Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Chính sách
Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
aa

Tóm tắt: Bài viết nhằm mục tiêu phân tích thực trạng huy động nguồn vốn phục vụ phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các dự án xanh, hướng tới tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định tính, dựa trên tổng hợp và phân tích các tài liệu thứ cấp, đánh giá chính sách, cơ chế tài chính hiện hành và thực trạng huy động vốn cho các dự án xanh. Kết quả cho thấy nhu cầu vốn xanh tại Việt Nam ngày càng cấp thiết, nhưng thị trường vẫn chưa phát triển tương xứng do những hạn chế về khung pháp lý, thiếu các công cụ tài chính thích hợp và nhận thức của doanh nghiệp, nhà đầu tư còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp trọng tâm từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, đồng thời hướng dẫn doanh nghiệp và nhà đầu tư tham gia tích cực vào thị trường vốn xanh, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế xanh bền vững tại Việt Nam.

Từ khóa: Nguồn vốn, phát triển, kinh tế xanh, Việt Nam

MOBILING CAPITAL RESOURCES TO MEET
THE NEEDS OF GREEN ECONOMIC DEVELOPMENT IN VIET NAM

Abstract: The article aims to analyze the current status of capital mobilization for green economy development in Vietnam and to propose solutions to improve the efficiency of capital utilization for green projects, aiming at economic growth aligned with environmental protection. The study is conducted using a qualitative approach, based on the synthesis and analysis of secondary sources, assessment of existing policies, financial mechanisms, and the current state of capital mobilization for green projects. The findings indicate that the demand for green capital in Vietnam is increasingly urgent; however, the market has not yet developed proportionately due to limitations in the legal framework, a lack of appropriate financial instruments, and insufficient awareness among businesses and investors. On this basis, the article proposes several key solutions, providing a scientific foundation for policy-making while guiding businesses and investors to participate more actively in the green capital market, thereby contributing to the transition toward a sustainable green economy in Vietnam.

Keywords: Capital, development, green economy, Vietnam

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Giới thiệu chung

Ngân hàng Thế giới đưa ra định nghĩa kinh tế xanh là “phát triển kinh tế đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó giảm thiểu ô nhiễm và tác động đến môi trường, tăng cường khả năng phục hồi trước biến đổi tự nhiên, đẩy mạnh vai trò của quản lý nhà nước về môi trường và nguồn lực tự nhiên trong việc ngăn ngừa các thảm họa từ thiên nhiên”. Theo Liên hợp quốc, kinh tế xanh là nền kinh tế đem đến trong tương lai về một mô hình tăng trưởng kinh tế mới thân thiện với các hệ sinh thái của trái đất và góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động, qua đó giúp giảm thiểu phát thải, giảm tiêu thụ tài nguyên và giảm chi phí môi trường.

Ý nghĩa cốt lõi của kinh tế xanh là tăng trưởng kinh tế đảm bảo đồng thời hai mục tiêu là bảo vệ môi trường sống trong sạch và bền vững. Kinh tế xanh có tính chất bền vững là những hoạt động trong nền kinh tế tạo ra lợi nhuận hoặc giá trị có ích lợi, hướng đến phát triển cuộc sống của cộng đồng xã hội con người. Đây là định hướng tăng trưởng dài hạn, ổn định và thân thiện với môi trường, dựa trên việc giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả tài nguyên và mở rộng các ngành kinh tế sạch như năng lượng tái tạo, nông nghiệp bền vững, công nghệ xanh hay công nghiệp tuần hoàn. Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch sang kinh tế xanh vẫn gặp nhiều thách thức, bao gồm hệ thống chính sách còn chưa đầy đủ, thiếu các công cụ tài chính xanh phù hợp, cùng với hạn chế về nhận thức và năng lực quản trị rủi ro môi trường. Những khó khăn này khiến nhiều cơ hội phát triển kinh tế xanh chưa được khai thác một cách hiệu quả.

2. Thực trạng huy động nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Phát triển kinh tế xanh đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm ngay từ những năm đầu thời kỳ đổi mới và đã đạt được một số thành tựu nhất định. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ) được ban hành đã góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng, đồng thời phát huy năng lực, nâng cao tính bình đẳng về khả năng tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả của sự phát triển đối với mỗi người dân. Trong bối cảnh đó, huy động nguồn vốn cho phát triển kinh tế xanh trở thành nhân tố then chốt, quyết định khả năng hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra.

Trong những năm gần đây, tín dụng xanh tại Việt Nam có sự tăng trưởng mạnh mẽ, thể hiện rõ ở cả quy mô, cơ cấu ngành và mức độ tham gia của các tổ chức tín dụng (Bảng 1). Đặc biệt, nhận thức của các tổ chức tín dụng về phát triển xanh đã được nâng cao, nhiều ngân hàng đã ban hành chiến lược tín dụng tích hợp các tiêu chí môi trường - xã hội, xây dựng sản phẩm tài chính xanh và dành nguồn vốn trung, dài hạn với lãi suất ưu đãi để cấp cho các dự án thân thiện với môi trường.

Bảng 1: Tăng trưởng dư nợ tín dụng xanh tại Việt Nam giai đoạn 2017 đến tháng 11/2025

Nguồn: Tác giả tổng hợp1, 2, 3
Nguồn: Tác giả tổng hợp1, 2, 3, 4

Bảng 1 cho thấy trong giai đoạn 2017 - 2025, tín dụng xanh tại Việt Nam đã có sự tăng trưởng rõ rệt cả về quy mô tuyệt đối và tỉ trọng trong tổng dư nợ. Nếu năm 2017 dư nợ tín dụng xanh mới đạt 188 nghìn tỉ đồng, chiếm 2,3% tổng dư nợ, thì đến năm 2025 con số này đã tăng lên 780 nghìn tỉ đồng, tương ứng 4,1% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 21%/năm, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế5.

Ngoài ra, cơ cấu phân bổ tín dụng xanh theo lĩnh vực cũng có sự thay đổi đáng chú ý, tập trung nhiều nhất vào năng lượng tái tạo, nông nghiệp xanh và vệ sinh môi trường. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tính đến cuối năm 2025, nhóm năng lượng tái tạo và năng lượng sạch chiếm khoảng 47%, tương đương 223.000 tỉ đồng, tiếp theo là nông nghiệp xanh chiếm 32% tương đương 152.000 tỉ đồng), trong khi các khoản cho vệ sinh môi trường, xử lý chất thải và quản lý nước chiếm 11% và các lĩnh vực công nghiệp xanh, xây dựng xanh, giao thông bền vững, dệt may xanh chiếm phần còn lại (10%). Những con số này phản ánh xu hướng tích cực: Vốn đang đổ vào các ngành then chốt cho chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp, nhất là năng lượng tái tạo; đồng thời thị trường trái phiếu xanh và các sản phẩm tài chính bền vững đã góp phần huy động vốn hiệu quả. Tuy nhiên, so với quy mô toàn hệ thống tài chính, tỉ lệ tín dụng xanh vẫn còn khiêm tốn và tập trung mạnh vào một vài lĩnh vực chủ chốt, phản ánh hai thách thức lớn: Nhu cầu về nguồn vốn dài hạn và đa dạng hóa kênh tài trợ vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ, và năng lực hấp thụ vốn của nhiều dự án xanh cũng như khung tiêu chí, chuẩn mực xanh (Green Taxonomy, ESG) cần được hoàn thiện để thu hút vốn tư nhân trong nước và quốc tế nhiều hơn.

3.1. Đánh giá hiệu quả huy động nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, hoạt động huy động vốn xanh tại Việt Nam đã ghi nhận những bước tiến đáng kể, phản ánh cam kết ngày càng rõ rệt của hệ thống tài chính trong thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội bền vững. Theo số liệu của NHNN, đến cuối năm 2025, có 58 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh, với tổng dư nợ đạt khoảng gần 780 tỉ đồng, chiếm khoảng 4,19% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Nhìn chung, tín dụng xanh tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, với mức tăng trưởng bình quân cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

Không chỉ tăng về quy mô, cơ cấu tín dụng xanh cũng chuyển dịch theo hướng ưu tiên các lĩnh vực quan trọng cho chuyển đổi xanh. Song song với việc mở rộng tín dụng xanh, nhiều ngân hàng thương mại đã tích hợp tiêu chí môi trường và xã hội trong thẩm định cấp tín dụng, nhằm đảm bảo sự minh bạch, kiểm soát rủi ro và hiệu quả sử dụng vốn. Cùng với đó, khung chính sách hỗ trợ tài chính xanh ngày càng được hoàn thiện; các định hướng phát triển bền vững của Chính phủ, cùng sự phối hợp giữa NHNN và các tổ chức tài chính quốc tế tạo nền tảng pháp lý và kỹ thuật thuận lợi để thúc đẩy dòng vốn vào các dự án xanh.

Như vậy, nỗ lực huy động vốn xanh tại Việt Nam đã đem lại kết quả đáng khích lệ về quy mô, cơ cấu đầu tư và khung pháp lý, mở ra cơ hội thực chất cho phát triển kinh tế xanh. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu vốn lớn cho quá trình chuyển đổi xanh, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và cam kết phát triển bền vững, cần đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển thị trường tài chính xanh, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia, mở rộng cả tín dụng và các sản phẩm tài chính dài hạn.

3.2. Thách thức trong việc huy động nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc huy động nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh vẫn còn nhiều thách thức. Cụ thể là:

(i) Nhu cầu vốn đầu tư cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế xanh là rất lớn, trong khi Việt Nam hiện đang thiếu chính sách thu hút các nguồn tài chính xanh tham gia vào các lĩnh vực này.

(ii) Khả năng huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, các nhà tài trợ và khu vực tư nhân để thực hiện phát triển kinh tế xanh còn hạn chế, phần lớn nguồn vốn vẫn phụ thuộc vào khu vực tư nhân và nguồn vay quốc tế.

(iii) Mặc dù Việt Nam đã có những tín hiệu tích cực song sự phát triển của lĩnh vực tín dụng xanh, tăng trưởng xanh ở Việt Nam được đánh giá là chưa nhanh như kỳ vọng, chưa khai thác hết tiềm năng. Việc phát triển hoạt động ngân hàng xanh tại các tổ chức tín dụng Việt Nam còn nhiều khó khăn. Thực tế, nguồn vốn cho vay của các tổ chức tín dụng thường là vốn huy động ngắn hạn trong khi đó dự án xanh thường có thời gian hoàn vốn dài, chi phí đầu tư lớn, gây khó khăn cho các ngân hàng trong việc cân đối vốn và đảm bảo tỉ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn theo quy định. Bên cạnh đó, còn vướng mắc trong việc giám sát và quản lý rủi ro khi cấp tín dụng do thiếu quy định, tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá công cụ đo lường tác động đến môi trường. Vì vậy, cần tiếp tục khơi thông các nguồn vốn khác bên kênh tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng xanh.

(iv) Đối với kênh trái phiếu xanh, chỉ có số ít các doanh nghiệp lớn phát hành được ra quốc tế. Theo phản ánh từ thị trường tại Báo cáo khảo sát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đối với thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, đến giai đoạn 2024 - 2025, mặc dù quy mô phát hành còn hạn chế, nhưng các đợt phát hành thực tế vẫn thu hút được các nhà đầu tư, chủ yếu là các tổ chức tài chính và ngân hàng thay vì tình trạng thiếu người mua trên diện rộng. Tuy nhiên, thị trường vẫn gặp khó khăn do thiếu thanh khoản thứ cấp, chi phí phát hành cao và nguồn dự án xanh đạt chuẩn còn hạn chế khiến việc mở rộng cơ sở nhà đầu tư còn chậm.

(v) Khả năng huy động nguồn tài chính từ các định chế tài chính, quỹ và nhà đầu tư tư nhân quốc tế còn hạn chế. Nguồn vốn cho mục tiêu xanh hóa nền kinh tế của Việt Nam còn khá hạn chế trong bối cảnh ngân sách nhà nước hạn hẹp cùng ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19. Theo Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Việt Nam cần khoảng 330 - 370 tỉ USD để thực hiện cam kết phát thải ròng về "0" vào năm 2030, trong đó nguồn lực quốc gia chỉ có thể đáp ứng tối đa 36% nguồn lực và cần tới 64% từ các nguồn hỗ trợ của quốc tế.

(vi) Nguồn tài chính tư nhân phục vụ hoạt động này khá hạn chế, như thiếu nguồn vốn trung và dài hạn, thiếu các khoản vay có chi phí hợp lý cho các hoạt động đổi mới sáng tạo hay các công ty khởi nghiệp, thường làm lơ cấp vốn cho các hoạt động chưa có lợi nhuận chắc chắn.

4. Một số khuyến nghị khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

4.1. Đối với Chính phủ

Một là, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế xanh và tài chính xanh ở mức độ cụ thể và thống nhất hơn. Trong đó, đặc biệt quan trọng là việc ban hành tiêu chuẩn tín dụng xanh, danh mục ngành, lĩnh vực xanh phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng đánh giá, thẩm định và giám sát các dự án xanh.

Hai là, cần xây dựng lộ trình chuyển đổi kinh tế với định hướng rõ ràng để định hình dòng vốn của khu vực nhà nước, tư nhân và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các ngành mũi nhọn theo hướng xanh hóa. Điều này tạo sự nhất quán về chính sách, giảm bất ổn kỳ vọng và nâng cao niềm tin của nhà đầu tư, khắc phục tình trạng nhà đầu tư tư nhân chỉ dám triển khai các dự án ngắn hạn do lo ngại rủi ro chính sách.

Ba là, Chính phủ tiếp tục phát huy vai trò huy động vốn từ khu vực tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài thông qua cơ chế thu hút đầu tư vào các ngành xanh, thúc đẩy thị trường trái phiếu xanh, trái phiếu doanh nghiệp xanh và đa dạng hóa các công cụ tài chính xanh.

Bốn là, cần tăng cường thu hút tài chính xanh từ các quỹ đầu tư quốc tế và các tổ chức phát triển nhằm phục vụ cơ cấu lại nền kinh tế, nhất là khu vực doanh nghiệp nhà nước, đồng thời tạo động lực tăng trưởng mới thông qua chuyển đổi xanh và tăng trưởng xanh trong dài hạn.

4.2. Đối với NHNN

Một là, cần sớm hoàn thiện hướng dẫn chi tiết về danh mục xanh và tiêu chí xác định dự án xanh, bảo đảm thống nhất với hệ thống phân ngành kinh tế Việt Nam. Đây là căn cứ quan trọng để các tổ chức tín dụng áp dụng trong thẩm định, cấp tín dụng và quản trị rủi ro đối với tín dụng xanh.

Hai là, có thể xem xét chỉ định một số ngân hàng thương mại có đủ năng lực đóng vai trò cố vấn, kiểm định và xác minh nguồn vốn xanh hoặc trái phiếu xanh, tạo điều kiện phát triển thị trường vốn xanh minh bạch và phù hợp thông lệ quốc tế.

Ba là, cơ quan quản lý cần tăng cường giám sát rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng, đồng thời hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê về tín dụng xanh để nâng cao chất lượng quản lý và hoạch định chính sách.

4.3. Đối với các ngân hàng thương mại

Các ngân hàng thương mại cần chủ động xây dựng danh mục sản phẩm tài chính xanh, tận dụng cơ hội phát triển các thị trường tài chính xanh, đặc biệt là thị trường trái phiếu xanh và huy động vốn xanh từ các nhà đầu tư có tổ chức. Đồng thời, cần ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhằm xanh hóa hoạt động ngân hàng, nâng cao năng lực thẩm định rủi ro môi trường - xã hội và cải thiện hiệu quả giám sát đối với các dự án xanh.

Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng cần tăng cường hợp tác với các quỹ đầu tư, định chế tài chính quốc tế và các tổ chức phi lợi nhuận nhằm mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn xanh với chi phí hợp lý hơn, từ đó hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi xanh.

5. Kết luận

Chuyển đổi nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế xanh là xu hướng nhiều quốc gia trên thế giới đang hướng tới. Việt Nam đang đặt ra nhiều ưu tiên cho việc phát triển kinh tế xanh và thu hút các nguồn vốn đầu tư vào các dự án phát triển bền vững. Vì vậy, cần có những sáng kiến và giải pháp đột phá để huy động đầu tư tư nhân vào các dự án mang lại hiệu quả về môi trường, xã hội và quản trị. Qua đó, góp phần tạo việc làm, đóng góp vào tăng trưởng toàn diện cũng như giúp Việt Nam hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững vào năm 2030.

Đặc biệt, cần đẩy mạnh triển khai mô hình hợp tác công - tư, chủ động tiếp cận các nguồn vốn từ tư nhân cũng như triển khai các công cụ tài chính dựa vào thị trường, như thị trường mua bán và trao đổi tín chỉ carbon để bảo đảm tính bền vững và nguồn lực tài chính ổn định cho tăng trưởng xanh. Việc huy động hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài kết hợp với các nguồn lực trong nước cho phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững là mục tiêu, yêu cầu nhất quán và cấp thiết của Việt Nam.

1 Dư nợ tín dụng xanh tăng vượt 700.000 tỉ đồng. Trang thông tin điện tử Kinh tế Sài Gòn, ngày 22/5/2025, https://thesaigontimes.vn/du-no-tin-dung-xanh-tang-vuot-700-000-ti-dong

2 Tăng trưởng bình quân dư nợ tín dụng xanh đạt trên 21%/năm. Trang thông tin điện tử Vnbusiness, ngày 21/5/2025, https://vnbusiness.vn/ngan-hang/tang-truong-binh-quan-du-no-tin-dung-xanh-dat-tren-21-nam-1106963.html

3 Dư nợ tín dụng xanh giai đoạn 2017- 2024 tăng bình quân trên 22%/năm. Trang thông tin điện tử Thị trường tài chính tiền tệ, ngày 26/4/2025, https://thitruongtaichinhtiente.vn/du-no-tin-dung-xanh-giai-doan-2017-2024-tang-binh-quan-tren-22-nam-67308.html

4, 5 Dư nợ tín dụng xanh khoảng 750.000 tỉ đồng; dự kiến hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho dự án xanh, https://baochinhphu.vn/du-no-tin-dung-xanh-khoang-750000-ti-dong-du-kien-ho-tro-lai-suat-2-nam-cho-du-an-xanh-102251215163424259.htm

Tài liệu tham khảo

1. VnEconommy (2025), Kết nối tín dụng xanh - nền tảng phát triển khu công nghiệp bền vững, https://vneconomy.vn/ket-noi-tin-dung-xanh-phat-trien-xanh-hoa-cac-khu-cong-nghiep.htm

2. Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050.

3. VnEconommy (2025), Tăng trưởng bình quân dư nợ tín dụng xanh đạt trên 21%/năm, https://vnbusiness.vn/ngan-hang/tang-truong-binh-quan-du-no-tin-dung-xanh-dat-tren-21-nam-1106963.html

4. Vneconommy (2024), Thúc đẩy dòng vốn xanh để thực hiện hóa chiến lược tăng trưởng xanh, https://vneconomy.vn/thuc-day-dong-von-xanh-de-hien-thuc-hoa-chien-luoc-tang-truong-xanh.htm

5. Lâm Thị Kim Liên và nhóm tác giả (2025), Vai trò của tín dụng xanh trong thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách, https://tapchikinhtetaichinh.vn/vai-tro-tin-dung-xanh-trong-thuc-day-phat-trien-nang-luong-tai-tao-tai-viet-nam-thuc-trang-va-ham-y-chinh-sach-127579.html&link=autochange

TS. Vũ Thùy Linh
Trường Đại học Lao động - Xã hội

Tin bài khác

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Xem thêm
Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Cơ chế can thiệp theo lưu lượng và một số gợi mở chính sách

Bài viết tiếp cận theo hệ thống các động lực (system dynamics) để phân tích ba lưu lượng: Thu nhập, vốn đầu tư và việc làm, từ đó nhận diện điểm nghẽn cấu trúc và đề xuất cơ chế can thiệp theo lưu lượng (flow-intervening mechanisms) nhằm hỗ trợ kiểm soát lạm phát và duy trì tăng trưởng kinh tế.
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng