Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Chính sách
Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
aa

Tóm tắt: Bài viết nhằm mục tiêu phân tích thực trạng huy động nguồn vốn phục vụ phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho các dự án xanh, hướng tới tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường. Nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp định tính, dựa trên tổng hợp và phân tích các tài liệu thứ cấp, đánh giá chính sách, cơ chế tài chính hiện hành và thực trạng huy động vốn cho các dự án xanh. Kết quả cho thấy nhu cầu vốn xanh tại Việt Nam ngày càng cấp thiết, nhưng thị trường vẫn chưa phát triển tương xứng do những hạn chế về khung pháp lý, thiếu các công cụ tài chính thích hợp và nhận thức của doanh nghiệp, nhà đầu tư còn hạn chế. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số giải pháp trọng tâm từ đó cung cấp cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách, đồng thời hướng dẫn doanh nghiệp và nhà đầu tư tham gia tích cực vào thị trường vốn xanh, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển dịch sang nền kinh tế xanh bền vững tại Việt Nam.

Từ khóa: Nguồn vốn, phát triển, kinh tế xanh, Việt Nam

MOBILING CAPITAL RESOURCES TO MEET
THE NEEDS OF GREEN ECONOMIC DEVELOPMENT IN VIET NAM

Abstract: The article aims to analyze the current status of capital mobilization for green economy development in Vietnam and to propose solutions to improve the efficiency of capital utilization for green projects, aiming at economic growth aligned with environmental protection. The study is conducted using a qualitative approach, based on the synthesis and analysis of secondary sources, assessment of existing policies, financial mechanisms, and the current state of capital mobilization for green projects. The findings indicate that the demand for green capital in Vietnam is increasingly urgent; however, the market has not yet developed proportionately due to limitations in the legal framework, a lack of appropriate financial instruments, and insufficient awareness among businesses and investors. On this basis, the article proposes several key solutions, providing a scientific foundation for policy-making while guiding businesses and investors to participate more actively in the green capital market, thereby contributing to the transition toward a sustainable green economy in Vietnam.

Keywords: Capital, development, green economy, Vietnam

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Giới thiệu chung

Ngân hàng Thế giới đưa ra định nghĩa kinh tế xanh là “phát triển kinh tế đảm bảo sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên, trong đó giảm thiểu ô nhiễm và tác động đến môi trường, tăng cường khả năng phục hồi trước biến đổi tự nhiên, đẩy mạnh vai trò của quản lý nhà nước về môi trường và nguồn lực tự nhiên trong việc ngăn ngừa các thảm họa từ thiên nhiên”. Theo Liên hợp quốc, kinh tế xanh là nền kinh tế đem đến trong tương lai về một mô hình tăng trưởng kinh tế mới thân thiện với các hệ sinh thái của trái đất và góp phần giải quyết vấn đề việc làm cho người lao động, qua đó giúp giảm thiểu phát thải, giảm tiêu thụ tài nguyên và giảm chi phí môi trường.

Ý nghĩa cốt lõi của kinh tế xanh là tăng trưởng kinh tế đảm bảo đồng thời hai mục tiêu là bảo vệ môi trường sống trong sạch và bền vững. Kinh tế xanh có tính chất bền vững là những hoạt động trong nền kinh tế tạo ra lợi nhuận hoặc giá trị có ích lợi, hướng đến phát triển cuộc sống của cộng đồng xã hội con người. Đây là định hướng tăng trưởng dài hạn, ổn định và thân thiện với môi trường, dựa trên việc giảm phát thải khí nhà kính, sử dụng hiệu quả tài nguyên và mở rộng các ngành kinh tế sạch như năng lượng tái tạo, nông nghiệp bền vững, công nghệ xanh hay công nghiệp tuần hoàn. Tuy nhiên, quá trình chuyển dịch sang kinh tế xanh vẫn gặp nhiều thách thức, bao gồm hệ thống chính sách còn chưa đầy đủ, thiếu các công cụ tài chính xanh phù hợp, cùng với hạn chế về nhận thức và năng lực quản trị rủi ro môi trường. Những khó khăn này khiến nhiều cơ hội phát triển kinh tế xanh chưa được khai thác một cách hiệu quả.

2. Thực trạng huy động nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Phát triển kinh tế xanh đã được Đảng và Nhà nước ta quan tâm ngay từ những năm đầu thời kỳ đổi mới và đã đạt được một số thành tựu nhất định. Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ) được ban hành đã góp phần đổi mới mô hình tăng trưởng, đồng thời phát huy năng lực, nâng cao tính bình đẳng về khả năng tiếp cận cơ hội và thụ hưởng thành quả của sự phát triển đối với mỗi người dân. Trong bối cảnh đó, huy động nguồn vốn cho phát triển kinh tế xanh trở thành nhân tố then chốt, quyết định khả năng hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra.

Trong những năm gần đây, tín dụng xanh tại Việt Nam có sự tăng trưởng mạnh mẽ, thể hiện rõ ở cả quy mô, cơ cấu ngành và mức độ tham gia của các tổ chức tín dụng (Bảng 1). Đặc biệt, nhận thức của các tổ chức tín dụng về phát triển xanh đã được nâng cao, nhiều ngân hàng đã ban hành chiến lược tín dụng tích hợp các tiêu chí môi trường - xã hội, xây dựng sản phẩm tài chính xanh và dành nguồn vốn trung, dài hạn với lãi suất ưu đãi để cấp cho các dự án thân thiện với môi trường.

Bảng 1: Tăng trưởng dư nợ tín dụng xanh tại Việt Nam giai đoạn 2017 đến tháng 11/2025

Nguồn: Tác giả tổng hợp1, 2, 3
Nguồn: Tác giả tổng hợp1, 2, 3, 4

Bảng 1 cho thấy trong giai đoạn 2017 - 2025, tín dụng xanh tại Việt Nam đã có sự tăng trưởng rõ rệt cả về quy mô tuyệt đối và tỉ trọng trong tổng dư nợ. Nếu năm 2017 dư nợ tín dụng xanh mới đạt 188 nghìn tỉ đồng, chiếm 2,3% tổng dư nợ, thì đến năm 2025 con số này đã tăng lên 780 nghìn tỉ đồng, tương ứng 4,1% tổng dư nợ toàn nền kinh tế, tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 21%/năm, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế5.

Ngoài ra, cơ cấu phân bổ tín dụng xanh theo lĩnh vực cũng có sự thay đổi đáng chú ý, tập trung nhiều nhất vào năng lượng tái tạo, nông nghiệp xanh và vệ sinh môi trường. Theo báo cáo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tính đến cuối năm 2025, nhóm năng lượng tái tạo và năng lượng sạch chiếm khoảng 47%, tương đương 223.000 tỉ đồng, tiếp theo là nông nghiệp xanh chiếm 32% tương đương 152.000 tỉ đồng), trong khi các khoản cho vệ sinh môi trường, xử lý chất thải và quản lý nước chiếm 11% và các lĩnh vực công nghiệp xanh, xây dựng xanh, giao thông bền vững, dệt may xanh chiếm phần còn lại (10%). Những con số này phản ánh xu hướng tích cực: Vốn đang đổ vào các ngành then chốt cho chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp, nhất là năng lượng tái tạo; đồng thời thị trường trái phiếu xanh và các sản phẩm tài chính bền vững đã góp phần huy động vốn hiệu quả. Tuy nhiên, so với quy mô toàn hệ thống tài chính, tỉ lệ tín dụng xanh vẫn còn khiêm tốn và tập trung mạnh vào một vài lĩnh vực chủ chốt, phản ánh hai thách thức lớn: Nhu cầu về nguồn vốn dài hạn và đa dạng hóa kênh tài trợ vẫn chưa được đáp ứng đầy đủ, và năng lực hấp thụ vốn của nhiều dự án xanh cũng như khung tiêu chí, chuẩn mực xanh (Green Taxonomy, ESG) cần được hoàn thiện để thu hút vốn tư nhân trong nước và quốc tế nhiều hơn.

3.1. Đánh giá hiệu quả huy động nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trong những năm gần đây, hoạt động huy động vốn xanh tại Việt Nam đã ghi nhận những bước tiến đáng kể, phản ánh cam kết ngày càng rõ rệt của hệ thống tài chính trong thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội bền vững. Theo số liệu của NHNN, đến cuối năm 2025, có 58 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh, với tổng dư nợ đạt khoảng gần 780 tỉ đồng, chiếm khoảng 4,19% tổng dư nợ toàn nền kinh tế. Nhìn chung, tín dụng xanh tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao, với mức tăng trưởng bình quân cao hơn đáng kể so với tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của nền kinh tế.

Không chỉ tăng về quy mô, cơ cấu tín dụng xanh cũng chuyển dịch theo hướng ưu tiên các lĩnh vực quan trọng cho chuyển đổi xanh. Song song với việc mở rộng tín dụng xanh, nhiều ngân hàng thương mại đã tích hợp tiêu chí môi trường và xã hội trong thẩm định cấp tín dụng, nhằm đảm bảo sự minh bạch, kiểm soát rủi ro và hiệu quả sử dụng vốn. Cùng với đó, khung chính sách hỗ trợ tài chính xanh ngày càng được hoàn thiện; các định hướng phát triển bền vững của Chính phủ, cùng sự phối hợp giữa NHNN và các tổ chức tài chính quốc tế tạo nền tảng pháp lý và kỹ thuật thuận lợi để thúc đẩy dòng vốn vào các dự án xanh.

Như vậy, nỗ lực huy động vốn xanh tại Việt Nam đã đem lại kết quả đáng khích lệ về quy mô, cơ cấu đầu tư và khung pháp lý, mở ra cơ hội thực chất cho phát triển kinh tế xanh. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu vốn lớn cho quá trình chuyển đổi xanh, đặc biệt trong bối cảnh biến đổi khí hậu và cam kết phát triển bền vững, cần đẩy mạnh hơn nữa việc phát triển thị trường tài chính xanh, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia, mở rộng cả tín dụng và các sản phẩm tài chính dài hạn.

3.2. Thách thức trong việc huy động nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc huy động nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh vẫn còn nhiều thách thức. Cụ thể là:

(i) Nhu cầu vốn đầu tư cho các chương trình, dự án phát triển kinh tế xanh là rất lớn, trong khi Việt Nam hiện đang thiếu chính sách thu hút các nguồn tài chính xanh tham gia vào các lĩnh vực này.

(ii) Khả năng huy động nguồn lực từ ngân sách nhà nước, các nhà tài trợ và khu vực tư nhân để thực hiện phát triển kinh tế xanh còn hạn chế, phần lớn nguồn vốn vẫn phụ thuộc vào khu vực tư nhân và nguồn vay quốc tế.

(iii) Mặc dù Việt Nam đã có những tín hiệu tích cực song sự phát triển của lĩnh vực tín dụng xanh, tăng trưởng xanh ở Việt Nam được đánh giá là chưa nhanh như kỳ vọng, chưa khai thác hết tiềm năng. Việc phát triển hoạt động ngân hàng xanh tại các tổ chức tín dụng Việt Nam còn nhiều khó khăn. Thực tế, nguồn vốn cho vay của các tổ chức tín dụng thường là vốn huy động ngắn hạn trong khi đó dự án xanh thường có thời gian hoàn vốn dài, chi phí đầu tư lớn, gây khó khăn cho các ngân hàng trong việc cân đối vốn và đảm bảo tỉ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn theo quy định. Bên cạnh đó, còn vướng mắc trong việc giám sát và quản lý rủi ro khi cấp tín dụng do thiếu quy định, tiêu chí, tiêu chuẩn đánh giá công cụ đo lường tác động đến môi trường. Vì vậy, cần tiếp tục khơi thông các nguồn vốn khác bên kênh tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng xanh.

(iv) Đối với kênh trái phiếu xanh, chỉ có số ít các doanh nghiệp lớn phát hành được ra quốc tế. Theo phản ánh từ thị trường tại Báo cáo khảo sát của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước, đối với thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, đến giai đoạn 2024 - 2025, mặc dù quy mô phát hành còn hạn chế, nhưng các đợt phát hành thực tế vẫn thu hút được các nhà đầu tư, chủ yếu là các tổ chức tài chính và ngân hàng thay vì tình trạng thiếu người mua trên diện rộng. Tuy nhiên, thị trường vẫn gặp khó khăn do thiếu thanh khoản thứ cấp, chi phí phát hành cao và nguồn dự án xanh đạt chuẩn còn hạn chế khiến việc mở rộng cơ sở nhà đầu tư còn chậm.

(v) Khả năng huy động nguồn tài chính từ các định chế tài chính, quỹ và nhà đầu tư tư nhân quốc tế còn hạn chế. Nguồn vốn cho mục tiêu xanh hóa nền kinh tế của Việt Nam còn khá hạn chế trong bối cảnh ngân sách nhà nước hạn hẹp cùng ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19. Theo Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP), Việt Nam cần khoảng 330 - 370 tỉ USD để thực hiện cam kết phát thải ròng về "0" vào năm 2030, trong đó nguồn lực quốc gia chỉ có thể đáp ứng tối đa 36% nguồn lực và cần tới 64% từ các nguồn hỗ trợ của quốc tế.

(vi) Nguồn tài chính tư nhân phục vụ hoạt động này khá hạn chế, như thiếu nguồn vốn trung và dài hạn, thiếu các khoản vay có chi phí hợp lý cho các hoạt động đổi mới sáng tạo hay các công ty khởi nghiệp, thường làm lơ cấp vốn cho các hoạt động chưa có lợi nhuận chắc chắn.

4. Một số khuyến nghị khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

4.1. Đối với Chính phủ

Một là, cần tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về kinh tế xanh và tài chính xanh ở mức độ cụ thể và thống nhất hơn. Trong đó, đặc biệt quan trọng là việc ban hành tiêu chuẩn tín dụng xanh, danh mục ngành, lĩnh vực xanh phù hợp với điều kiện Việt Nam nhằm làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng đánh giá, thẩm định và giám sát các dự án xanh.

Hai là, cần xây dựng lộ trình chuyển đổi kinh tế với định hướng rõ ràng để định hình dòng vốn của khu vực nhà nước, tư nhân và vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào các ngành mũi nhọn theo hướng xanh hóa. Điều này tạo sự nhất quán về chính sách, giảm bất ổn kỳ vọng và nâng cao niềm tin của nhà đầu tư, khắc phục tình trạng nhà đầu tư tư nhân chỉ dám triển khai các dự án ngắn hạn do lo ngại rủi ro chính sách.

Ba là, Chính phủ tiếp tục phát huy vai trò huy động vốn từ khu vực tư nhân và các nhà đầu tư nước ngoài thông qua cơ chế thu hút đầu tư vào các ngành xanh, thúc đẩy thị trường trái phiếu xanh, trái phiếu doanh nghiệp xanh và đa dạng hóa các công cụ tài chính xanh.

Bốn là, cần tăng cường thu hút tài chính xanh từ các quỹ đầu tư quốc tế và các tổ chức phát triển nhằm phục vụ cơ cấu lại nền kinh tế, nhất là khu vực doanh nghiệp nhà nước, đồng thời tạo động lực tăng trưởng mới thông qua chuyển đổi xanh và tăng trưởng xanh trong dài hạn.

4.2. Đối với NHNN

Một là, cần sớm hoàn thiện hướng dẫn chi tiết về danh mục xanh và tiêu chí xác định dự án xanh, bảo đảm thống nhất với hệ thống phân ngành kinh tế Việt Nam. Đây là căn cứ quan trọng để các tổ chức tín dụng áp dụng trong thẩm định, cấp tín dụng và quản trị rủi ro đối với tín dụng xanh.

Hai là, có thể xem xét chỉ định một số ngân hàng thương mại có đủ năng lực đóng vai trò cố vấn, kiểm định và xác minh nguồn vốn xanh hoặc trái phiếu xanh, tạo điều kiện phát triển thị trường vốn xanh minh bạch và phù hợp thông lệ quốc tế.

Ba là, cơ quan quản lý cần tăng cường giám sát rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng, đồng thời hoàn thiện hệ thống báo cáo thống kê về tín dụng xanh để nâng cao chất lượng quản lý và hoạch định chính sách.

4.3. Đối với các ngân hàng thương mại

Các ngân hàng thương mại cần chủ động xây dựng danh mục sản phẩm tài chính xanh, tận dụng cơ hội phát triển các thị trường tài chính xanh, đặc biệt là thị trường trái phiếu xanh và huy động vốn xanh từ các nhà đầu tư có tổ chức. Đồng thời, cần ứng dụng mạnh mẽ thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhằm xanh hóa hoạt động ngân hàng, nâng cao năng lực thẩm định rủi ro môi trường - xã hội và cải thiện hiệu quả giám sát đối với các dự án xanh.

Bên cạnh đó, các tổ chức tín dụng cần tăng cường hợp tác với các quỹ đầu tư, định chế tài chính quốc tế và các tổ chức phi lợi nhuận nhằm mở rộng khả năng tiếp cận nguồn vốn xanh với chi phí hợp lý hơn, từ đó hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện chuyển đổi xanh.

5. Kết luận

Chuyển đổi nền kinh tế truyền thống sang nền kinh tế xanh là xu hướng nhiều quốc gia trên thế giới đang hướng tới. Việt Nam đang đặt ra nhiều ưu tiên cho việc phát triển kinh tế xanh và thu hút các nguồn vốn đầu tư vào các dự án phát triển bền vững. Vì vậy, cần có những sáng kiến và giải pháp đột phá để huy động đầu tư tư nhân vào các dự án mang lại hiệu quả về môi trường, xã hội và quản trị. Qua đó, góp phần tạo việc làm, đóng góp vào tăng trưởng toàn diện cũng như giúp Việt Nam hoàn thành các mục tiêu phát triển bền vững vào năm 2030.

Đặc biệt, cần đẩy mạnh triển khai mô hình hợp tác công - tư, chủ động tiếp cận các nguồn vốn từ tư nhân cũng như triển khai các công cụ tài chính dựa vào thị trường, như thị trường mua bán và trao đổi tín chỉ carbon để bảo đảm tính bền vững và nguồn lực tài chính ổn định cho tăng trưởng xanh. Việc huy động hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài kết hợp với các nguồn lực trong nước cho phát triển kinh tế - xã hội theo hướng bền vững là mục tiêu, yêu cầu nhất quán và cấp thiết của Việt Nam.

1 Dư nợ tín dụng xanh tăng vượt 700.000 tỉ đồng. Trang thông tin điện tử Kinh tế Sài Gòn, ngày 22/5/2025, https://thesaigontimes.vn/du-no-tin-dung-xanh-tang-vuot-700-000-ti-dong

2 Tăng trưởng bình quân dư nợ tín dụng xanh đạt trên 21%/năm. Trang thông tin điện tử Vnbusiness, ngày 21/5/2025, https://vnbusiness.vn/ngan-hang/tang-truong-binh-quan-du-no-tin-dung-xanh-dat-tren-21-nam-1106963.html

3 Dư nợ tín dụng xanh giai đoạn 2017- 2024 tăng bình quân trên 22%/năm. Trang thông tin điện tử Thị trường tài chính tiền tệ, ngày 26/4/2025, https://thitruongtaichinhtiente.vn/du-no-tin-dung-xanh-giai-doan-2017-2024-tang-binh-quan-tren-22-nam-67308.html

4, 5 Dư nợ tín dụng xanh khoảng 750.000 tỉ đồng; dự kiến hỗ trợ lãi suất 2%/năm cho dự án xanh, https://baochinhphu.vn/du-no-tin-dung-xanh-khoang-750000-ti-dong-du-kien-ho-tro-lai-suat-2-nam-cho-du-an-xanh-102251215163424259.htm

Tài liệu tham khảo

1. VnEconommy (2025), Kết nối tín dụng xanh - nền tảng phát triển khu công nghiệp bền vững, https://vneconomy.vn/ket-noi-tin-dung-xanh-phat-trien-xanh-hoa-cac-khu-cong-nghiep.htm

2. Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn đến 2050.

3. VnEconommy (2025), Tăng trưởng bình quân dư nợ tín dụng xanh đạt trên 21%/năm, https://vnbusiness.vn/ngan-hang/tang-truong-binh-quan-du-no-tin-dung-xanh-dat-tren-21-nam-1106963.html

4. Vneconommy (2024), Thúc đẩy dòng vốn xanh để thực hiện hóa chiến lược tăng trưởng xanh, https://vneconomy.vn/thuc-day-dong-von-xanh-de-hien-thuc-hoa-chien-luoc-tang-truong-xanh.htm

5. Lâm Thị Kim Liên và nhóm tác giả (2025), Vai trò của tín dụng xanh trong thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo tại Việt Nam: Thực trạng và hàm ý chính sách, https://tapchikinhtetaichinh.vn/vai-tro-tin-dung-xanh-trong-thuc-day-phat-trien-nang-luong-tai-tao-tai-viet-nam-thuc-trang-va-ham-y-chinh-sach-127579.html&link=autochange

TS. Vũ Thùy Linh
Trường Đại học Lao động - Xã hội

Tin bài khác

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bất định chính sách thương mại của Hoa Kỳ không chỉ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực ứng phó trước các cú sốc từ môi trường kinh tế quốc tế và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính - ngân hàng.
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Xem thêm
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy