Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Chính sách
Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
aa

Tóm tắt: Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, mục tiêu đưa nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng hai con số đang đặt ra cả yêu cầu rất cao lẫn cơ hội lớn cho công tác điều hành. Đây không chỉ là bài toán về tốc độ tăng trưởng, mà còn là yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, nâng cao chất lượng thể chế, hiệu quả phân bổ nguồn lực và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc từ bên ngoài. Từ thực tiễn đó, việc nhận diện đúng bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế, đánh giá đầy đủ những rủi ro, thách thức, đồng thời đề xuất các giải pháp điều hành chủ động, linh hoạt và khả thi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần tạo nền tảng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.

Từ khóa: Tăng trưởng cao, rủi ro địa chính trị, giá dầu, kinh tế vĩ mô.

MACROECONOMIC DEVELOPMENTS IN THE FIRST MONTHS OF 2026:
IDENTIFYING RISKS, CHALLENGES, AND POLICY RECOMMENDATIONS
FOR THE REMAINING MONTHS OF THE YEAR

Abstract: In the context of a global economy that continues to evolve rapidly, unpredictably, and with increasing complexity, Vietnam’s goal of achieving double-digit economic growth presents both significant challenges and major opportunities for macroeconomic management. This objective is not merely a matter of increasing growth rates, but also requires fundamental reforms in the growth model, improvements in institutional quality, more efficient resource allocation, and stronger economic resilience against external shocks. Against this backdrop, accurately identifying domestic and international macroeconomic conditions, comprehensively assessing potential risks and challenges, and proposing proactive, flexible, and feasible policy responses are of critical importance. These efforts will help establish a solid foundation for Vietnam to realize rapid and sustainable growth in the coming period.

Keywords: High growth, geopolitical risks, oil prices, macroeconomics.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Tình hình kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026 và một số rủi ro, thách thức

1.1. Một số vấn đề nổi bật về bối cảnh kinh tế quốc tế

Bước sang năm 2026, kinh tế thế giới nhìn chung chưa rơi vào suy giảm mạnh nhưng đang vận động trong trạng thái tăng trưởng thấp hơn kỳ vọng, phân hóa mạnh giữa các khu vực và chịu rủi ro lớn từ xung đột Trung Đông, gián đoạn năng lượng và bất định chính sách thương mại. Quỹ Tiền tệ quốc tế - IMF (4/2026) đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2026 xuống còn 3,1%, thấp hơn mức 3,3% của dự báo tháng 01/2026; Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD (3/2026) dự báo 2,9%; Liên hợp quốc - UN (01/2026) dự báo 2,7%; còn Ngân hàng Thế giới - WB (01/2026) dự báo 2,6%, cho thấy kinh tế toàn cầu đang đối mặt với rủi ro tăng trưởng chậm lại.

Một trong những rủi ro nổi bật nhất của các tháng đầu năm 2026 là thương mại thế giới chậm lại trong bối cảnh bảo hộ gia tăng và chi phí năng lượng tăng cao. Theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển - UNCTAD (4/2026) thương mại toàn cầu năm 2025 vẫn tăng mạnh, đạt khoảng 35 nghìn tỉ USD, tăng thêm khoảng 2,5 nghìn tỉ USD so với năm trước; tuy nhiên, đà tăng này được đánh giá là thiếu bền vững và có thể suy yếu trong phần còn lại của năm 2026 do căng thẳng thương mại, gia tăng chi phí giao dịch, thay đổi chính sách thuế quan, quy định quốc gia chặt chẽ hơn và sự xói mòn của các nguyên tắc thương mại dựa trên luật lệ. UNCTAD cũng lưu ý rằng, các biện pháp thuế quan và bảo hộ đã gia tăng đáng kể trong năm 2025, đặc biệt trong lĩnh vực chế tạo; trong khi xung đột tại Trung Đông và gián đoạn vận tải qua eo biển Hormuz có thể làm gia tăng chi phí năng lượng, vận tải và áp lực lạm phát đối với các nền kinh tế đang phát triển. Cùng chiều đánh giá thận trọng, Tổ chức Thương mại thế giới - WTO (3/2026) dự báo tăng trưởng thương mại hàng hóa toàn cầu sẽ giảm tốc từ mức 4,6% năm 2025 xuống còn khoảng 1,9% năm 2026 theo kịch bản cơ sở; trường hợp giá dầu duy trì ở mức cao trong cả năm 2026, tăng trưởng thương mại hàng hóa thế giới có thể giảm thêm khoảng 0,5 điểm phần trăm, xuống khoảng 1,4%. WTO cũng cho rằng thương mại dịch vụ, đặc biệt là vận tải và du lịch, có thể chịu tác động mạnh hơn do gián đoạn tuyến vận tải, hủy chuyến bay, chi phí bảo hiểm và logistics tăng. Điều này hàm ý dư địa mở rộng xuất khẩu theo quán tính truyền thống sẽ khó khăn hơn, nhất là đối với các nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam.

Một đặc điểm nổi bật trong các tháng đầu năm 2026 là điều kiện tài chính toàn cầu chưa nới lỏng rõ rệt. Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục giữ lãi suất mục tiêu ở mức 3,5% - 3,75% sau cuộc họp ngày 18/3/2026, trong khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tại cuộc họp ngày 30/4/2026 cũng giữ nguyên ba mức lãi suất chủ chốt, với lãi suất tiền gửi 2,0%, tái cấp vốn 2,15% và cho vay cận biên 2,40%. ECB nhấn mạnh xung đột tại Trung Đông làm giá năng lượng tăng mạnh, đẩy rủi ro lạm phát lên cao và làm suy yếu triển vọng tăng trưởng. Điều này cho thấy mặt bằng lãi suất quốc tế dù đã qua giai đoạn tăng mạnh nhưng vẫn ở mức cao, tiếp tục tạo sức ép lên tỉ giá, dòng vốn và chi phí vốn của các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.

Bên cạnh đó, rủi ro địa chính trị và năng lượng đang nổi lên rõ hơn kể từ tháng 3/2026. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ - EIA (5/2026), xung đột tại Trung Đông và việc eo biển Hormuz gần như bị đóng từ sau ngày 28/02/2026 đã làm thị trường dầu biến động mạnh; giá Brent bình quân tháng 4/2026 đạt khoảng 117 USD/thùng, cao hơn 46 USD/thùng so với tháng 02/2026 và ngày 07/4/2026 lên tới 138 USD/thùng. EIA dự báo giá Brent vẫn quanh mức 106 USD/thùng trong tháng 5 - 6/2026 do tồn kho dầu toàn cầu giảm mạnh. Các tổ chức quốc tế cũng đồng loạt cảnh báo tác động bất lợi của cú sốc năng lượng. OECD trong Báo cáo giữa kỳ tháng 3/2026 đã hạ dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu xuống 2,9% và nhấn mạnh cú sốc năng lượng đang làm tăng chi phí, kéo giảm cầu và gia tăng bất định. IMF (4/2026) cũng nhận định xung đột Trung Đông đang đe dọa làm gián đoạn tăng trưởng và quá trình giảm lạm phát toàn cầu.

Biểu 1: Diễn biến một số sự kiện nội bật trong các tháng đầu năm 2026

Nguồn: Tổng hợp của tác giả
Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Nhìn chung, bối cảnh quốc tế các tháng đầu năm 2026 diễn biến theo bốn xu hướng chính:

Thứ nhất, tăng trưởng toàn cầu duy trì nhưng không bền chắc; IMF dự báo kinh tế thế giới tăng khoảng 3,1% năm 2026, trong khi OECD dự báo thấp hơn, khoảng 2,9%, phản ánh sức cầu còn yếu và rủi ro suy giảm gia tăng.

Thứ hai, thương mại thế giới có xu hướng chậm lại do bảo hộ, bất định chính sách và chi phí thương mại tăng; WTO dự báo tăng trưởng thương mại hàng hóa toàn cầu năm 2026 chỉ khoảng 1,9%, còn UNCTAD cảnh báo các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đang làm gia tăng chi phí xuất khẩu, nhất là với các nền kinh tế đang phát triển.

Thứ ba, điều kiện tài chính quốc tế vẫn thận trọng khi lạm phát chịu sức ép trở lại từ giá năng lượng, khiến các ngân hàng trung ương lớn khó nới lỏng nhanh.

Thứ tư, rủi ro địa chính trị, năng lượng và chuỗi cung ứng tăng trở lại, làm gia tăng áp lực lạm phát, chi phí logistics và rủi ro đối với tăng trưởng toàn cầu.

1.2. Tình hình kinh tế vĩ mô trong nước những tháng đầu năm 2026

Trong bối cảnh quốc tế nhiều bất định, kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng khá tích cực nhưng cũng xuất hiện những dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.

GDP quý I/2026 ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với mức khoảng 9,1% cần đạt trong quý I để tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cả năm trên 10% như Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ đã đề ra. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,36%; công nghiệp và xây dựng tăng mạnh, riêng giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp tăng 9,01%, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,73%.

Động lực tăng trưởng tiếp tục đến từ khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ, tiêu dùng trong nước, đầu tư và thương mại. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tính chung 4 tháng đầu năm tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước; riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,9%, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng công nghiệp. Tuy nhiên, chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam tháng 4/2026 tiếp tục giảm, còn 50,5 điểm (tháng 3/2026 đạt 51,2 điểm, tháng 2/2026 đạt 54,3 điểm) và thấp nhất kể từ tháng 9/2025, phản ánh đà mở rộng sản xuất chậm lại do đơn hàng mới suy yếu, chi phí đầu vào, giá nhiên liệu, vận tải và bất định địa chính trị gia tăng.

Khu vực dịch vụ và tiêu dùng trong nước duy trì phục hồi tích cực. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 2.546,6 nghìn tỉ đồng, tăng 11,1%; nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,3%. Khách quốc tế đến Việt Nam đạt 8,8 triệu lượt, tăng 14,6% và là mức cao nhất của 4 tháng đầu năm từ trước đến nay, tiếp tục hỗ trợ các ngành du lịch, lưu trú, ăn uống, vận tải và dịch vụ liên quan.

Đầu tư tiếp tục cải thiện, song yêu cầu thúc đẩy giải ngân vẫn lớn. Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước 4 tháng đầu năm đạt khoảng 187,1 nghìn tỉ đồng, bằng 19,7% kế hoạch năm và tăng 10,4% so với cùng kỳ. Thu hút FDI duy trì tích cực, với tổng vốn đăng ký đạt 18,24 tỉ USD, tăng 32,0%; vốn FDI thực hiện đạt 7,40 tỉ USD, tăng 9,8%. Dù vậy, xuất khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI khi khu vực này chiếm khoảng 80,0% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Hoạt động thương mại quốc tế tăng trưởng mạnh về quy mô, song cán cân thương mại hàng hóa đã chuyển sang nhập siêu. Trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 344,17 tỉ USD, tăng 24,2%; xuất khẩu đạt 168,53 tỉ USD, tăng 19,7%, trong khi nhập khẩu đạt 175,64 tỉ USD, tăng 28,7%, dẫn tới nhập siêu 7,11 tỉ USD. Đây là tín hiệu cho thấy nền kinh tế đang gia tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, nhưng đồng thời cũng phản ánh mức độ phụ thuộc lớn vào đầu vào nhập khẩu và áp lực lên cán cân ngoại thương trong điều kiện giá thế giới biến động.

Các cân đối vĩ mô bắt đầu chịu áp lực rõ hơn so với năm 2025, nhất là lạm phát, tỉ giá, lãi suất và thị trường tài chính. CPI tháng 4/2026 tăng 0,84% so với tháng trước, tăng 5,46% so với cùng kỳ; tính chung 4 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,99%, lạm phát cơ bản tăng 3,89%. Áp lực lạm phát chủ yếu đến từ phía chi phí, trong đó giá gas, nhiên liệu, vật liệu xây dựng, dịch vụ ăn uống ngoài gia đình và chi phí vận chuyển tăng, phản ánh tác động lan tỏa của giá năng lượng và chi phí đầu vào vào mặt bằng giá trong nước.

Áp lực điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ lớn hơn khi phải đối mặt với nhiều cú sốc. Chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành theo hướng thận trọng. Tỉ giá USD/VND chịu áp lực tăng trong bối cảnh đồng USD mạnh, chênh lệch lãi suất quốc tế còn lớn và cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu. Trên thị trường, tỉ giá USD/VND hiện nay đã hạ nhiệt hơn so với giai đoạn cuối tháng 3. Ngày 13/5/2026, tỉ giá trung tâm ở mức 25.123 VND/USD; giá bán USD tại các ngân hàng thương mại lớn phổ biến quanh 26.379 VND/USD, trong khi thị trường tự do giao dịch khoảng 26.330 - 26.360 VND/USD. Mặt bằng lãi suất có dấu hiệu phân hóa nhưng áp lực thanh khoản ngắn hạn vẫn hiện hữu. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm đã hạ nhiệt so với cuối quý I/2026, xuống khoảng 3,88%/năm vào đầu tháng 5/2026; tuy nhiên, lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng lên khoảng 6,21%/năm. Thị trường chứng khoán có sự điều chỉnh mạnh trong tháng 3 nhưng đã phục hồi rõ hơn trong tháng 4. Kết thúc tháng 4/2026, VN-Index đạt 1.854,1 điểm, tăng 10,73% so với tháng trước và tăng khoảng 3,9% so với cuối năm 2025. Tuy nhiên, dòng vốn ngoại vẫn là yếu tố gây sức ép khi nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng mạnh, khoảng 41,3 nghìn tỉ đồng trong 4 tháng đầu năm 2026, cho thấy tâm lý thận trọng của các nhà đầu tư trước áp lực tỉ giá, lãi suất và bất định bên ngoài. Trong khi đó, dư địa tài khóa ngắn hạn mặc dù tích cực do thu ngân sách nhà nước đạt khá, 4 tháng đầu năm 2026 bằng 44% dự toán và tăng 15,2% so với cùng kỳ, song áp lực điều hành trong thời gian tới sẽ lớn hơn khi phải đồng thời hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và giữ ổn định vĩ mô, đồng thời thu ngân sách năm 2026 có thể khó đạt kế hoạch đề ra nếu giá dầu duy trì cao và xuất khẩu giảm tốc.

Biểu 2: Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2020 - 2026

Nguồn: Cục Thống kê
Nguồn: Cục Thống kê (2026)

1.3. Nhận diện một số rủi ro, thách thức cho tăng trưởng hai con số

Những diễn biến trên cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang chuyển từ trạng thái “phục hồi dựa vào cầu” sang trạng thái “chịu áp lực chi phí và tài chính”. Rủi ro vĩ mô không còn tập trung ở phía cầu yếu như giai đoạn trước, mà chuyển sang các yếu tố chi phí đầu vào, tỉ giá, lãi suất và điều kiện tài chính. Đồng thời, các hạn chế mang tính cấu trúc như phụ thuộc nhập khẩu đầu vào, chi phí logistics cao, công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm và hạ tầng chưa đồng bộ tiếp tục bộc lộ rõ hơn trong bối cảnh môi trường bên ngoài kém thuận lợi. Nhìn chung, một số rủi ro, thách thức đặt ra cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam trong thời gian tới có thể nhận diện gồm:

Thứ nhất, thách thức lớn nhất vẫn là rủi ro từ bên ngoài đối với mô hình tăng trưởng phụ thuộc khá mạnh vào xuất khẩu, đầu tư nước ngoài và khu vực chế biến, chế tạo. Trong bối cảnh thương mại thế giới giảm tốc, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan phức tạp hơn, nền kinh tế Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ giảm đơn hàng, thu hẹp thị trường, gia tăng điều tra phòng vệ thương mại và cạnh tranh gay gắt hơn trong thu hút FDI. Đây là thách thức đặc biệt lớn nếu mục tiêu tăng trưởng hai con số tiếp tục dựa nhiều vào mở rộng xuất khẩu và gia công lắp ráp.

Thứ hai, rủi ro năng lượng, giá hàng hóa cơ bản và chi phí logistics quốc tế có thể quay trở lại mạnh hơn. Các cảnh báo gần đây từ ECB, WTO và các diễn biến địa chính trị ở Trung Đông cho thấy một cú sốc giá dầu/khí đốt nếu kéo dài sẽ nhanh chóng lan sang lạm phát, chi phí đầu vào sản xuất, chi phí vận tải và chi phí sinh hoạt. Đối với Việt Nam, điều này không chỉ gây áp lực lên CPI mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất của khu vực công nghiệp và dịch vụ.

Thứ ba, dư địa chính sách vĩ mô không còn quá rộng. Muốn đạt tăng trưởng hai con số phải đẩy mạnh tổng cầu, đầu tư và tín dụng; nhưng cùng lúc đó vẫn phải giữ ổn định lạm phát, tỉ giá, nợ công và an toàn hệ thống tài chính. Trong bối cảnh Fed và ECB vẫn giữ lập trường thận trọng, Việt Nam khó có thể nới lỏng mạnh chính sách tiền tệ mà không phát sinh rủi ro về tỉ giá, lạm phát và dòng vốn.

Thứ tư, động lực trong nước tuy cải thiện nhưng chưa thật sự bứt phá đồng đều. Tiêu dùng nội địa, đầu tư tư nhân, thị trường bất động sản, chất lượng hấp thụ vốn của doanh nghiệp và hiệu quả giải ngân đầu tư công vẫn là những biến số then chốt. Mặc dù, thu ngân sách nhà nước, FDI và xuất khẩu khá tích cực, nhưng giải ngân đầu tư công còn chưa như mong muốn, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu. Điều đó cho thấy nền tảng phục hồi hiện nay chưa hoàn toàn vững chắc và vẫn phụ thuộc nhiều vào diễn biến bên ngoài.

Thứ năm, năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế vẫn là thách thức trung hạn nhưng có ý nghĩa quyết định đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tăng trưởng ở mức rất cao không thể duy trì lâu nếu chủ yếu dựa vào mở rộng vốn đầu tư, lao động giá rẻ và ưu đãi truyền thống; thay vào đó, Việt Nam cần chuyển nhanh sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ, công nghiệp nền tảng, kinh tế số, hạ tầng chiến lược và năng lực thực thi thể chế. Đây là thách thức lớn hơn cả bài toán tăng trưởng ngắn hạn.

2. Triển vọng tăng trưởng kinh tế năm 2026 và một số khuyến nghị

Với bức tranh tổng thể kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm 2026, có thể nhận định rằng, kinh tế Việt Nam vẫn đang ở trạng thái tương đối tích cực, thể hiện ở thương mại, FDI, ngân sách, PMI, niềm tin doanh nghiệp và các cân đối lớn tiếp tục được duy trì. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số là mục tiêu có tính thách thức cao trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, thương mại toàn cầu phục hồi chưa đồng đều, cùng với những biến động về địa chính trị và năng lượng. Đồng thời, việc điều hành chính sách trong nước cũng cần bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là thúc đẩy tăng trưởng cao, mà còn là lựa chọn các động lực tăng trưởng phù hợp, cơ cấu phát triển bền vững và cơ chế điều hành hiệu quả nhằm bảo đảm cân bằng giữa tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.

Trong bối cảnh đó, triển vọng kinh tế năm 2026 cần được đánh giá theo các kịch bản cụ thể. Trong kịch bản cơ sở, khi xung đột địa chính trị được kiểm soát và giá dầu dao động trong khoảng 85 - 100 USD/thùng, tăng trưởng kinh tế Việt Nam có thể đạt khoảng 8,0 - 8,5%, với điều kiện đầu tư công được đẩy nhanh từ quý II và các động lực trong nước phục hồi ở mức vừa phải. Trong kịch bản rủi ro, khi giá dầu duy trì ở mức cao hoặc tăng mạnh hơn, xung đột kéo dài và điều kiện tài chính toàn cầu tiếp tục thắt chặt, tăng trưởng có thể giảm xuống khoảng 6,5 - 7,5%, trong khi lạm phát và tỉ giá chịu áp lực lớn hơn. Ngược lại, trong kịch bản tích cực, nếu môi trường quốc tế cải thiện từ nửa cuối năm và các động lực trong nước được kích hoạt mạnh, tăng trưởng có thể đạt khoảng 9,0 - 9,2%. So với mục tiêu trên 10%, các kịch bản này cho thấy mục tiêu tăng trưởng là rất thách thức và đòi hỏi nỗ lực điều hành lớn trong các quý còn lại.

Trên cơ sở các kịch bản này, điều hành kinh tế vĩ mô năm 2026 cần chuyển từ trạng thái hỗ trợ phục hồi sang quản trị rủi ro trong điều kiện bất định cao. Trong kịch bản cơ sở, chính sách tiền tệ cần tiếp tục được điều hành linh hoạt và thận trọng, giữ ổn định lãi suất điều hành, kiểm soát tín dụng vào các lĩnh vực rủi ro và bảo đảm thanh khoản hợp lý. Chính sách tài khóa cần đóng vai trò chủ đạo trong hỗ trợ tăng trưởng, với trọng tâm là đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, đặc biệt các dự án hạ tầng chiến lược có tác động lan tỏa lớn. Điều hành tỉ giá cần tiếp tục linh hoạt, bám sát diễn biến thị trường nhưng tránh biến động đột ngột, trong khi điều hành giá cần kiểm soát tốt các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu và điện để hạn chế áp lực lạm phát.

Trong trường hợp rủi ro gia tăng, trọng tâm điều hành cần chuyển sang kiểm soát lạm phát và ổn định tỉ giá. Chính sách tiền tệ cần thận trọng hơn, có thể duy trì mặt bằng lãi suất ở mức cao hơn để ổn định thị trường ngoại hối và kiểm soát kỳ vọng lạm phát. Chính sách tài khóa cần được điều chỉnh theo hướng có mục tiêu, ưu tiên các lĩnh vực thiết yếu và hạn chế tạo thêm áp lực lạm phát. Đồng thời, cần tăng cường theo dõi và can thiệp thị trường tài chính khi cần thiết để bảo đảm ổn định hệ thống.

Từ những nhận định về triển vọng tăng trưởng kinh tế năm 2026 nêu trên, tác giả đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp điều hành cần được chú trọng như sau:

(1) Điều hành kinh tế vĩ mô theo hướng giữ vững ổn định để tạo nền tảng cho tăng trưởng cao

Trước hết, cần tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn như là điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Trong điều kiện rủi ro giá năng lượng, lương thực và vận tải quốc tế còn hiện hữu, công tác dự báo, cảnh báo sớm và xây dựng các kịch bản điều hành cần đi trước một bước; không để bị động trước các cú sốc từ bên ngoài, nhất là các cú sốc về thương mại, tỉ giá, lãi suất và giá cả hàng hóa cơ bản.

Cùng với đó, cần điều hành chính sách theo nguyên tắc linh hoạt, hỗ trợ tăng trưởng nhưng không đánh đổi ổn định, tránh tình trạng mở rộng tổng cầu quá mức trong ngắn hạn dẫn đến áp lực lạm phát, tỉ giá và rủi ro tài chính trong trung hạn.

(2) Phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ

Chính sách tài khóa cần tiếp tục giữ vai trò động lực dẫn dắt, nhất là trong bối cảnh dư địa tài khóa của Việt Nam hiện thuận lợi hơn nhiều nền kinh tế khác và thu ngân sách 3 tháng đầu năm 2026 đạt kết quả tích cực. Cần tập trung điều hành ngân sách theo hướng tăng hiệu quả chi tiêu công, ưu tiên các khoản chi có tác động lan tỏa lớn đến tăng trưởng như đầu tư hạ tầng chiến lược, chuyển đổi số, năng lượng, logistics, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ. Đồng thời, cần triệt để tiết kiệm chi thường xuyên để dành nguồn lực cho đầu tư phát triển và các chính sách hỗ trợ sản xuất - kinh doanh.

Về chính sách tiền tệ, cần tiếp tục điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt, thận trọng, bảo đảm thanh khoản cho nền kinh tế, hỗ trợ hợp lý cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn, song phải gắn với kiểm soát chất lượng tín dụng, an toàn hệ thống và ổn định tỉ giá trong bối cảnh Fed vẫn giữ lãi suất ở mức 3,5% - 3,75%.

Chính sách tiền tệ cần tiếp tục ưu tiên định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất, chế biến chế tạo, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, nhằm tạo động lực cho tăng trưởng bền vững, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng.

(3) Đẩy mạnh giải ngân đầu tư công

Một trong những giải pháp điều hành quan trọng nhất là đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, coi đây là “đầu kéo” kích thích tổng cầu, dẫn dắt đầu tư xã hội và tạo năng lực sản xuất mới. Trong bối cảnh quý I/2026 đã giải ngân 110,3 nghìn tỉ đồng, đạt 11% kế hoạch, mặc dù cao hơn cùng kỳ năm trước, nhưng mức này vẫn chưa đủ để tạo lực đẩy lớn cho cả năm 2026, do đó, cần có giải pháp mạnh hơn về phân công trách nhiệm, cắt giảm thủ tục trung gian, điều chuyển vốn từ dự án chậm sang dự án có khả năng hấp thụ tốt, và xử lý dứt điểm các điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, thủ tục đất đai, vật liệu và phối hợp liên ngành.

Cần xác định rõ các nhóm dự án ưu tiên có tác động lan tỏa lớn đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số, gồm: Hạ tầng giao thông chiến lược, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, logistics, hạ tầng khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ, và các công trình thúc đẩy liên kết vùng. Điều hành đầu tư công phải đi đôi với nâng cao chất lượng chuẩn bị đầu tư, hiệu quả thực hiện và khả năng hoàn thành đúng tiến độ, tránh tình trạng giải ngân bằng mọi giá nhưng hiệu quả thấp.

(4) Thúc đẩy mạnh ba động lực tăng trưởng: Đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu

Về đầu tư, ngoài đầu tư công, cần đẩy mạnh thu hút và giải ngân FDI có chọn lọc; ưu tiên các dự án công nghệ cao, công nghệ nguồn, công nghiệp nền tảng, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch, trung tâm dữ liệu, logistics hiện đại và các dự án có tỉ lệ nội địa hóa cao. Trong 3 tháng đầu năm 2026, FDI đăng ký mới tăng 42,9% và FDI thực hiện tăng 9,1%, đây là tín hiệu tốt cần được tận dụng bằng cải cách thể chế và chuẩn bị quỹ đất, hạ tầng, nhân lực tốt hơn.

Về tiêu dùng trong nước, cần có giải pháp hỗ trợ sức mua theo hướng bền vững, thông qua ổn định việc làm, thu nhập, giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp để hạn chế tăng giá bán lẻ, đồng thời nghiên cứu các chính sách thuế, phí phù hợp để kích cầu đối với một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có khả năng lan tỏa lớn. Cùng với đó là phát triển mạnh thị trường trong nước, hệ thống phân phối hiện đại, thương mại điện tử, logistics nội địa và các chương trình kết nối cung - cầu.

Về xuất khẩu, cần điều hành theo hướng chủ động thích ứng với xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng; đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa chuỗi cung ứng; nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, lao động, truy xuất nguồn gốc; hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng tốt hơn các hiệp định thương mại tự do (FTA); đồng thời theo dõi sát các vụ việc phòng vệ thương mại và biến động chính sách thuế quan của các thị trường lớn. Thương mại hàng hóa toàn cầu năm 2026 đang được WTO dự báo chỉ tăng khoảng 1,9% trong kịch bản cơ sở, cho thấy dư địa tăng trưởng xuất khẩu theo cách truyền thống sẽ khó hơn trước.

(5) Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, an ninh lương thực và ổn định mặt bằng giá

Để tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần tiếp tục bảo đảm ổn định nguồn cung năng lượng, duy trì hoạt động thông suốt của chuỗi cung ứng và hạn chế các biến động lớn về chi phí đầu vào có thể ảnh hưởng tới tâm lý thị trường và hoạt động sản xuất - kinh doanh. Trong bối cảnh tình hình địa chính trị thế giới còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường, đặc biệt là biến động giá năng lượng toàn cầu, việc điều hành các mặt hàng chiến lược như xăng dầu, điện, than, khí và nguyên vật liệu đầu vào cần được thực hiện theo hướng chủ động, linh hoạt và phối hợp đồng bộ nhằm hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.

Đồng thời, cần nâng cao năng lực điều hành giá theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước; phối hợp nhịp nhàng giữa thời điểm điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý với mục tiêu kiểm soát lạm phát; bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, không để xảy ra tâm lý kỳ vọng lạm phát lan rộng.

(6) Tháo gỡ thực chất khó khăn cho doanh nghiệp, cải thiện mạnh môi trường đầu tư kinh doanh

Giải pháp điều hành cần chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ chung sang tháo gỡ đúng điểm nghẽn của doanh nghiệp. Trọng tâm là rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ, thời gian xử lý hồ sơ; xử lý dứt điểm các vướng mắc pháp lý kéo dài liên quan đến đầu tư, đất đai, xây dựng, đấu thầu, phòng cháy chữa cháy, môi trường, hoàn thuế, hải quan và tiếp cận tín dụng.

Song song với đó, cần nâng cao chất lượng thực thi ở cấp địa phương, bởi trên thực tế nhiều điểm nghẽn không nằm ở việc thiếu chủ trương mà nằm ở khâu phối hợp và tổ chức thực hiện.

(7) Đẩy nhanh cải cách thể chế và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất

Về trung hạn nhưng cần sớm hành động, nên coi cải cách thể chế và nâng cao năng suất là giải pháp căn cơ nhất để tạo nền tảng cho tăng trưởng hai con số. Tăng trưởng cao không thể chỉ dựa vào mở rộng vốn đầu tư và tín dụng, mà cần chuyển mạnh sang tăng trưởng dựa trên nâng cao năng suất lao động, đổi mới công nghệ, quản trị hiện đại, kinh tế số, kinh tế xanh, công nghiệp công nghệ cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.

Theo đó, cần ưu tiên hoàn thiện thể chế cho các thị trường nhân tố sản xuất, nhất là thị trường vốn, đất đai, khoa học - công nghệ, dữ liệu và lao động chất lượng cao; thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước; hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân và doanh nghiệp dân tộc đủ năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.

(8) Tăng cường năng lực dự báo, xây dựng kịch bản và điều hành theo thời gian thực

Trong bối cảnh biến động nhanh, giải pháp điều hành cần dựa nhiều hơn vào dữ liệu, dự báo sớm và kịch bản linh hoạt. Cần xây dựng các kịch bản điều hành theo quý, thậm chí theo tháng đối với các biến số nhạy cảm như tăng trưởng, lạm phát, tỉ giá, lãi suất, xuất khẩu, giá dầu, dòng vốn và giải ngân đầu tư công; xác định rõ ngưỡng cảnh báo và phương án ứng phó tương ứng.

Đồng thời, cần nâng cấp cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu và phản ứng chính sách giữa các cơ quan điều hành, bảo đảm ra quyết định nhanh, đồng bộ và nhất quán hơn, nhất là khi xuất hiện cú sốc từ bên ngoài.

Tóm lại, những tháng đầu năm 2026 cho thấy kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi tích cực, song bối cảnh kinh tế quốc tế đang xuất hiện nhiều yếu tố biến động và khó lường hơn. Áp lực từ giá năng lượng, xu hướng tăng trưởng chậm của thương mại toàn cầu, mặt bằng lãi suất quốc tế còn ở mức cao, cùng với sức ép lạm phát trong nước đang đặt ra không ít thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là thúc đẩy tăng trưởng với tốc độ phù hợp, mà quan trọng hơn là chủ động nhận diện sớm các điểm nghẽn và rủi ro tiềm ẩn, lựa chọn đúng động lực tăng trưởng, điều hành chính sách linh hoạt và phối hợp hiệu quả giữa các công cụ vĩ mô nhằm vừa hỗ trợ phục hồi kinh tế, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Đây cũng là nền tảng quan trọng để Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh đi đôi với phát triển bền vững trong trung và dài hạn.

Tài liệu tham khảo

1. ADB (2026), Asian Development Outlook, April 2026: Viet Nam economy.

2. Cục Thống kê (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2026; 4 tháng đầu năm 2026.

3. IMF (2026), World Economic Outlook, April 2026.

4. OECD (2026), OECD Economic Outlook, Interim Report, March 2026.

5. UNCTAD (2026), Global Trade Update: Global trade growth continues, but fragility rises, April 2026.

6. UNCTAD (2026), Global Trade Update: Top trends redefining global trade in 2026, January 2026.

7. WB (2026), Macro Poverty Outlook: Viet Nam, April 2026.

8. WTO (2026), Global Trade Outlook and Statistics, March 2026.

9. WTO (2026), Middle East conflict weighs further on slowing trade outlook, 19 March 2026.

ThS. Vũ Thị Huyền Trang
Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, Bộ Tài chính

Tin bài khác

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xem thêm
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Khuôn khổ pháp lý để phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam: Thực trạng và thách thức

Trong bối cảnh phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là xu hướng toàn cầu cũng là định hướng phát triển chiến lược của Việt Nam trong kỷ nguyên mới, ngành Ngân hàng đã không ngừng chủ động thích ứng, tiên phong ứng dụng công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ và cải thiện trải nghiệm khách hàng. Trong tiến trình đó, phát triển “ngân hàng số” liên tục nhận được nhiều sự quan tâm. Ở bối cảnh hiện tại, ngân hàng số không chỉ là một phần của nền kinh tế số mà còn gắn liền với mục tiêu phát triển Trung tâm tài chính của Việt Nam có sức cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những cơ hội to lớn là nhiều vấn đề pháp lý được đặt ra, đòi hỏi một khuôn khổ điều chỉnh phù hợp, linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo an toàn hệ thống và quyền lợi của các chủ thể tham gia thị trường. Từ yêu cầu đó, bài viết phân tích khái quát: (i) Điều kiện, thực trạng pháp lý hiện nay của Việt Nam đối với ngân hàng số; (ii) Kinh nghiệm quản lý ngân hàng số tại một số Trung tâm tài chính trên thế giới như Singapore, Hồng Kông (Trung Quốc); (iii) Đánh giá những thách thức đặt ra và đề xuất một số khuyến nghị phù hợp đối với việc phát triển ngân hàng số tại Trung tâm tài chính ở Việt Nam.
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam