Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm
Tóm tắt: Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến nhanh, phức tạp, khó lường, mục tiêu đưa nền kinh tế Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng hai con số đang đặt ra cả yêu cầu rất cao lẫn cơ hội lớn cho công tác điều hành. Đây không chỉ là bài toán về tốc độ tăng trưởng, mà còn là yêu cầu đổi mới mô hình phát triển, nâng cao chất lượng thể chế, hiệu quả phân bổ nguồn lực và khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc từ bên ngoài. Từ thực tiễn đó, việc nhận diện đúng bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế, đánh giá đầy đủ những rủi ro, thách thức, đồng thời đề xuất các giải pháp điều hành chủ động, linh hoạt và khả thi có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, góp phần tạo nền tảng để Việt Nam hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững trong giai đoạn tới.
Từ khóa: Tăng trưởng cao, rủi ro địa chính trị, giá dầu, kinh tế vĩ mô.
MACROECONOMIC DEVELOPMENTS IN THE FIRST MONTHS OF 2026:
IDENTIFYING RISKS, CHALLENGES, AND POLICY RECOMMENDATIONS
FOR THE REMAINING MONTHS OF THE YEAR
Abstract: In the context of a global economy that continues to evolve rapidly, unpredictably, and with increasing complexity, Vietnam’s goal of achieving double-digit economic growth presents both significant challenges and major opportunities for macroeconomic management. This objective is not merely a matter of increasing growth rates, but also requires fundamental reforms in the growth model, improvements in institutional quality, more efficient resource allocation, and stronger economic resilience against external shocks. Against this backdrop, accurately identifying domestic and international macroeconomic conditions, comprehensively assessing potential risks and challenges, and proposing proactive, flexible, and feasible policy responses are of critical importance. These efforts will help establish a solid foundation for Vietnam to realize rapid and sustainable growth in the coming period.
Keywords: High growth, geopolitical risks, oil prices, macroeconomics.
![]() |
| Ảnh minh họa (Nguồn: Internet) |
1. Tình hình kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026 và một số rủi ro, thách thức
1.1. Một số vấn đề nổi bật về bối cảnh kinh tế quốc tế
Bước sang năm 2026, kinh tế thế giới nhìn chung chưa rơi vào suy giảm mạnh nhưng đang vận động trong trạng thái tăng trưởng thấp hơn kỳ vọng, phân hóa mạnh giữa các khu vực và chịu rủi ro lớn từ xung đột Trung Đông, gián đoạn năng lượng và bất định chính sách thương mại. Quỹ Tiền tệ quốc tế - IMF (4/2026) đã hạ dự báo tăng trưởng kinh tế năm 2026 xuống còn 3,1%, thấp hơn mức 3,3% của dự báo tháng 01/2026; Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD (3/2026) dự báo 2,9%; Liên hợp quốc - UN (01/2026) dự báo 2,7%; còn Ngân hàng Thế giới - WB (01/2026) dự báo 2,6%, cho thấy kinh tế toàn cầu đang đối mặt với rủi ro tăng trưởng chậm lại.
Một trong những rủi ro nổi bật nhất của các tháng đầu năm 2026 là thương mại thế giới chậm lại trong bối cảnh bảo hộ gia tăng và chi phí năng lượng tăng cao. Theo Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển - UNCTAD (4/2026) thương mại toàn cầu năm 2025 vẫn tăng mạnh, đạt khoảng 35 nghìn tỉ USD, tăng thêm khoảng 2,5 nghìn tỉ USD so với năm trước; tuy nhiên, đà tăng này được đánh giá là thiếu bền vững và có thể suy yếu trong phần còn lại của năm 2026 do căng thẳng thương mại, gia tăng chi phí giao dịch, thay đổi chính sách thuế quan, quy định quốc gia chặt chẽ hơn và sự xói mòn của các nguyên tắc thương mại dựa trên luật lệ. UNCTAD cũng lưu ý rằng, các biện pháp thuế quan và bảo hộ đã gia tăng đáng kể trong năm 2025, đặc biệt trong lĩnh vực chế tạo; trong khi xung đột tại Trung Đông và gián đoạn vận tải qua eo biển Hormuz có thể làm gia tăng chi phí năng lượng, vận tải và áp lực lạm phát đối với các nền kinh tế đang phát triển. Cùng chiều đánh giá thận trọng, Tổ chức Thương mại thế giới - WTO (3/2026) dự báo tăng trưởng thương mại hàng hóa toàn cầu sẽ giảm tốc từ mức 4,6% năm 2025 xuống còn khoảng 1,9% năm 2026 theo kịch bản cơ sở; trường hợp giá dầu duy trì ở mức cao trong cả năm 2026, tăng trưởng thương mại hàng hóa thế giới có thể giảm thêm khoảng 0,5 điểm phần trăm, xuống khoảng 1,4%. WTO cũng cho rằng thương mại dịch vụ, đặc biệt là vận tải và du lịch, có thể chịu tác động mạnh hơn do gián đoạn tuyến vận tải, hủy chuyến bay, chi phí bảo hiểm và logistics tăng. Điều này hàm ý dư địa mở rộng xuất khẩu theo quán tính truyền thống sẽ khó khăn hơn, nhất là đối với các nền kinh tế có độ mở lớn như Việt Nam.
Một đặc điểm nổi bật trong các tháng đầu năm 2026 là điều kiện tài chính toàn cầu chưa nới lỏng rõ rệt. Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed) tiếp tục giữ lãi suất mục tiêu ở mức 3,5% - 3,75% sau cuộc họp ngày 18/3/2026, trong khi Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) tại cuộc họp ngày 30/4/2026 cũng giữ nguyên ba mức lãi suất chủ chốt, với lãi suất tiền gửi 2,0%, tái cấp vốn 2,15% và cho vay cận biên 2,40%. ECB nhấn mạnh xung đột tại Trung Đông làm giá năng lượng tăng mạnh, đẩy rủi ro lạm phát lên cao và làm suy yếu triển vọng tăng trưởng. Điều này cho thấy mặt bằng lãi suất quốc tế dù đã qua giai đoạn tăng mạnh nhưng vẫn ở mức cao, tiếp tục tạo sức ép lên tỉ giá, dòng vốn và chi phí vốn của các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Bên cạnh đó, rủi ro địa chính trị và năng lượng đang nổi lên rõ hơn kể từ tháng 3/2026. Theo Cơ quan Thông tin Năng lượng Hoa Kỳ - EIA (5/2026), xung đột tại Trung Đông và việc eo biển Hormuz gần như bị đóng từ sau ngày 28/02/2026 đã làm thị trường dầu biến động mạnh; giá Brent bình quân tháng 4/2026 đạt khoảng 117 USD/thùng, cao hơn 46 USD/thùng so với tháng 02/2026 và ngày 07/4/2026 lên tới 138 USD/thùng. EIA dự báo giá Brent vẫn quanh mức 106 USD/thùng trong tháng 5 - 6/2026 do tồn kho dầu toàn cầu giảm mạnh. Các tổ chức quốc tế cũng đồng loạt cảnh báo tác động bất lợi của cú sốc năng lượng. OECD trong Báo cáo giữa kỳ tháng 3/2026 đã hạ dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu xuống 2,9% và nhấn mạnh cú sốc năng lượng đang làm tăng chi phí, kéo giảm cầu và gia tăng bất định. IMF (4/2026) cũng nhận định xung đột Trung Đông đang đe dọa làm gián đoạn tăng trưởng và quá trình giảm lạm phát toàn cầu.
Biểu 1: Diễn biến một số sự kiện nội bật trong các tháng đầu năm 2026
![]() |
| Nguồn: Tổng hợp của tác giả |
Nhìn chung, bối cảnh quốc tế các tháng đầu năm 2026 diễn biến theo bốn xu hướng chính:
Thứ nhất, tăng trưởng toàn cầu duy trì nhưng không bền chắc; IMF dự báo kinh tế thế giới tăng khoảng 3,1% năm 2026, trong khi OECD dự báo thấp hơn, khoảng 2,9%, phản ánh sức cầu còn yếu và rủi ro suy giảm gia tăng.
Thứ hai, thương mại thế giới có xu hướng chậm lại do bảo hộ, bất định chính sách và chi phí thương mại tăng; WTO dự báo tăng trưởng thương mại hàng hóa toàn cầu năm 2026 chỉ khoảng 1,9%, còn UNCTAD cảnh báo các hàng rào thuế quan và phi thuế quan đang làm gia tăng chi phí xuất khẩu, nhất là với các nền kinh tế đang phát triển.
Thứ ba, điều kiện tài chính quốc tế vẫn thận trọng khi lạm phát chịu sức ép trở lại từ giá năng lượng, khiến các ngân hàng trung ương lớn khó nới lỏng nhanh.
Thứ tư, rủi ro địa chính trị, năng lượng và chuỗi cung ứng tăng trở lại, làm gia tăng áp lực lạm phát, chi phí logistics và rủi ro đối với tăng trưởng toàn cầu.
1.2. Tình hình kinh tế vĩ mô trong nước những tháng đầu năm 2026
Trong bối cảnh quốc tế nhiều bất định, kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm 2026 vẫn duy trì được đà tăng trưởng khá tích cực nhưng cũng xuất hiện những dấu hiệu cho thấy nền kinh tế đang đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.
GDP quý I/2026 ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với mức khoảng 9,1% cần đạt trong quý I để tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cả năm trên 10% như Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ đã đề ra. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,36%; công nghiệp và xây dựng tăng mạnh, riêng giá trị tăng thêm toàn ngành công nghiệp tăng 9,01%, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,73%.
Động lực tăng trưởng tiếp tục đến từ khu vực công nghiệp chế biến, chế tạo, dịch vụ, tiêu dùng trong nước, đầu tư và thương mại. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tính chung 4 tháng đầu năm tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước; riêng công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,9%, đóng góp chủ yếu vào tăng trưởng công nghiệp. Tuy nhiên, chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam tháng 4/2026 tiếp tục giảm, còn 50,5 điểm (tháng 3/2026 đạt 51,2 điểm, tháng 2/2026 đạt 54,3 điểm) và thấp nhất kể từ tháng 9/2025, phản ánh đà mở rộng sản xuất chậm lại do đơn hàng mới suy yếu, chi phí đầu vào, giá nhiên liệu, vận tải và bất định địa chính trị gia tăng.
Khu vực dịch vụ và tiêu dùng trong nước duy trì phục hồi tích cực. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 4 tháng đầu năm 2026 đạt khoảng 2.546,6 nghìn tỉ đồng, tăng 11,1%; nếu loại trừ yếu tố giá tăng 6,3%. Khách quốc tế đến Việt Nam đạt 8,8 triệu lượt, tăng 14,6% và là mức cao nhất của 4 tháng đầu năm từ trước đến nay, tiếp tục hỗ trợ các ngành du lịch, lưu trú, ăn uống, vận tải và dịch vụ liên quan.
Đầu tư tiếp tục cải thiện, song yêu cầu thúc đẩy giải ngân vẫn lớn. Vốn đầu tư thực hiện từ ngân sách nhà nước 4 tháng đầu năm đạt khoảng 187,1 nghìn tỉ đồng, bằng 19,7% kế hoạch năm và tăng 10,4% so với cùng kỳ. Thu hút FDI duy trì tích cực, với tổng vốn đăng ký đạt 18,24 tỉ USD, tăng 32,0%; vốn FDI thực hiện đạt 7,40 tỉ USD, tăng 9,8%. Dù vậy, xuất khẩu vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực FDI khi khu vực này chiếm khoảng 80,0% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Hoạt động thương mại quốc tế tăng trưởng mạnh về quy mô, song cán cân thương mại hàng hóa đã chuyển sang nhập siêu. Trong 4 tháng đầu năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 344,17 tỉ USD, tăng 24,2%; xuất khẩu đạt 168,53 tỉ USD, tăng 19,7%, trong khi nhập khẩu đạt 175,64 tỉ USD, tăng 28,7%, dẫn tới nhập siêu 7,11 tỉ USD. Đây là tín hiệu cho thấy nền kinh tế đang gia tăng nhập khẩu máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, nhưng đồng thời cũng phản ánh mức độ phụ thuộc lớn vào đầu vào nhập khẩu và áp lực lên cán cân ngoại thương trong điều kiện giá thế giới biến động.
Các cân đối vĩ mô bắt đầu chịu áp lực rõ hơn so với năm 2025, nhất là lạm phát, tỉ giá, lãi suất và thị trường tài chính. CPI tháng 4/2026 tăng 0,84% so với tháng trước, tăng 5,46% so với cùng kỳ; tính chung 4 tháng đầu năm 2026, CPI tăng 3,99%, lạm phát cơ bản tăng 3,89%. Áp lực lạm phát chủ yếu đến từ phía chi phí, trong đó giá gas, nhiên liệu, vật liệu xây dựng, dịch vụ ăn uống ngoài gia đình và chi phí vận chuyển tăng, phản ánh tác động lan tỏa của giá năng lượng và chi phí đầu vào vào mặt bằng giá trong nước.
Áp lực điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ lớn hơn khi phải đối mặt với nhiều cú sốc. Chính sách tiền tệ tiếp tục được điều hành theo hướng thận trọng. Tỉ giá USD/VND chịu áp lực tăng trong bối cảnh đồng USD mạnh, chênh lệch lãi suất quốc tế còn lớn và cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu. Trên thị trường, tỉ giá USD/VND hiện nay đã hạ nhiệt hơn so với giai đoạn cuối tháng 3. Ngày 13/5/2026, tỉ giá trung tâm ở mức 25.123 VND/USD; giá bán USD tại các ngân hàng thương mại lớn phổ biến quanh 26.379 VND/USD, trong khi thị trường tự do giao dịch khoảng 26.330 - 26.360 VND/USD. Mặt bằng lãi suất có dấu hiệu phân hóa nhưng áp lực thanh khoản ngắn hạn vẫn hiện hữu. Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất qua đêm đã hạ nhiệt so với cuối quý I/2026, xuống khoảng 3,88%/năm vào đầu tháng 5/2026; tuy nhiên, lãi suất kỳ hạn 1 tuần tăng lên khoảng 6,21%/năm. Thị trường chứng khoán có sự điều chỉnh mạnh trong tháng 3 nhưng đã phục hồi rõ hơn trong tháng 4. Kết thúc tháng 4/2026, VN-Index đạt 1.854,1 điểm, tăng 10,73% so với tháng trước và tăng khoảng 3,9% so với cuối năm 2025. Tuy nhiên, dòng vốn ngoại vẫn là yếu tố gây sức ép khi nhà đầu tư nước ngoài tiếp tục bán ròng mạnh, khoảng 41,3 nghìn tỉ đồng trong 4 tháng đầu năm 2026, cho thấy tâm lý thận trọng của các nhà đầu tư trước áp lực tỉ giá, lãi suất và bất định bên ngoài. Trong khi đó, dư địa tài khóa ngắn hạn mặc dù tích cực do thu ngân sách nhà nước đạt khá, 4 tháng đầu năm 2026 bằng 44% dự toán và tăng 15,2% so với cùng kỳ, song áp lực điều hành trong thời gian tới sẽ lớn hơn khi phải đồng thời hỗ trợ tăng trưởng, kiểm soát lạm phát và giữ ổn định vĩ mô, đồng thời thu ngân sách năm 2026 có thể khó đạt kế hoạch đề ra nếu giá dầu duy trì cao và xuất khẩu giảm tốc.
Biểu 2: Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2020 - 2026
![]() |
| Nguồn: Cục Thống kê (2026) |
1.3. Nhận diện một số rủi ro, thách thức cho tăng trưởng hai con số
Những diễn biến trên cho thấy nền kinh tế Việt Nam đang chuyển từ trạng thái “phục hồi dựa vào cầu” sang trạng thái “chịu áp lực chi phí và tài chính”. Rủi ro vĩ mô không còn tập trung ở phía cầu yếu như giai đoạn trước, mà chuyển sang các yếu tố chi phí đầu vào, tỉ giá, lãi suất và điều kiện tài chính. Đồng thời, các hạn chế mang tính cấu trúc như phụ thuộc nhập khẩu đầu vào, chi phí logistics cao, công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm và hạ tầng chưa đồng bộ tiếp tục bộc lộ rõ hơn trong bối cảnh môi trường bên ngoài kém thuận lợi. Nhìn chung, một số rủi ro, thách thức đặt ra cho mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam trong thời gian tới có thể nhận diện gồm:
Thứ nhất, thách thức lớn nhất vẫn là rủi ro từ bên ngoài đối với mô hình tăng trưởng phụ thuộc khá mạnh vào xuất khẩu, đầu tư nước ngoài và khu vực chế biến, chế tạo. Trong bối cảnh thương mại thế giới giảm tốc, chủ nghĩa bảo hộ gia tăng, các hàng rào thuế quan và phi thuế quan phức tạp hơn, nền kinh tế Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ giảm đơn hàng, thu hẹp thị trường, gia tăng điều tra phòng vệ thương mại và cạnh tranh gay gắt hơn trong thu hút FDI. Đây là thách thức đặc biệt lớn nếu mục tiêu tăng trưởng hai con số tiếp tục dựa nhiều vào mở rộng xuất khẩu và gia công lắp ráp.
Thứ hai, rủi ro năng lượng, giá hàng hóa cơ bản và chi phí logistics quốc tế có thể quay trở lại mạnh hơn. Các cảnh báo gần đây từ ECB, WTO và các diễn biến địa chính trị ở Trung Đông cho thấy một cú sốc giá dầu/khí đốt nếu kéo dài sẽ nhanh chóng lan sang lạm phát, chi phí đầu vào sản xuất, chi phí vận tải và chi phí sinh hoạt. Đối với Việt Nam, điều này không chỉ gây áp lực lên CPI mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chi phí sản xuất của khu vực công nghiệp và dịch vụ.
Thứ ba, dư địa chính sách vĩ mô không còn quá rộng. Muốn đạt tăng trưởng hai con số phải đẩy mạnh tổng cầu, đầu tư và tín dụng; nhưng cùng lúc đó vẫn phải giữ ổn định lạm phát, tỉ giá, nợ công và an toàn hệ thống tài chính. Trong bối cảnh Fed và ECB vẫn giữ lập trường thận trọng, Việt Nam khó có thể nới lỏng mạnh chính sách tiền tệ mà không phát sinh rủi ro về tỉ giá, lạm phát và dòng vốn.
Thứ tư, động lực trong nước tuy cải thiện nhưng chưa thật sự bứt phá đồng đều. Tiêu dùng nội địa, đầu tư tư nhân, thị trường bất động sản, chất lượng hấp thụ vốn của doanh nghiệp và hiệu quả giải ngân đầu tư công vẫn là những biến số then chốt. Mặc dù, thu ngân sách nhà nước, FDI và xuất khẩu khá tích cực, nhưng giải ngân đầu tư công còn chưa như mong muốn, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu khiến cán cân thương mại chuyển sang nhập siêu. Điều đó cho thấy nền tảng phục hồi hiện nay chưa hoàn toàn vững chắc và vẫn phụ thuộc nhiều vào diễn biến bên ngoài.
Thứ năm, năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế vẫn là thách thức trung hạn nhưng có ý nghĩa quyết định đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số. Tăng trưởng ở mức rất cao không thể duy trì lâu nếu chủ yếu dựa vào mở rộng vốn đầu tư, lao động giá rẻ và ưu đãi truyền thống; thay vào đó, Việt Nam cần chuyển nhanh sang mô hình tăng trưởng dựa nhiều hơn vào năng suất, công nghệ, công nghiệp nền tảng, kinh tế số, hạ tầng chiến lược và năng lực thực thi thể chế. Đây là thách thức lớn hơn cả bài toán tăng trưởng ngắn hạn.
2. Triển vọng tăng trưởng kinh tế năm 2026 và một số khuyến nghị
Với bức tranh tổng thể kinh tế Việt Nam những tháng đầu năm 2026, có thể nhận định rằng, kinh tế Việt Nam vẫn đang ở trạng thái tương đối tích cực, thể hiện ở thương mại, FDI, ngân sách, PMI, niềm tin doanh nghiệp và các cân đối lớn tiếp tục được duy trì. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng hai con số là mục tiêu có tính thách thức cao trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, thương mại toàn cầu phục hồi chưa đồng đều, cùng với những biến động về địa chính trị và năng lượng. Đồng thời, việc điều hành chính sách trong nước cũng cần bảo đảm hài hòa giữa yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô. Vì vậy, vấn đề đặt ra không chỉ là thúc đẩy tăng trưởng cao, mà còn là lựa chọn các động lực tăng trưởng phù hợp, cơ cấu phát triển bền vững và cơ chế điều hành hiệu quả nhằm bảo đảm cân bằng giữa tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.
Trong bối cảnh đó, triển vọng kinh tế năm 2026 cần được đánh giá theo các kịch bản cụ thể. Trong kịch bản cơ sở, khi xung đột địa chính trị được kiểm soát và giá dầu dao động trong khoảng 85 - 100 USD/thùng, tăng trưởng kinh tế Việt Nam có thể đạt khoảng 8,0 - 8,5%, với điều kiện đầu tư công được đẩy nhanh từ quý II và các động lực trong nước phục hồi ở mức vừa phải. Trong kịch bản rủi ro, khi giá dầu duy trì ở mức cao hoặc tăng mạnh hơn, xung đột kéo dài và điều kiện tài chính toàn cầu tiếp tục thắt chặt, tăng trưởng có thể giảm xuống khoảng 6,5 - 7,5%, trong khi lạm phát và tỉ giá chịu áp lực lớn hơn. Ngược lại, trong kịch bản tích cực, nếu môi trường quốc tế cải thiện từ nửa cuối năm và các động lực trong nước được kích hoạt mạnh, tăng trưởng có thể đạt khoảng 9,0 - 9,2%. So với mục tiêu trên 10%, các kịch bản này cho thấy mục tiêu tăng trưởng là rất thách thức và đòi hỏi nỗ lực điều hành lớn trong các quý còn lại.
Trên cơ sở các kịch bản này, điều hành kinh tế vĩ mô năm 2026 cần chuyển từ trạng thái hỗ trợ phục hồi sang quản trị rủi ro trong điều kiện bất định cao. Trong kịch bản cơ sở, chính sách tiền tệ cần tiếp tục được điều hành linh hoạt và thận trọng, giữ ổn định lãi suất điều hành, kiểm soát tín dụng vào các lĩnh vực rủi ro và bảo đảm thanh khoản hợp lý. Chính sách tài khóa cần đóng vai trò chủ đạo trong hỗ trợ tăng trưởng, với trọng tâm là đẩy nhanh giải ngân đầu tư công, đặc biệt các dự án hạ tầng chiến lược có tác động lan tỏa lớn. Điều hành tỉ giá cần tiếp tục linh hoạt, bám sát diễn biến thị trường nhưng tránh biến động đột ngột, trong khi điều hành giá cần kiểm soát tốt các mặt hàng thiết yếu như xăng dầu và điện để hạn chế áp lực lạm phát.
Trong trường hợp rủi ro gia tăng, trọng tâm điều hành cần chuyển sang kiểm soát lạm phát và ổn định tỉ giá. Chính sách tiền tệ cần thận trọng hơn, có thể duy trì mặt bằng lãi suất ở mức cao hơn để ổn định thị trường ngoại hối và kiểm soát kỳ vọng lạm phát. Chính sách tài khóa cần được điều chỉnh theo hướng có mục tiêu, ưu tiên các lĩnh vực thiết yếu và hạn chế tạo thêm áp lực lạm phát. Đồng thời, cần tăng cường theo dõi và can thiệp thị trường tài chính khi cần thiết để bảo đảm ổn định hệ thống.
Từ những nhận định về triển vọng tăng trưởng kinh tế năm 2026 nêu trên, tác giả đề xuất một số khuyến nghị về giải pháp điều hành cần được chú trọng như sau:
(1) Điều hành kinh tế vĩ mô theo hướng giữ vững ổn định để tạo nền tảng cho tăng trưởng cao
Trước hết, cần tiếp tục kiên định mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn như là điều kiện tiên quyết cho tăng trưởng nhanh và bền vững. Trong điều kiện rủi ro giá năng lượng, lương thực và vận tải quốc tế còn hiện hữu, công tác dự báo, cảnh báo sớm và xây dựng các kịch bản điều hành cần đi trước một bước; không để bị động trước các cú sốc từ bên ngoài, nhất là các cú sốc về thương mại, tỉ giá, lãi suất và giá cả hàng hóa cơ bản.
Cùng với đó, cần điều hành chính sách theo nguyên tắc linh hoạt, hỗ trợ tăng trưởng nhưng không đánh đổi ổn định, tránh tình trạng mở rộng tổng cầu quá mức trong ngắn hạn dẫn đến áp lực lạm phát, tỉ giá và rủi ro tài chính trong trung hạn.
(2) Phối hợp chặt chẽ chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ
Chính sách tài khóa cần tiếp tục giữ vai trò động lực dẫn dắt, nhất là trong bối cảnh dư địa tài khóa của Việt Nam hiện thuận lợi hơn nhiều nền kinh tế khác và thu ngân sách 3 tháng đầu năm 2026 đạt kết quả tích cực. Cần tập trung điều hành ngân sách theo hướng tăng hiệu quả chi tiêu công, ưu tiên các khoản chi có tác động lan tỏa lớn đến tăng trưởng như đầu tư hạ tầng chiến lược, chuyển đổi số, năng lượng, logistics, giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ. Đồng thời, cần triệt để tiết kiệm chi thường xuyên để dành nguồn lực cho đầu tư phát triển và các chính sách hỗ trợ sản xuất - kinh doanh.
Về chính sách tiền tệ, cần tiếp tục điều hành theo hướng chủ động, linh hoạt, thận trọng, bảo đảm thanh khoản cho nền kinh tế, hỗ trợ hợp lý cho doanh nghiệp và người dân tiếp cận vốn, song phải gắn với kiểm soát chất lượng tín dụng, an toàn hệ thống và ổn định tỉ giá trong bối cảnh Fed vẫn giữ lãi suất ở mức 3,5% - 3,75%.
Chính sách tiền tệ cần tiếp tục ưu tiên định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất, chế biến chế tạo, xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ, doanh nghiệp nhỏ và vừa, đổi mới sáng tạo, kinh tế số, kinh tế xanh, nhằm tạo động lực cho tăng trưởng bền vững, đồng thời góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng.
(3) Đẩy mạnh giải ngân đầu tư công
Một trong những giải pháp điều hành quan trọng nhất là đẩy nhanh giải ngân vốn đầu tư công, coi đây là “đầu kéo” kích thích tổng cầu, dẫn dắt đầu tư xã hội và tạo năng lực sản xuất mới. Trong bối cảnh quý I/2026 đã giải ngân 110,3 nghìn tỉ đồng, đạt 11% kế hoạch, mặc dù cao hơn cùng kỳ năm trước, nhưng mức này vẫn chưa đủ để tạo lực đẩy lớn cho cả năm 2026, do đó, cần có giải pháp mạnh hơn về phân công trách nhiệm, cắt giảm thủ tục trung gian, điều chuyển vốn từ dự án chậm sang dự án có khả năng hấp thụ tốt, và xử lý dứt điểm các điểm nghẽn về giải phóng mặt bằng, thủ tục đất đai, vật liệu và phối hợp liên ngành.
Cần xác định rõ các nhóm dự án ưu tiên có tác động lan tỏa lớn đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số, gồm: Hạ tầng giao thông chiến lược, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng, logistics, hạ tầng khu công nghiệp - đô thị - dịch vụ, và các công trình thúc đẩy liên kết vùng. Điều hành đầu tư công phải đi đôi với nâng cao chất lượng chuẩn bị đầu tư, hiệu quả thực hiện và khả năng hoàn thành đúng tiến độ, tránh tình trạng giải ngân bằng mọi giá nhưng hiệu quả thấp.
(4) Thúc đẩy mạnh ba động lực tăng trưởng: Đầu tư, tiêu dùng và xuất khẩu
Về đầu tư, ngoài đầu tư công, cần đẩy mạnh thu hút và giải ngân FDI có chọn lọc; ưu tiên các dự án công nghệ cao, công nghệ nguồn, công nghiệp nền tảng, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, năng lượng sạch, trung tâm dữ liệu, logistics hiện đại và các dự án có tỉ lệ nội địa hóa cao. Trong 3 tháng đầu năm 2026, FDI đăng ký mới tăng 42,9% và FDI thực hiện tăng 9,1%, đây là tín hiệu tốt cần được tận dụng bằng cải cách thể chế và chuẩn bị quỹ đất, hạ tầng, nhân lực tốt hơn.
Về tiêu dùng trong nước, cần có giải pháp hỗ trợ sức mua theo hướng bền vững, thông qua ổn định việc làm, thu nhập, giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp để hạn chế tăng giá bán lẻ, đồng thời nghiên cứu các chính sách thuế, phí phù hợp để kích cầu đối với một số nhóm hàng hóa và dịch vụ có khả năng lan tỏa lớn. Cùng với đó là phát triển mạnh thị trường trong nước, hệ thống phân phối hiện đại, thương mại điện tử, logistics nội địa và các chương trình kết nối cung - cầu.
Về xuất khẩu, cần điều hành theo hướng chủ động thích ứng với xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng; đa dạng hóa thị trường, đa dạng hóa sản phẩm, đa dạng hóa chuỗi cung ứng; nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn môi trường, lao động, truy xuất nguồn gốc; hỗ trợ doanh nghiệp tận dụng tốt hơn các hiệp định thương mại tự do (FTA); đồng thời theo dõi sát các vụ việc phòng vệ thương mại và biến động chính sách thuế quan của các thị trường lớn. Thương mại hàng hóa toàn cầu năm 2026 đang được WTO dự báo chỉ tăng khoảng 1,9% trong kịch bản cơ sở, cho thấy dư địa tăng trưởng xuất khẩu theo cách truyền thống sẽ khó hơn trước.
(5) Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng, an ninh lương thực và ổn định mặt bằng giá
Để tạo nền tảng cho mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững, Việt Nam cần tiếp tục bảo đảm ổn định nguồn cung năng lượng, duy trì hoạt động thông suốt của chuỗi cung ứng và hạn chế các biến động lớn về chi phí đầu vào có thể ảnh hưởng tới tâm lý thị trường và hoạt động sản xuất - kinh doanh. Trong bối cảnh tình hình địa chính trị thế giới còn tiềm ẩn nhiều yếu tố khó lường, đặc biệt là biến động giá năng lượng toàn cầu, việc điều hành các mặt hàng chiến lược như xăng dầu, điện, than, khí và nguyên vật liệu đầu vào cần được thực hiện theo hướng chủ động, linh hoạt và phối hợp đồng bộ nhằm hỗ trợ ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Đồng thời, cần nâng cao năng lực điều hành giá theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước; phối hợp nhịp nhàng giữa thời điểm điều chỉnh giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý với mục tiêu kiểm soát lạm phát; bảo đảm nguồn cung hàng hóa thiết yếu, không để xảy ra tâm lý kỳ vọng lạm phát lan rộng.
(6) Tháo gỡ thực chất khó khăn cho doanh nghiệp, cải thiện mạnh môi trường đầu tư kinh doanh
Giải pháp điều hành cần chuyển mạnh từ tư duy hỗ trợ chung sang tháo gỡ đúng điểm nghẽn của doanh nghiệp. Trọng tâm là rà soát, cắt giảm thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ, thời gian xử lý hồ sơ; xử lý dứt điểm các vướng mắc pháp lý kéo dài liên quan đến đầu tư, đất đai, xây dựng, đấu thầu, phòng cháy chữa cháy, môi trường, hoàn thuế, hải quan và tiếp cận tín dụng.
Song song với đó, cần nâng cao chất lượng thực thi ở cấp địa phương, bởi trên thực tế nhiều điểm nghẽn không nằm ở việc thiếu chủ trương mà nằm ở khâu phối hợp và tổ chức thực hiện.
(7) Đẩy nhanh cải cách thể chế và cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất
Về trung hạn nhưng cần sớm hành động, nên coi cải cách thể chế và nâng cao năng suất là giải pháp căn cơ nhất để tạo nền tảng cho tăng trưởng hai con số. Tăng trưởng cao không thể chỉ dựa vào mở rộng vốn đầu tư và tín dụng, mà cần chuyển mạnh sang tăng trưởng dựa trên nâng cao năng suất lao động, đổi mới công nghệ, quản trị hiện đại, kinh tế số, kinh tế xanh, công nghiệp công nghệ cao và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Theo đó, cần ưu tiên hoàn thiện thể chế cho các thị trường nhân tố sản xuất, nhất là thị trường vốn, đất đai, khoa học - công nghệ, dữ liệu và lao động chất lượng cao; thúc đẩy liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước; hỗ trợ phát triển kinh tế tư nhân và doanh nghiệp dân tộc đủ năng lực tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu.
(8) Tăng cường năng lực dự báo, xây dựng kịch bản và điều hành theo thời gian thực
Trong bối cảnh biến động nhanh, giải pháp điều hành cần dựa nhiều hơn vào dữ liệu, dự báo sớm và kịch bản linh hoạt. Cần xây dựng các kịch bản điều hành theo quý, thậm chí theo tháng đối với các biến số nhạy cảm như tăng trưởng, lạm phát, tỉ giá, lãi suất, xuất khẩu, giá dầu, dòng vốn và giải ngân đầu tư công; xác định rõ ngưỡng cảnh báo và phương án ứng phó tương ứng.
Đồng thời, cần nâng cấp cơ chế phối hợp, chia sẻ dữ liệu và phản ứng chính sách giữa các cơ quan điều hành, bảo đảm ra quyết định nhanh, đồng bộ và nhất quán hơn, nhất là khi xuất hiện cú sốc từ bên ngoài.
Tóm lại, những tháng đầu năm 2026 cho thấy kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì xu hướng phục hồi tích cực, song bối cảnh kinh tế quốc tế đang xuất hiện nhiều yếu tố biến động và khó lường hơn. Áp lực từ giá năng lượng, xu hướng tăng trưởng chậm của thương mại toàn cầu, mặt bằng lãi suất quốc tế còn ở mức cao, cùng với sức ép lạm phát trong nước đang đặt ra không ít thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng cao trong năm 2026. Trong bối cảnh đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là thúc đẩy tăng trưởng với tốc độ phù hợp, mà quan trọng hơn là chủ động nhận diện sớm các điểm nghẽn và rủi ro tiềm ẩn, lựa chọn đúng động lực tăng trưởng, điều hành chính sách linh hoạt và phối hợp hiệu quả giữa các công cụ vĩ mô nhằm vừa hỗ trợ phục hồi kinh tế, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và các cân đối lớn của nền kinh tế. Đây cũng là nền tảng quan trọng để Việt Nam hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh đi đôi với phát triển bền vững trong trung và dài hạn.
Tài liệu tham khảo
1. ADB (2026), Asian Development Outlook, April 2026: Viet Nam economy.
2. Cục Thống kê (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2026; 4 tháng đầu năm 2026.
3. IMF (2026), World Economic Outlook, April 2026.
4. OECD (2026), OECD Economic Outlook, Interim Report, March 2026.
5. UNCTAD (2026), Global Trade Update: Global trade growth continues, but fragility rises, April 2026.
6. UNCTAD (2026), Global Trade Update: Top trends redefining global trade in 2026, January 2026.
7. WB (2026), Macro Poverty Outlook: Viet Nam, April 2026.
8. WTO (2026), Global Trade Outlook and Statistics, March 2026.
9. WTO (2026), Middle East conflict weighs further on slowing trade outlook, 19 March 2026.
Tin bài khác
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc


