệt là cơ chế tham vấn công chúng vẫn còn mang tính hình thức. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ gồm: Sửa đổi Luật NSNN năm 2015 theo hướng quản lý dựa trên kết quả đầu ra, xây dựng mô hình "ngân sách số" với báo cáo thời gian thực, và thể chế hóa quyền giám sát của người dân nhằm nâng cao hiệu quả quản trị tài chính công quốc gia.

Từ khóa: NSNN, minh bạch ngân sách, trách nhiệm giải trình, chu trình ngân sách.

ENHANCING THE MECHANISMS FOR STATE BUDGET PREPARATION, EXECUTION
AND SETTLEMENT TOWARDS TRANSPARENCY AND ACCOUNTABILITY IN VIETNAM

Abstract: This article evaluates the mechanism for state budget preparation, execution, and settlement in Vietnam during the 2020 - 2025 period through the lens of transparency and accountability. By applying qualitative methods and data analysis from the Ministry of Finance and the Open Budget Survey (OBS), the study records progress in the publication of budget documents, achieving a transparency score of 51/100 (OBS 2023), a steadily declining fiscal deficit from 4.5% GDP (2020) to 3.8% GDP (2025) and the increasingly consolidated oversight role of Vietnam's National Assembly. However, our findings also pinpoint existing "paradoxes": Overly cautious budget estimates leading to significant discrepancies during implementation, slow disbursement of public investment despite abundant resources, notably, a formalistic public consultation mechanism. Based on these findings, the article proposes a synchronous solution system, including: Amendments to the 2015 State Budget Law 2015 towards performance-based management, development of a "digital budget" model with real-time reporting, and institutionalization of public oversight rights to improve the effectiveness of national public financial governance.

Keywords: State budget, budget transparency, accountability, budget cycle.

1. Đặt vấn đề

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính công, minh bạch tài khóa và trách nhiệm giải trình đã trở thành xu hướng quản trị tất yếu nhằm tối ưu hóa hiệu quả chi tiêu và củng cố niềm tin xã hội. Nhiều nghiên cứu quốc tế điển hình như Alt và Lassen (2006) hay Wehner và De Renzio (2013) đã chứng minh mối tương quan tích cực giữa độ mở của dữ liệu ngân sách với việc giảm thâm hụt tài khóa, tăng cường kỷ luật tài chính và giảm chi phí vay nợ quốc gia. Đồng thuận với quan điểm này, Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD) và Tổ chức Đối tác Ngân sách Quốc tế (IBP) nhấn mạnh minh bạch phải luôn song hành với trách nhiệm giải trình thực chất; điều này đòi hỏi Chính phủ không chỉ công khai thông tin kịp thời mà còn phải hoàn thiện cơ chế kiểm toán độc lập và mở rộng quyền giám sát của công chúng.

Đối chiếu các chuẩn mực vào thực tiễn Việt Nam, dù khung khổ pháp lý như Luật NSNN năm 2015 đã được thiết lập, khoảng cách giữa quy định và thực thi vẫn còn đáng kể. Theo OBS năm 2023, Việt Nam đạt 51/100 điểm minh bạch, cao hơn mức trung bình toàn cầu nhưng điểm số về sự tham gia của công chúng lại rất khiêm tốn (19/100), cho thấy sự thiếu hụt các cơ chế phản biện xã hội hiệu quả. Các nghiên cứu trong nước và báo cáo của Bộ Tài chính (2024) cũng chỉ ra những điểm nghẽn lớn: Tình trạng công khai còn thiếu đồng bộ giữa các địa phương, dữ liệu chưa được chuẩn hóa, và đặc biệt là hạn chế trong trách nhiệm giải trình ở khâu chấp hành và quyết toán ngân sách. So sánh với các quốc gia như Hàn Quốc hay New Zealand, Việt Nam cần những cải cách mạnh mẽ hơn để khắc phục tình trạng "minh bạch hình thức" và tiệm cận thông lệ quốc tế.

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết về lý luận và thực tiễn trên, bài viết tập trung lấp đầy khoảng trống nghiên cứu thông qua việc phân tích dữ liệu cập nhật giai đoạn 2020 - 2025. Nghiên cứu hướng tới ba mục tiêu trọng tâm: (1) Tổng quan cơ sở lý thuyết về minh bạch và trách nhiệm giải trình ngân sách; (2) Phân tích cụ thể thực trạng cơ chế ngân sách Việt Nam, nhận diện các nút thắt trong công khai và giám sát so với chuẩn mực quốc tế; và (3) Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về pháp lý, công nghệ và quy trình. Kết quả nghiên cứu kỳ vọng sẽ cung cấp luận cứ khoa học gắn kết thực tiễn, giúp Quốc hội, Bộ Tài chính và Kiểm toán Nhà nước nâng cao chất lượng quản trị ngân sách theo hướng hiện đại, công khai và minh bạch.

2. Cơ sở lý thuyết

Minh bạch ngân sách không chỉ giới hạn ở việc Nhà nước công khai thông tin tài khóa một cách kịp thời, dễ tiếp cận mà còn được xem là nền tảng cốt lõi của quản trị tài chính công hiện đại. Theo định nghĩa của Quỹ Tiền tệ Quốc tế - IMF (2014) và IBP, mức độ minh bạch được đo lường qua sự sẵn có và chất lượng của 8 tài liệu chủ chốt trong chu trình ngân sách, giúp các bên liên quan từ Quốc hội đến người dân hiểu rõ quy trình phân bổ nguồn lực. Tuy nhiên, minh bạch chỉ thực sự phát huy tác dụng khi gắn liền với trách nhiệm giải trình - cơ chế buộc các chủ thể quản lý phải chịu trách nhiệm giải trình về hành vi và kết quả tài chính trước cơ quan giám sát và xã hội. OECD (2017) nhấn mạnh rằng, sự kết hợp chặt chẽ giữa công khai thông tin, kiểm toán độc lập và giám sát công là điều kiện tiên quyết để bảo đảm kỷ luật tài khóa, phòng, chống tham nhũng và tối ưu hóa giá trị xã hội của chi tiêu công.

Tại Việt Nam, các nguyên tắc quản trị tiên tiến này đã được thể chế hóa thông qua hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, trong đó Luật NSNN năm 2015 đóng vai trò xương sống. Quy định tại các Điều 15 - 18 của Luật đã bắt buộc công khai dự toán, quyết toán và tình hình thực hiện ngân sách ở mọi cấp độ chính quyền, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho quyền tiếp cận thông tin của công chúng. Song hành với đó, Luật Kiểm toán Nhà nước năm 2015 (sửa đổi năm 2019) khẳng định vị thế độc lập của cơ quan kiểm toán trong việc xác nhận tính trung thực, hợp pháp của số liệu ngân sách; đây là "chốt chặn" quan trọng để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực và hiện thực hóa trách nhiệm giải trình của các đơn vị sử dụng ngân sách trước pháp luật.

Để chuyển tải các quy định pháp luật vào thực tiễn, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 163/2016/NĐ-CP ngày 21/12/2016 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật NSNN, trong đó đặc biệt nhấn mạnh yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin vào công tác báo cáo và công khai nhằm tăng cường khả năng giám sát. Định hướng này tiếp tục được nâng tầm trong Chiến lược tài chính đến năm 2030 (ban hành theo Quyết định số 368/QĐ-TTg ngày 21/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ), với mục tiêu xuyên suốt là phát triển nền tài chính quốc gia minh bạch, bền vững và siết chặt kỷ luật, kỷ cương tài chính. Như vậy, khung khổ pháp lý hiện hành đã tạo dựng nền tảng khá toàn diện cho việc triển khai đồng bộ các nguyên tắc minh bạch và trách nhiệm giải trình xuyên suốt chu trình ngân sách, từ khâu lập dự toán, chấp hành cho đến quyết toán.

3. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp định tính kết hợp phân tích mô tả, dựa trên khung lý thuyết quản lý tài chính công hiện đại và chu trình ngân sách ba giai đoạn: Lập dự toán, chấp hành và quyết toán. Cách tiếp cận toàn diện này cho phép đánh giá sâu mức độ minh bạch và trách nhiệm giải trình trong từng khâu, từ đó nhận diện các điểm nghẽn và đề xuất giải pháp phù hợp với bối cảnh Việt Nam.

Dữ liệu nghiên cứu được thu thập từ các nguồn chính thống (Bộ Tài chính, Kiểm toán Nhà nước và IBP), được phân loại và kiểm tra chéo để đảm bảo độ tin cậy. Về kỹ thuật xử lý, bài viết sử dụng ba nhóm phương pháp chính: (1) Phân tích mô tả nhằm làm rõ xu hướng thu - chi và thực trạng công khai ngân sách giai đoạn 2020 - 2025; (2) Phân tích, so sánh để đối chiếu chỉ số minh bạch của Việt Nam với khu vực và thế giới (dữ liệu OBS); (3) Tổng hợp định tính để đánh giá mức độ tuân thủ quy định pháp lý về giải trình trong toàn bộ chu trình ngân sách.

4. Thực tiễn công tác lập, chấp hành và quyết toán NSNN tại Việt Nam theo hướng minh bạch và trách nhiệm giải trình

Chu trình NSNN ở Việt Nam theo Luật NSNN năm 2015 gồm ba giai đoạn: Lập dự toán, chấp hành và quyết toán ngân sách - được thực hiện tuần tự, liên thông từ trung ương đến địa phương. Hằng năm, quy trình bắt đầu từ giai đoạn lập dự toán, thường triển khai từ tháng 5 đến tháng 12 năm trước năm ngân sách. Trên cơ sở kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và định hướng tài khóa, Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn xây dựng dự toán cho các bộ, ngành, địa phương. Các cơ quan này lập dự toán thu - chi gửi Bộ Tài chính và cơ quan tài chính cùng cấp để tổng hợp. Sau khi rà soát, Bộ Tài chính trình Chính phủ, sau đó, Chính phủ trình Quốc hội xem xét, quyết định dự toán NSNN và phương án phân bổ ngân sách trung ương; ở cấp địa phương, Hội đồng nhân dân (HĐND) quyết định dự toán ngân sách địa phương.

Sau khi được phê chuẩn, ngân sách bước vào giai đoạn chấp hành, kéo dài trong năm ngân sách (từ ngày 01/01 tới ngày 31/12). Chính phủ thống nhất chỉ đạo điều hành ngân sách, Bộ Tài chính hướng dẫn, kiểm soát thu - chi qua hệ thống Kho bạc Nhà nước, bảo đảm chi đúng mục đích, tiết kiệm và hiệu quả. Các bộ, ngành, địa phương tổ chức thực hiện dự toán đã được giao, trong khi Quốc hội, HĐND các cấp giám sát việc chấp hành, và Kiểm toán Nhà nước có thể tiến hành kiểm toán khi cần thiết nhằm bảo đảm kỷ luật tài khóa.

Kết thúc năm tài chính, quy trình chuyển sang giai đoạn quyết toán ngân sách. Các bộ, ngành, địa phương lập báo cáo quyết toán gửi cơ quan tài chính cấp trên để thẩm định, tổng hợp. Bộ Tài chính tổng hợp báo cáo quyết toán toàn quốc, trình Chính phủ, sau đó gửi Kiểm toán Nhà nước để kiểm toán trước khi Chính phủ trình Quốc hội phê chuẩn quyết toán NSNN; tương tự, HĐND các cấp phê chuẩn quyết toán ngân sách địa phương. Kiểm toán Nhà nước đảm nhiệm vai trò độc lập, xác nhận tính trung thực, hợp pháp và hiệu quả trong việc sử dụng NSNN, góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm giải trình tài chính công.

4.1. Thực trạng công tác lập dự toán NSNN

Giai đoạn 2020 - 2025, công tác lập dự toán NSNN của Việt Nam có sự thay đổi rõ nét theo hướng công khai, minh bạch và thực chất (Bảng 1). Toàn bộ quy trình lập, trình và phê duyệt dự toán được triển khai theo quy định của Luật NSNN năm 2015, Nghị định số 163/2016/NĐ-CP, Chiến lược tài chính đến năm 2030.

Giai đoạn 2020 - 2021, công tác lập và chấp hành ngân sách chịu tác động nặng nề bởi đại dịch Covid-19. Dự toán thu năm 2020 đạt 1.512,3 nghìn tỉ đồng, dự toán chi 1.747,1 nghìn tỉ đồng, với bội chi 4,5% GDP - cao nhất trong giai đoạn. Năm 2021, dự toán thu NSNN giảm còn 1.343,3 nghìn tỉ đồng, dự toán chi 1.687,0 nghìn tỉ đồng, bội chi giảm còn 4,0% GDP, phản ánh chính sách thắt chặt chi tiêu và ưu tiên chống dịch.

Năm 2022, kinh tế phục hồi mạnh với GDP tăng 8,02%, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 43/2022/QH15 ngày 11/01/2022 về chính sách tài khóa, tiền tệ hỗ trợ chương trình phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội với quy mô 350 nghìn tỉ đồng. Chi đầu tư phát triển tăng lên 31% tổng chi, phản ánh sự chuyển hướng tích cực từ chi thường xuyên sang đầu tư.

Giai đoạn 2023 - 2024, dự toán thu - chi sát thực tế hơn, bội chi duy trì trong giới hạn Quốc hội cho phép. Tuy nhiên, cơ cấu chi vẫn mất cân đối khi chi thường xuyên chiếm 65%, chi đầu tư phát triển chưa đạt 35% do nhiều dự án chậm giải ngân. Công khai ngân sách được cải thiện, Việt Nam công bố 7/8 tài liệu chủ chốt (OBS, 2023), song thông tin vẫn thiếu chi tiết, chưa thể hiện rõ theo chương trình và kết quả đầu ra.

Năm 2025, dự toán thu NSNN được xây dựng tích cực hơn với 1.966,8 nghìn tỉ đồng (tăng 15,6% so với dự toán năm 2024), dự toán chi là 2.548,9 nghìn tỉ đồng, bội chi mục tiêu giảm xuống còn 3,8% GDP - thấp nhất trong giai đoạn nghiên cứu. Ước thực hiện thu NSNN đạt 2.650,1 nghìn tỉ đồng (134,7% dự toán) - mức vượt thu cao nhất toàn giai đoạn, trong khi ước chi NSNN đạt 94,2% dự toán, tiếp tục phản ánh áp lực giải ngân đầu tư công.

4.2. Thực trạng chấp hành NSNN

Việc chấp hành NSNN giai đoạn 2020 - 2025 phản ánh năng lực điều hành tài khóa trong bối cảnh nhiều biến động - từ đại dịch Covid-19, xung đột địa chính trị đến biến động giá năng lượng và tỉ giá.

Năm 2020, thu NSNN đạt 1.507,2 nghìn tỉ đồng (99,7% dự toán), giảm nhẹ do tác động nặng nề của Covid-19 khiến sản xuất, kinh doanh đình trệ, thu từ thuế giá trị gia tăng, thu nhập doanh nghiệp và xuất nhập khẩu giảm. Chính phủ triển khai gói hỗ trợ tài khóa khoảng 3% GDP qua miễn, giảm, giãn thuế, phí để hỗ trợ doanh nghiệp. Dù thu giảm, chi vẫn đạt 100% dự toán, tập trung cho y tế, phòng, chống dịch và an sinh xã hội, góp phần ổn định vĩ mô và kiểm soát bội chi an toàn.

Năm 2021, thu NSNN thực hiện tăng lên 1.568,9 nghìn tỉ đồng (116,8% dự toán), phản ánh đà phục hồi kinh tế nhờ thích ứng linh hoạt với dịch bệnh và giá hàng hóa quốc tế tăng. Chi NSNN đạt 1.879,5 nghìn tỉ đồng (111,4% dự toán), phản ánh ưu tiên đầu tư công, y tế, an sinh xã hội và hạ tầng trọng điểm nhằm kích cầu. Tuy nhiên, việc chi vượt dự toán cho thấy áp lực cân đối ngân sách còn lớn.

Năm 2022, thu NSNN đạt 1.709,5 nghìn tỉ đồng (121,1% dự toán) - mức cao nhất giai đoạn 2020 - 2023, nhờ sản xuất và xuất khẩu khởi sắc. Chi NSNN đạt 2.045,5 nghìn tỉ đồng (114,6% dự toán) do triển khai Chương trình phục hồi kinh tế 350 nghìn tỉ đồng theo Nghị quyết số 43/2022/QH15, trong đó chi đầu tư phát triển tăng nhưng giải ngân chậm. Chính sách tài khóa mở rộng đã giúp củng cố tăng trưởng sau đại dịch.

Năm 2023, thu NSNN đạt 1.709,5 nghìn tỉ đồng (105,5% dự toán), tăng chậm lại do suy giảm kinh tế toàn cầu và việc tiếp tục gia hạn chính sách hỗ trợ thuế. Chi NSNN đạt 2.154,6 nghìn tỉ đồng (103,8% dự toán), phản ánh điều hành thận trọng, ưu tiên ổn định vĩ mô và đầu tư công có trọng tâm. Tỉ lệ giải ngân đầu tư công đạt khoảng 95%, song vẫn thấp hơn mục tiêu do vướng mắc trong thủ tục và giải phóng mặt bằng.

Năm 2024, thu NSNN thực hiện đạt 2.043,7 nghìn tỉ đồng, vượt 20,1% dự toán, trong khi chi NSNN đạt 2.477,4 nghìn tỉ đồng, vượt 13,9% dự toán. Mức tăng cao phản ánh đà phục hồi mạnh của kinh tế, đặc biệt ở sản xuất, xuất nhập khẩu và thu nội địa nhờ công tác quản lý thu hiệu quả hơn. Chi NSNN tăng do đẩy mạnh đầu tư công, cải cách tiền lương và hỗ trợ an sinh xã hội. Dù chi vượt dự toán, bội chi vẫn được kiểm soát trong giới hạn, cho thấy chính sách tài khóa linh hoạt và kỷ luật ngân sách được củng cố.

Ước tính năm 2025, thu NSNN đạt 2.650,1 nghìn tỉ đồng, đạt 134,7% dự toán - mức thu cao nhất trong giai đoạn, nhờ tăng trưởng kinh tế nội địa mạnh và hiệu quả quản lý thu được cải thiện. Về chi NSNN, ước thực hiện đạt 2.401,5 nghìn tỉ đồng (94,2% dự toán), cho thấy tiến độ giải ngân đầu tư công dù được cải thiện vẫn chưa đạt kế hoạch. Bội chi kiểm soát ở mức 3,8% GDP - giảm so với 4,2% năm 2024, khẳng định định hướng tài khóa thận trọng và hướng đến bền vững. (Bảng 1)

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

4.3. Thực trạng quyết toán NSNN

Biến động thu - chi NSNN tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025 phản ánh khá rõ nét bối cảnh kinh tế và định hướng điều hành chính sách tài khóa của Chính phủ qua từng năm (Bảng 2).

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Năm 2020, tổng dự toán thu NSNN đạt 1.512,3 nghìn tỉ đồng, quyết toán thu đạt 1.510,5 nghìn tỉ đồng, tương đương gần 100% kế hoạch, cho thấy ảnh hưởng nặng nề của đại dịch Covid-19 khiến nguồn thu chỉ đạt mức dự kiến. Trong khi đó, dự toán chi NSNN là 1.747,1 nghìn tỉ đồng, quyết toán chi đạt 1.709,5 nghìn tỉ đồng (98%), phản ánh tình trạng đình trệ đầu tư công và cắt giảm chi tiêu thường xuyên trong thời kỳ giãn cách xã hội.

Năm 2021, khi nền kinh tế dần phục hồi, thu NSNN tăng mạnh, quyết toán đạt 1.591,4 nghìn tỉ đồng so với dự toán 1.343,3 nghìn tỉ đồng, đạt 118,5%, nhờ giá hàng hóa xuất khẩu tăng và hiệu quả thu thuế nội địa cải thiện. Ngược lại, chi NSNN đạt 1.708,1 nghìn tỉ đồng so với dự toán 1.687 nghìn tỉ đồng (101,3%), chủ yếu do tăng chi cho công tác phòng, chống dịch và hỗ trợ an sinh xã hội.

Năm 2022 ghi nhận mức vượt thu cao nhất trong giai đoạn: Dự toán thu 1.411,7 nghìn tỉ đồng, quyết toán đạt 1.820,3 nghìn tỉ đồng (128,9%), phản ánh giai đoạn phục hồi kinh tế mạnh mẽ, cùng với việc quản lý thu hiệu quả hơn. Tuy nhiên, chi NSNN năm 2022 đạt 1.750,7 nghìn tỉ đồng trên dự toán 1.784,6 nghìn tỉ đồng (98,1%), cho thấy xu hướng thắt chặt chi tiêu và chậm giải ngân đầu tư công vẫn tiếp diễn.

Đến năm 2023, dự toán thu NSNN được nâng lên 1.620,7 nghìn tỉ đồng, quyết toán đạt 1.770,7 nghìn tỉ đồng (109,3%), mặc dù kinh tế toàn cầu suy giảm và Chính phủ thực hiện nhiều chính sách miễn, giảm thuế để hỗ trợ doanh nghiệp. Trong khi đó, dự toán chi NSNN là 2.076,2 nghìn tỉ đồng, quyết toán chi 1.936,9 nghìn tỉ đồng đạt 93,%, mức thấp nhất trong 4 năm, phản ánh quyết tâm kiểm soát chi chặt chẽ, cắt giảm chi thường xuyên và giải ngân đầu tư công vẫn gặp khó khăn.

Năm 2024, quyết toán thu đạt 2.043,7 nghìn tỉ đồng (120,1% dự toán), phản ánh hiệu quả quản lý thu và đà phục hồi mạnh của nền kinh tế. Quyết toán chi đạt 2.477,4 nghìn tỉ đồng (113,9% dự toán) do đẩy mạnh đầu tư công và thực hiện cải cách tiền lương.

Ước tính năm 2025, quyết toán thu đạt 2.650,1 nghìn tỉ đồng (134,7% dự toán) trong khi ước chi ở mức 2.401,5 nghìn tỉ đồng (94,2% dự toán), bội chi 3,8% GDP.

Đáng chú ý, giai đoạn 2020 - 2025 chứng kiến mức thu NSNN liên tục vượt dự toán với biên độ mở rộng, từ 99,9% lên 134,7%, trong khi chi NSNN có xu hướng kiểm soát chặt chẽ hơn, đặc biệt từ năm 2022. Trong khi đó, bội chi có xu hướng giảm, từ 4,5% GDP (năm 2020) xuống 3,8% GDP (năm 2025), tạo dư địa tài khóa góp phần bảo đảm an toàn nợ công quốc gia.

4.4. Khảo sát tổng hợp mức độ minh bạch và giải trình ngân sách

OBS do IBP thực hiện định kỳ hai năm/lần, đánh giá quản trị ngân sách quốc gia dựa trên ba trụ cột: (i) Mức độ minh bạch ngân sách, đo lường tính sẵn có, kịp thời và toàn diện của tám tài liệu ngân sách chủ chốt; (ii) Mức độ giám sát ngân sách, đánh giá vai trò của cơ quan lập pháp và kiểm toán tối cao trong chu trình ngân sách; (iii) Mức độ tham gia của công chúng, xem xét các cơ chế để người dân tham gia vào quá trình lập, thực hiện và giám sát ngân sách. Kết quả khảo sát từ IBP giai đoạn 2017 - 2023 (Hình 1) cho thấy mức độ minh bạch và giám sát NSNN của Việt Nam có bước tiến đáng kể, phản ánh nỗ lực tăng cường kỷ luật tài khóa, công khai tài chính công và hội nhập chuẩn mực quản trị quốc tế:

- Điểm minh bạch ngân sách tăng từ 15 điểm (năm 2017) lên 51 điểm (năm 2023) - mức tăng cao hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Kết quả này chủ yếu đến từ việc Bộ Tài chính mở rộng công khai các tài liệu ngân sách như dự toán, quyết toán, báo cáo giữa kỳ và báo cáo dành cho công dân; đồng thời, chuẩn hóa định dạng dữ liệu, công bố đúng hạn và song ngữ trên Cổng thông tin ngân sách quốc gia, qua đó tăng khả năng tiếp cận và giám sát của công chúng.

- Điểm giám sát ngân sách cũng cải thiện mạnh, từ 42 điểm (năm 2017) lên 82 điểm (năm 2023), cho thấy vai trò giám sát của Quốc hội, Kiểm toán Nhà nước và các cơ quan chuyên trách ngày càng được phát huy. Việc công khai báo cáo kiểm toán, mở rộng phạm vi thảo luận và thẩm tra ngân sách tại Quốc hội đã góp phần nâng cao trách nhiệm giải trình và tăng tính ràng buộc trong quản lý chi tiêu công.

- Sự tham gia của công chúng trong chu trình ngân sách vẫn còn hạn chế, với điểm số chỉ đạt 19/100 năm 2023, dù có cải thiện so với 6 điểm năm 2017. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu cơ chế phản biện xã hội được thể chế hóa, và hoạt động tham vấn cộng đồng vẫn mang tính hình thức, chưa phổ biến ở cấp cơ sở.

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Giữa ba yếu tố minh bạch, giám sát và tham gia của công chúng tồn tại mối quan hệ nhân quả và tương hỗ chặt chẽ, minh bạch là tiền đề cho giám sát, giám sát hiệu quả thúc đẩy trách nhiệm giải trình, trong khi sự tham gia của người dân bảo đảm tính dân chủ, hiệu quả và công bằng trong phân bổ ngân sách. Cùng với quá trình cải thiện này, bội chi ngân sách giảm, từ 4,5% GDP năm 2020 xuống 3,8% GDP năm 2025, cho thấy việc tăng cường minh bạch và giám sát đã góp phần củng cố kỷ luật tài khóa, hạn chế chi tiêu dàn trải và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực công. Tựu trung lại, giai đoạn 2020 - 2025 đánh dấu bước tiến vững chắc của Việt Nam trong quản trị tài chính công minh bạch, có trách nhiệm và hội nhập quốc tế; song, để đạt chuẩn “ngân sách mở” theo khuyến nghị của IBP và OECD, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tham vấn công chúng, mở rộng công khai dữ liệu ngân sách, tăng cường trách nhiệm giải trình ở cả trung ương và địa phương.

5. Kết luận và khuyến nghị chính sách

Giai đoạn 2020 - 2025 đánh dấu bước chuyển mình quan trọng của tài chính công Việt Nam trong bối cảnh vừa ứng phó linh hoạt với các cú sốc kinh tế, vừa kiên định mục tiêu cải cách thể chế. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng quy trình ngân sách đã có những tiến bộ rõ rệt: Khâu lập dự toán ngày càng bài bản và gắn kết chặt chẽ với kế hoạch tài chính trung hạn; công tác chấp hành bảo đảm kỷ luật tài khóa với bội chi được kiểm soát và giảm dần từ 4,5% GDP năm 2020 xuống 3,8% GDP năm 2025; khâu quyết toán đã rút ngắn thời gian công bố và nâng cao chất lượng kiểm toán. Tuy nhiên, hệ thống vẫn đối mặt với một số hạn chế nội tại như cơ cấu chi chưa chuyển dịch mạnh mẽ sang đầu tư phát triển, tiến độ giải ngân đầu tư công còn chậm và việc ứng dụng công nghệ số trong hạch toán, báo cáo chưa đồng bộ, dẫn đến những chênh lệch số liệu không đáng có giữa kế toán và kiểm toán.

Về phương diện minh bạch và trách nhiệm giải trình, Việt Nam đã đạt bước tiến đáng ghi nhận khi chỉ số minh bạch ngân sách tăng lên 51 điểm vào năm 2023, đưa quốc gia vào nhóm minh bạch trung bình toàn cầu với 7/8 tài liệu then chốt được công khai, cho thấy vai trò giám sát tối cao của Quốc hội và tính độc lập của Kiểm toán Nhà nước ngày càng được củng cố. Dù kỷ luật tài khóa và công khai thông tin đã được cải thiện đáng kể, tuy nhiên, thách thức trọng tâm trong giai đoạn tới vẫn là giải quyết bài toán hiệu quả thực chất của chi tiêu công và thiết lập cơ chế giải trình đa chiều, minh bạch hơn.

Do đó, Việt Nam cần triển khai quyết liệt và đồng bộ hệ thống giải pháp từ hoàn thiện thể chế đến hiện đại hóa công nghệ quản trị. Trước hết, cần ưu tiên sửa đổi Luật NSNN năm 2015 theo hướng quản lý dựa trên kết quả đầu ra, thể chế hóa các nguyên tắc tài khóa trách nhiệm của OECD để kiểm soát an toàn nợ công, đồng thời ban hành quy định bắt buộc về dữ liệu mở tại địa phương nhằm tạo hành lang pháp lý vững chắc cho giám sát xã hội. Song hành với cải cách luật pháp, toàn bộ chu trình ngân sách cần được chuyển đổi số toàn diện: Từ việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để nâng cao độ chính xác trong dự báo thu, áp dụng cơ chế tham vấn công chúng thực chất trong các lĩnh vực thiết yếu như y tế, giáo dục, đến việc xây dựng mô hình "ngân sách số" với báo cáo thời gian thực gắn liền trách nhiệm giải trình và chế độ thưởng phạt nghiêm minh của người đứng đầu. Hơn nữa, để khép kín chu trình trách nhiệm giải trình, cần nâng cao thực quyền độc lập của Kiểm toán Nhà nước, mở rộng kiểm toán hoạt động và chuẩn hóa chế độ kế toán công theo thông lệ quốc tế (VPSAS). Cuối cùng, việc tham khảo các mô hình thành công từ Hàn Quốc, New Zealand và tăng cường hợp tác kỹ thuật với các định chế tài chính toàn cầu như IMF, Ngân hàng Thế giới sẽ là đòn bẩy quan trọng giúp Việt Nam nâng cao năng lực quản trị quốc gia một cách bền vững.

Tài liệu tham khảo:

1. Báo Chính phủ điện tử (2024), Ngân sách của Việt Nam ngày một minh bạch hơn.

2. Bộ Tài chính (2025). Báo cáo công khai NSNN các năm 2020 - 2025.

3. IMF (2014), Fiscal Transparency Code. Washington, D.C.: IMF.

4. IBP (2023), Open Budget Survey 2023: Vietnam Country Report. Washington, D.C.

5. OECD (2022), Budget Transparency Toolkit: How to Make Budgets Transparent and Accountable. Paris: OECD Publishing.

6. OECD (2025), OECD Economic Surveys: Viet Nam 2025. Paris: OECD Publishing.

7. Tạp chí Kinh tế - Tài chính (2024), Minh bạch trong quản lý ngân sách tại các nước và Việt Nam.

8. World Bank (2021), Vietnam Public Expenditure Review: Fiscal Policies Towards Sustainability, Efficiency and Equity. Washington, D.C.

TS. Phạm Đức Anh *; ThS. Nguyễn Thị Thanh Loan **
* Học viện Ngân hàng; ** Kho bạc Nhà nước, Bộ Tài chính

Tin bài khác

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách

Bài viết chỉ ra rằng, căng thẳng Trung Đông thông qua cú sốc giá năng lượng và logistics, có thể khuếch đại áp lực lạm phát, tỉ giá và tăng trưởng của Việt Nam, qua đó đặt ra yêu cầu điều hành chính sách vĩ mô linh hoạt nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột Trung Đông đầu năm 2026, chỉ ra các áp lực ngắn hạn đối với kinh tế Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò hạ tầng chiến lược của hệ thống ngân hàng và gợi mở các giải pháp chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế.
Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Nâng cao chất lượng, hiệu quả truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới

Chiều 02/4/2026, tại Hà Nội, Thời báo Ngân hàng tổ chức Tọa đàm với chủ đề “Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong bối cảnh mới”, kết hợp Hội nghị Cộng tác viên và Hội đồng biên tập Tạp chí Ngân hàng.
Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về điều kiện, tiêu chuẩn nhân sự của ngân hàng tại Việt Nam

Trong bài viết này, các quy định về tiêu chuẩn, điều kiện đối với nhân sự của ngân hàng được phân tích theo Thông tư số 20/2025/TT-NHNN ngày 31/7/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) hướng dẫn về hồ sơ, thủ tục chấp thuận danh sách dự kiến nhân sự của ngân hàng thương mại (NHTM), chi nhánh ngân hàng nước ngoài và tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, qua đó nhóm tác giả gợi mở định hướng hoàn thiện khung pháp lý theo chuẩn mực quốc tế và nâng cao chất lượng quản trị tại Việt Nam.
Xem thêm
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành