Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc
Chuyển thế chủ động tiền tệ, góp phần đưa kháng chiến chống Pháp tới thắng lợi
Sau Cách mạng Tháng Tám, ngày 2/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuy nhiên, ngay từ những ngày đầu thành lập, chính quyền cách mạng non trẻ đã phải đối mặt với tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”, khi vừa phải khẩn trương củng cố bộ máy chính quyền, vừa chống lại thù trong, giặc ngoài.
Tình hình tài chính - tiền tệ lúc bấy giờ hết sức khó khăn: Kho bạc Nhà nước chỉ còn hơn 1,25 triệu đồng Đông Dương, trong đó một nửa là tiền rách; Ngân hàng Đông Dương vẫn nằm trong tay thực dân; nguồn thu ngân sách vô cùng hạn chế. Trước tình hình đó, Chính phủ đã kêu gọi nhân dân đóng góp thông qua các phong trào như “Quỹ Độc lập”, “Tuần lễ vàng”.
Nhận thức rõ việc để xây dựng một nền kinh tế độc lập cần phải có một đồng tiền riêng, và là công cụ quan trọng trên mặt trận tiền tệ nhằm đối phó với các thế lực ngoại xâm, Chính phủ đã chủ động triển khai các biện pháp cần thiết để phát hành đồng tiền riêng. Ngày 15/11/1945, theo chỉ thị của Chủ tịch Hồ Chí Minh, “Cơ quan Ấn loát” được thành lập với nhiệm vụ in những đồng tiền mới của Việt Nam. Một công nhân ngày đó đã xúc động hồi tưởng: “Ngày mà tờ giấy bạc đầu tiên là tờ 20 đồng của ta ở máy vừa in ra là ngày vui nhất trên đời anh em chúng tôi. Chúng tôi rất sung sướng và cảm động thấy tờ bạc đẹp, hình của Bác đẹp, thật xứng đáng là tờ bạc đầu tiên của nước Việt Nam độc lập”.
Tháng 12/1946, cả nước bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Để phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế kháng chiến, Chính phủ cho thành lập 3 khu vực tiền tệ và cho phép phát hành các đồng tiền khu vực. Đồng thời, nhiều biện pháp tài chính đã được triển khai áp dụng để tạo nguồn thu cho ngân sách như phát hành Công phiếu kháng chiến, Công trái quốc gia… Ngày 3/2/1947, Nha tín dụng sản xuất - tổ chức tín dụng đầu tiên ở nước ta được thành lập với nhiệm vụ giúp vốn cho nhân dân phát triển sản xuất, hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn; đồng thời, làm hậu thuẫn cho chính sách giảm tức và hướng dẫn nhân dân đi vào con đường làm ăn tập thể.
Sau chiến thắng Biên giới năm 1950, việc đặt quan hệ với Trung Quốc và với các nước trong phe xã hội chủ nghĩa đã làm xuất hiện một cục diện mới về quân sự, chính trị và kinh tế, ngày càng có lợi cho cách mạng và kháng chiến. Cuộc kháng chiến chuyển sang giai đoạn mới, đòi hỏi hoạt động kinh tế - tài chính phải có bước chuyển biến cơ bản, đáp ứng yêu cầu của tình hình.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II, tháng 2/1951, đã đề ra đường lối chính sách mới về kinh tế - tài chính. Tiếp đó, tại Hội nghị lần thứ nhất của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam (khóa II) đã quyết định những chủ trương cụ thể về kinh tế - tài chính: “Muốn kháng chiến trường kỳ phải luôn luôn bồi dưỡng kinh tế - tài chính, phải coi nhiệm vụ kinh tế - tài chính là nhiệm vụ rất quan trọng...”. Trên cơ sở đó, các định hướng như thành lập Ngân hàng Quốc gia, phát hành giấy bạc mới nhằm ổn định tiền tệ, củng cố nền tiền tệ độc lập, cải tiến chế độ tín dụng đã được đặt ra. Những chủ trương này nhanh chóng được hiện thực hóa: Ngày 6/5/1951, tại hang Bòng thuộc xã Tân Trào, huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam.
Hệ thống tổ chức của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam gồm: Ngân hàng trung ương, ngân hàng liên khu và ngân hàng các tỉnh, thành phố. Trụ sở đầu tiên của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đặt tại xã Đầm Hồng, huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang. Với những nhiệm vụ chủ yếu là: Quản lý việc phát hành giấy bạc và tổ chức lưu thông tiền tệ; quản lý Kho bạc Nhà nước; huy động vốn và cho vay phục vụ sản xuất, lưu thông hàng hóa; quản lý hoạt động kim dung bằng biện pháp hành chính; quản lý ngoại hối và đấu tranh tiền tệ với địch. Hoạt động của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam trong thời kỳ này đã góp phần rất quan trọng củng cố hệ thống tiền tệ độc lập, tự chủ của đất nước, đồng thời bám sát các chủ trương, chính sách của đất nước phát triển sản xuất, lưu thông hàng hóa, tăng cường lực lượng kinh tế quốc doanh, phục vụ cuộc kháng chiến chống Pháp.
Phát huy sức mạnh hậu phương chi viện cho tiền tuyến lớn
Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc. Trong bối cảnh đó, Đảng ta xác định đường lối chung của cách mạng Việt Nam là tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Thực hiện chủ trương này, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam đã tiến hành thu hồi tiền địch ở vùng mới giải phóng, thiết lập thị trường tiền tệ thống nhất trên miền Bắc. Mạng lưới ngân hàng được mở rộng tới các huyện, quận, thị xã; đội ngũ cán bộ được tăng cường, nâng cao trình độ. Ngày 26/10/1961, Ngân hàng Quốc gia Việt Nam chính thức được đổi tên thành Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN).
Trong giai đoạn 1955 - 1965, hoạt động tín dụng được chuyển hướng, phục vụ khôi phục kinh tế, cải tạo xã hội chủ nghĩa, hợp tác hóa nông nghiệp, phát triển kinh tế quốc doanh, nâng đỡ kinh tế tập thể, bắt tay xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội. NHNN đã có nhiều cải tiến trong công tác thanh toán, mở rộng quan hệ thanh toán đến hầu hết các xí nghiệp, tổ chức kinh tế, cơ quan của nhà nước; tập trung quản lý và đẩy mạnh các nguồn thu ngoại hối để đáp ứng nhu cầu kiến thiết nước nhà. Cũng trong giai đoạn này, Ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam được thành lập và đi vào hoạt động. Các hợp tác xã vay mượn ra đời đã góp phần hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi, thay bằng quan hệ vay mượn tương trợ ở nông thôn… Đến cuối năm 1964, NHNN đã có quan hệ hợp tác với 265 ngân hàng tại 41 nước trên thế giới.
Giai đoạn 1965 - 1975, Mỹ mở rộng chiến tranh ra miền Bắc, tình thế mới đã đặt Nhà nước trước yêu cầu phải nhanh chóng chuyển hướng nền kinh tế thích hợp với điều kiện thời chiến. Nghị quyết Hội nghị lần thứ 11 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) đặt nhiệm vụ cho toàn Đảng, toàn dân lúc này là: Tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội, vừa trực tiếp chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu, vừa tích cực chi viện cho cách mạng miền Nam, làm tròn nhiệm vụ hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn. Lúc này, hoạt động của NHNN cũng chuyển hướng để phù hợp với hoàn cảnh thời chiến. NHNN đã cải tiến và mở rộng các quan hệ tín dụng, thanh toán, quản lý tiền mặt, quản lý quỹ ngân sách nhà nước giúp các xí nghiệp sơ tán và phân tán sản xuất. Tín dụng ngân hàng trở thành nguồn vốn chủ yếu đảm bảo duy trì và phát triển sản xuất, kinh doanh của khu vực kinh tế quốc doanh.
Trong giai đoạn 1965 - 1975, dư nợ cho vay đối với khu vực này tăng bình quân 20,4%/năm, cao hơn mức 12,7% của thời kỳ 1961 - 1964, và chiếm tới 97% tổng dư nợ cho vay của ngân hàng đối với nền kinh tế. Đồng thời, dư nợ tín dụng cho kinh tế tập thể tiếp tục được đẩy mạnh, trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn cuối năm 1973 so với năm 1964 tăng tới 558%, chủ yếu là lĩnh vực nông nghiệp. Doanh số và dư nợ cho vay dài hạn cũng tăng mạnh, chỉ tính riêng những năm 1965 - 1969, dư nợ tín dụng dài hạn với kinh tế tập thể tăng 200,8% so với năm 1964. Nhờ nguồn vốn tín dụng ngân hàng, các khâu cơ giới hóa trong trồng trọt, thu hoạch và chế biến nông sản được đẩy mạnh, góp phần giải phóng một phần lao động trẻ, khỏe để bổ sung cho quốc phòng và phục vụ mặt trận giao thông vận tải trong thời chiến.
Bên cạnh đó NHNN đã tích cực khai thác các nguồn ngoại tệ cho Nhà nước, bảo đảm thanh toán quốc tế thông suốt, đáp ứng yêu cầu sản xuất, chiến đấu và đời sống. Để tiếp nhận và chuyển các khoản ngoại tệ do bạn bè quốc tế chi viện cho chiến trường miền Nam, năm 1965, NHNN đã thành lập một tổ chức chuyên trách nghiệp vụ thanh toán đặc biệt tại Cục Ngoại hối - Ngân hàng Ngoại thương, với danh nghĩa là phòng B29 hay còn gọi là “Quỹ Ngoại tệ đặc biệt”. Ở miền Nam, Ban Tài chính đặc biệt trực thuộc Trung ương Cục miền Nam với các bí số D270, N2683 cũng được thành lập, có nhiệm vụ tiếp nhận chi viện của Trung ương; tổ chức cất giữ, bảo quản tiền để phục vụ lâu dài cho cuộc kháng chiến.
Năm 1968, trước yêu cầu chi viện ngày càng lớn cho chiến trường miền Nam, NHNN đã cử đoàn cán bộ B68 vào miền Nam, chia thành 14 chi từ Bình Trị Thiên trở vào. Tại Trung ương Cục miền Nam, lực lượng này hợp nhất với cán bộ tại chỗ, hình thành Ban Ngân khố Tín dụng R (C32). Trong điều kiện hoạt động bí mật, hết sức khó khăn và nguy hiểm, C32 đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ tiếp nhận, vận chuyển và bảo quản an toàn hàng trăm triệu USD, kịp thời chi viện cho chiến trường. Đồng thời, lực lượng này còn tham gia tiếp quản hiệu quả hệ thống ngân hàng của chính quyền cũ sau ngày giải phóng Sài Gòn.
Thống nhất tiền tệ, tạo đà xây dựng và cải tạo xã hội chủ nghĩa
Sau đại thắng mùa Xuân năm 1975, đất nước ta bước sang thời kỳ mới: Hòa bình, độc lập, thống nhất, cả nước quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Nhiều chủ trương, chính sách đã được Đảng và Nhà nước đề ra để khôi phục và phát triển kinh tế - xã hội sau chiến tranh.
Ngành Ngân hàng Việt Nam đã nhanh chóng tiếp quản và cải tạo hệ thống ngân hàng của chế độ cũ ở miền Nam, đồng thời xây dựng hệ thống ngân hàng mới của chính quyền cách mạng và thực hiện thống nhất tiền tệ trên phạm vi cả nước. Bên cạnh đó, nhiều biện pháp về tiền tệ, tín dụng, quản lý ngoại hối và thanh toán được ban hành và triển khai, góp phần ổn định tình hình kinh tế và lưu thông tiền tệ, đáp ứng nhu cầu vốn và tiền mặt cho sản xuất, quốc phòng, an ninh và đời sống kinh tế - xã hội. Cùng với đó, ngành Ngân hàng cũng tích cực mở rộng hợp tác quốc tế, tranh thủ sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế phục vụ công cuộc tái thiết đất nước.
Để loại bỏ đồng tiền của chính quyền Sài Gòn ra khỏi đời sống kinh tế, xã hội và tiến tới thống nhất tiền tệ trong cả nước, Bộ Chính trị đã quyết định phát hành đồng tiền ngân hàng Việt Nam ở miền Nam. Việc thu đổi tiền của chế độ Sài Gòn được thực hiện từ ngày 22/9/1975 đến ngày 30/9/1975, với tỉ lệ 1 đồng tiền ngân hàng Việt Nam mới đổi được 500 đồng tiền của chính quyền Sài Gòn cũ. Sau khi đổi tiền, Việt Nam hình thành hai khu vực lưu hành tiền tệ: Tiền ở miền Bắc do NHNN phát hành, còn ở miền Nam là đồng tiền do Ngân hàng Quốc gia Việt Nam của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam phát hành. Để thống nhất tiền tệ trên cả nước, ngày 01/4/1978, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 08/NQ-TW về việc phát hành tiền ngân hàng mới và thu hồi tiền cũ ở cả hai miền. Tiếp theo đó, ngày 02/5/1978, NHNN bắt đầu phát hành tiền mới và tổ chức thu hồi tiền cũ trên cả nước.
Trong thời kỳ cải tạo, xây dựng và phát triển kinh tế
(1976 - 1980), NHNN đã nỗ lực lớn trong việc cải tiến và mở rộng tín dụng, trong thanh toán không dùng tiền mặt, tín dụng và thanh toán quốc tế; đồng thời, tìm mọi biện pháp tăng thu ngoại tệ nhằm đáp ứng nhu cầu nhập khẩu để “cấp cứu” cho nền kinh tế và đời sống của nhân dân đang gặp rất nhiều khó khăn lúc bấy giờ. Cũng trong giai đoạn này, hoạt động tín dụng tiếp tục được cải tiến và mở rộng, trước hết là đối với khu vực kinh tế quốc doanh, trọng tâm là cho vay đầu tư xây dựng cơ bản. Hệ thống thanh toán thống nhất trong cả nước được thiết lập; tình trạng công nợ dây dưa giữa các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị được giải quyết đáng kể.
Quy mô và khối lượng tín dụng ngân hàng, bao gồm cả ngắn hạn, trung hạn và dài hạn, đã tăng lên nhanh chóng. Tính đến cuối năm 1980, số dư nguồn vốn ngắn hạn tăng 115,5% so với cuối năm 1976. Nguồn vốn dài hạn, bao gồm vốn từ ngân sách nhà nước chuyển sang để ngân hàng cho vay và nguồn vốn do ngân hàng quản lý, bình quân mỗi năm tăng 42,1%; đến cuối năm 1980, số dư nguồn vốn này đã tăng 246,7% so với năm 1976. Bên cạnh đó, nguồn vốn ngoại tệ tập trung và huy động được ngày càng tăng, đáp ứng cho nhu cầu nhập khẩu các vật tư thiết yếu cũng như khắc phục tình trạng thiếu hụt về lương thực ở trong nước...
Bước sang giai đoạn 1981 - 1985, hoạt động sản xuất, kinh doanh, lưu thông, phân phối gặp rất nhiều khó khăn. Thực hiện Nghị quyết số 26/NQ-TW ngày 23/6/1980 của Bộ Chính trị và các quyết định của Hội đồng Chính phủ, NHNN đã ban hành nhiều văn bản pháp quy và chế độ nghiệp vụ về tiền tệ, tín dụng, thanh toán, cấp phát đầu tư xây dựng cơ bản, ngoại hối; thực hiện “chính sách tín dụng tích cực, coi tín dụng là mặt trận phía trước”, mở ra nhiều hình thức cho vay mới nhằm đáp ứng nhu cầu vốn và tiền mặt, góp phần thực hiện kế hoạch khôi phục kinh tế, hỗ trợ ngành thương nghiệp quốc doanh thu mua, nắm giữ nguồn hàng phục vụ đời sống nhân dân và ổn định giá cả.
Tuy nhiên, trước tình trạng mất cân đối ngày càng gia tăng trong lưu thông tiền tệ và giá cả, Đảng và Nhà nước đã triển khai cuộc thu đổi tiền vào tháng 9/1985. Đây là một chính sách kinh tế lớn trong lĩnh vực phân phối, lưu thông. Đồng thời là một bộ phận trong kế hoạch tổng thể điều chỉnh giá - lương - tiền, nhằm ổn định sức mua của đồng tiền, phục vụ công cuộc xây dựng và cải tạo xã hộichủ nghĩa.
Tiếp sức đổi mới và hội nhập
Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và các Nghị quyết của các kỳ Đại hội Đảng sau đó, công cuộc đổi mới đất nước đã được triển khai mạnh mẽ. Theo đó, nền kinh tế chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nước và từng bước hội nhập kinh tế quốc tế.
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã nêu rõ: “Bên cạnh nhiệm vụ quản lý lưu thông tiền tệ của NHNN, cần xây dựng hệ thống ngân hàng chuyên nghiệp kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế…”. Sau Đại hội, cùng với tiến trình đổi mới chung của đất nước, ngành Ngân hàng từng bước chuyển đổi, rời bỏ cơ chế cũ để tiếp cận và hoàn thiện cơ chế hoạt động mới. Sau một thời gian tiến hành làm thử việc chuyển hoạt động ngân hàng sang kinh doanh xã hội chủ nghĩa, ngày 26/3/1988, Hội đồng Bộ trưởng đã ban hành Nghị định số 53/HĐBT, với định hướng cơ bản là “chuyển hẳn hệ thống ngân hàng sang hoạt động kinh doanh”. Theo đó, tổ chức và bộ máy của NHNN được kiện toàn, sắp xếp lại để thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng, đồng thời làm chức năng ngân hàng của các ngân hàng; các ngân hàng chuyên doanh thực hiện nhiệm vụ kinh doanh tín dụng và dịch vụ ngân hàng. Từ đó, bốn ngân hàng chuyên doanh được thành lập trên cơ sở chuyển và tách ra từ NHNN, gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam, Ngân hàng công - thương Việt Nam, Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam, Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam.
Chế độ phân phối theo tem, phiếu đã bị bãi bỏ hoàn toàn từ quý II/1989, mở đầu cho giai đoạn mới của cơ chế lưu thông hàng hóa, dịch vụ. Nhờ đó, giá cả trên thị trường tiền tệ cũng từng bước cải thiện theo quan hệ cung - cầu. Tuy nhiên, NHNN khi đó chỉ là đơn vị thực thi chính sách tiền tệ theo chỉ thị của Chính phủ, chưa vận hành theo quy luật của kinh tế hàng hóa và lưu thông tiền tệ.
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua hai Pháp lệnh về ngân hàng (Pháp lệnh NHNN và Pháp lệnh Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính). Sự ra đời của hai Pháp lệnh về ngân hàng đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ một cấp sang hai cấp, trong đó NHNN thực hiện chức năng quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh tiền tệ, ngân hàng và thực thi nhiệm vụ của một ngân hàng trung ương; các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng kinh doanh tiền tệ, tín dụng, thanh toán, ngoại hối và dịch vụ ngân hàng.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng đặt mục tiêu “Đổi mới hệ thống ngân hàng, thực hiện đúng chức năng của NHNN và ngân hàng kinh doanh, kiên quyết phân định rành mạch giữa tài chính và tín dụng, đổi mới việc quản lý và kinh doanh ngoại tệ. Tạo điều kiện và đòi hỏi ngân hàng mau chóng vươn lên làm tốt chức năng là trung tâm tiền tệ, tín dụng và thanh toán của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, thúc đẩy sản xuất phát triển có hiệu quả, góp phần từng bước ổn định giá trị đồng tiền Việt Nam và làm cho nó sớm có giá trị chuyển đổi”. Trọng trách đặt ra cho hệ thống ngân hàng Việt Nam là phải đổi mới một cách sâu sắc, sử dụng có hiệu quả các công cụ quản lý vĩ mô để điều hành chính sách tiền tệ, thực hiện kiềm chế lạm phát, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, là khâu đột phá trong tiến trình đổi mới kinh tế đất nước.
Hiện thực hóa mục tiêu này, trong giai đoạn 1990 - 1996, NHNN đã thực hiện chính sách lãi suất dương, kết hợp sử dụng các công cụ gián tiếp với công cụ kiểm soát trực tiếp trong điều hành chính sách tiền tệ; hình thành các thị trường tiền tệ; bước đầu hiện đại hóa công nghệ và tăng cường đào tạo nguồn nhân lực cho việc vận hành hệ thống ngân hàng mới.
Đến cuối năm 1996, cả nước có 52 ngân hàng, trong đó có 32 ngân hàng cổ phần đô thị và 20 ngân hàng cổ phần nông thôn. Tốc độ gia tăng nhanh về số lượng ngân hàng - ít thấy ở bất kỳ một quốc gia nào trong bối cảnh một nền kinh tế còn thiếu vốn - đã đóng góp to lớn, không chỉ trên tổng khối lượng vốn cung ứng cho nền kinh tế mà còn đưa được lượng vốn đó đến các đối tượng vùng hẻo lánh, xa xôi, nơi mà trước đây người dân chỉ biết đi vay nặng lãi. Nhờ đó, vốn tín dụng đạt mức tăng trưởng bình quân 36%/năm, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa và thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng trong nhiều năm.
Đại hội VIII của Đảng đánh dấu bước ngoặt quan trọng, đưa đất nước bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nước Việt Nam độc lập, dân chủ, giàu mạnh, xã hội công bằng, văn minh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đại hội cũng xác định kinh tế tư nhân (bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ) là một bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân, có tiềm năng phát triển và đóng góp vào tăng trưởng chung; đồng thời chủ trương đối xử bình đẳng và tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho thành phần kinh tế này. Năm 1997, Quốc hội đã thông qua Luật NHNN và Luật Các tổ chức tín dụng, tạo nền tảng pháp lý căn bản hơn cho quá trình tiếp tục đổi mới hệ thống ngân hàng, phù hợp với cơ chế thị trường và yêu cầu hội nhập quốc tế.
Trong bối cảnh đó, NHNN đã thực hiện chính sách tiền tệ linh hoạt, góp phần giảm thiểu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997; đồng thời, tiếp tục hoàn thiện cơ chế điều hành chính sách, đặc biệt là cơ chế lãi suất. Hệ thống các tổ chức tín dụng được củng cố, chấn chỉnh, từng bước xử lý nợ tồn đọng và nâng cao năng lực tài chính, qua đó phát huy vai trò trung gian tài chính trong nền kinh tế, trở thành một kênh quan trọng trong cung ứng vốn.
Từ chỗ dùng vốn phát hành là chủ yếu để cho vay trong thời kỳ bao cấp, hệ thống ngân hàng chuyển sang phương châm “đi vay để cho vay". Cơ cấu tín dụng phản ảnh rõ bước chuyển này: Nếu như trong thời kỳ bao cấp, NHNN là ngân hàng của kinh tế quốc doanh với 90% tín dụng ngân hàng tập trung cho các xí nghiệp quốc doanh, 10% cho hợp tác xã và không cho vay cá thể, thì giai đoạn 1991 - 1997, cơ cấu tín dụng theo thành phần kinh tế đã có sự thay đổi căn bản, tỉ trọng cho vay doanh nghiệp quốc doanh giảm từ 81% năm 1990 xuống còn 55,4% năm 1997; trong khi đó, tỉ trọng cho vay doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tăng từ 19% lên 44,6 % cùng giai đoạn.
Sau khi Việt Nam chính thức trở thành thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới - WTO (cuối năm 2006), hoạt động ngân hàng tiếp tục có nhiều đổi mới về thể chế, cơ chế điều hành, nghiệp vụ và công nghệ. Tháng 6/2010, tại Kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật NHNN và Luật Các tổ chức tín dụng, tạo nền tảng pháp lý quan trọng cho việc tiếp tục đổi mới hoạt động ngân hàng, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Trước tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu năm 2008, thực hiện Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động và linh hoạt: từ ưu tiên kiềm chế lạm phát cao trong năm 2008, chuyển sang tập trung ngăn chặn suy giảm kinh tế năm 2009, và từng bước khôi phục đà tăng trưởng trong năm 2010.
Từ năm 2011 đến 2015, NHNN đã đổi mới cơ chế điều hành chính sách tiền tệ theo hướng chủ động, linh hoạt và mang tính dẫn dắt thị trường, góp phần đảm bảo mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và hỗ trợ tăng trưởng ở mức hợp lý. Nhờ đó, tỉ giá được duy trì ổn định, mặt bằng lãi suất liên tục giảm, đồng thời các chính sách tín dụng được điều hành linh hoạt hơn, góp phần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Cơ cấu tín dụng cũng từng bước chuyển dịch theo hướng phục vụ đổi mới mô hình tăng trưởng, tập trung vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, đặc biệt là 5 lĩnh vực ưu tiên: Nông nghiệp, nông thôn; xuất khẩu; công nghiệp hỗ trợ; doanh nghiệp nhỏ và vừa; công nghệ cao. Đây cũng là giai đoạn đánh dấu sự chuyển dịch cơ cấu tín dụng phục vụ tăng trưởng kinh tế xanh bền vững, gắn với việc thực hiện Quyết định số 403/QĐ-TTg ngày 20/3/2014 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2014 - 2020.
Bệ đỡ chống sốc và cất cánh nền kinh tế
Giai đoạn 2016 - 2025 có thể được xem như một “bài kiểm tra sức bền” đối với chính sách tiền tệ Việt Nam, khi vừa phải bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng trong bối cảnh nền kinh tế ngày càng hội nhập sâu rộng. Đồng thời, Việt Nam cũng phải đối mặt với nhiều thách thức phức tạp, chưa từng có tiền lệ như đại dịch Covid-19, thiên tai, cạnh tranh chiến lược giữa các cường quốc, xung đột địa chính trị, cùng với xu hướng bảo hộ thương mại. Những biến động sâu rộng này đã tác động mạnh đến các nền kinh tế có độ mở cao, trong đó có Việt Nam. Trong bối cảnh đó, NHNN đã điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời và hiệu quả; phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với kiểm soát lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.
NHNN đã điều hành chính sách nhằm tạo lập mặt bằng chi phí vốn thấp, qua đó hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Trong giai đoạn 2016 - 2020, lãi suất điều hành giảm khoảng 2 - 2,5%/năm; trần lãi suất huy động giảm 0,8 - 1,5%/năm và trần lãi suất cho vay giảm khoảng 2%/năm. Nhờ đó, lãi suất cho vay ngắn hạn giảm xuống còn khoảng 4,5%/năm, trong khi lãi suất đối với các lĩnh vực ưu tiên ở mức khoảng 5%/năm - mức thấp hiếm thấy trong nhiều năm trước đó. Đến cuối năm 2020, các tổ chức tín dụng đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ cho 268.389 khách hàng với dư nợ 334.701 tỉ đồng; miễn, giảm, hạ lãi suất đối với 1.062.686 tỉ đồng dư nợ của 602.377 khách hàng; cho vay mới 2.367.308 tỉ đồng đối với 403.635 khách hàng với lãi suất ưu đãi, phổ biến thấp hơn từ 0,5 - 2,5% so với trước dịch. Bên cạnh đó, NHNN đã tổ chức hội nghị tại 15 tỉnh, thành phố nhằm triển khai các giải pháp hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid-19; các tổ chức tín dụng cũng đã tổ chức hơn 300 cuộc gặp gỡ, đối thoại với khách hàng trên phạm vi cả nước.
Sang năm 2021, dịch Covid-19 đã tác động nghiêm trọng đến mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội, khiến GDP chỉ tăng 2,58% - mức thấp nhất trong vòng 30 năm qua. Để kiểm soát dịch bệnh và hỗ trợ nền kinh tế, từ năm 2021 đến tháng 9/2022, NHNN đã quyết định giữ nguyên các mức lãi suất điều hành, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng giảm lãi suất cho vay. Sau bốn lần giảm lãi suất điều hành trong năm 2023, NHNN tiếp tục chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiết giảm chi phí, hạ lãi suất huy động và cho vay trong năm 2024 nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, trong khi Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) và nhiều ngân hàng trung ương khác vẫn duy trì lãi suất ở mức cao để kiểm soát lạm phát. NHNN đã ưu tiên mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô gắn với hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Nhờ các giải pháp này, lãi suất huy động và cho vay bình quân đã giảm khoảng 1,1% so với cuối năm 2023; riêng các ngân hàng thương mại nhà nước giảm sâu hơn, bình quân khoảng 1,4%, thậm chí một số ngân hàng giảm tới 1,6%.
Trong bối cảnh cả nước triển khai chủ trương của Bộ Chính trị về phát triển nền tảng số thống nhất và liên thông giữa các ngành, lĩnh vực, ngành Ngân hàng đã chủ động tiên phong xây dựng hệ sinh thái số hiện đại, vận hành trên nguyên tắc “lấy khách hàng làm trung tâm”. Đây không chỉ là định hướng công nghệ, mà còn là bước chuyển đổi mang tính chiến lược, hướng tới mục tiêu cung cấp các dịch vụ tài chính tiện ích, liền mạch và an toàn cho người dân, doanh nghiệp, đồng thời góp phần thúc đẩy nền kinh tế số quốc gia phát triển bền vững. Thanh toán không dùng tiền mặt trong năm 2025 đã đạt quy mô gấp 25 lần GDP năm 2024, cho thấy mức độ lan tỏa mạnh mẽ của chuyển đổi số trong đời sống kinh tế. Hệ sinh thái ngân hàng số hiện nay đã bao phủ hầu hết các nghiệp vụ, với tỉ lệ giao dịch trên kênh số tại nhiều ngân hàng vượt 95%, cao hơn mục tiêu đề ra tại Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/5/2021 của Thống đốc NHNN phê duyệt Kế hoạch chuyển đổi số ngành Ngân hàng đến năm 2025, định hướng đến năm 2030.
Những nỗ lực của ngành Ngân hàng đã góp phần quan trọng vào kết quả tăng trưởng kinh tế năm 2025, GDP đạt 8,02%, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên trong từ năm 2026 và các năm tiếp theo.
Đến ngày 31/3/2026, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỉ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025, với định hướng tín dụng tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Dòng vốn tín dụng tiếp tục được ưu tiên cho các dự án trọng điểm, khả thi; kiểm soát chặt chẽ các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ được triển khai quyết liệt, trong đó nhiều chương trình đạt hiệu quả cao và được mở rộng quy mô nhiều lần.
Tín dụng ngân hàng tiếp tục thúc đẩy quá trình chuyển dịch sang kinh tế xanh theo tinh thần Đại hội Đảng lần thứ XIII. Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam cùng Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững đã dần đi vào thực tiễn. Các tổ chức tín dụng đã chủ động lồng ghép các yêu cầu về bảo vệ môi trường vào quy định cho vay hiện hành, đồng thời triển khai nhiều cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp và các tổ chức trong lĩnh vực này, qua đó góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế quốc gia theo hướng bền vững. Dư nợ tín dụng xanh tăng nhanh trong giai đoạn 2021 - 2025, từ hơn 333 nghìn tỉ đồng (chiếm 3,62% tổng dư nợ nền kinh tế tại thời điểm 31/12/2020) lên khoảng 780 nghìn tỉ đồng, chiếm 4,2% tổng dư nợ nền kinh tế hiện nay. Đồng thời, số lượng tổ chức tín dụng tham gia cho vay xanh cũng tăng mạnh, từ 15 tổ chức vào năm 2017 lên 78 tổ chức ở thời điểm hiện tại.
Đại hội Đảng lần thứ XIV đã đề ra mục tiêu phát triển: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh trong kỷ nguyên mới của dân tộc; thực hiện thắng lợi mục tiêu đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hoà bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội”. Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, Đảng ủy NHNN đã ban hành Chương trình hành động số 06-CTr/ĐUNHNN ngày 24/3/2026 thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Chính phủ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030. Trọng tâm là tiếp tục hoàn thiện thể chế, pháp luật về ngân hàng theo hướng nâng cao các chuẩn mực an toàn, quản trị rủi ro và minh bạch thông tin, phù hợp với thông lệ quốc tế và điều kiện thực tiễn của Việt Nam; đồng thời hoàn thiện các quy định, cơ chế, chính sách về tín dụng ngân hàng theo ngành, lĩnh vực nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế - xã hội. Song song đó, NHNN nghiên cứu, xây dựng khung pháp lý đối với các mô hình ngân hàng mới, các sản phẩm và dịch vụ tài chính ứng dụng công nghệ số, tạo điều kiện thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực ngân hàng trên cơ sở bảo đảm kiểm soát rủi ro và an toàn hệ thống.
NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác, với mục tiêu ưu tiên là kiểm soát lạm phát, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững, hướng tới mục tiêu “Phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026 - 2030 từ 10% trở lên”. Tăng trưởng tín dụng được điều hành phù hợp với mục tiêu kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời bảo đảm cung ứng vốn hợp lý cho nền kinh tế; tập trung vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng theo định hướng của Đảng và Chính phủ; kiểm soát chặt chẽ tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Bên cạnh đó, ngành Ngân hàng tiếp tục tích cực triển khai các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ; thực hiện các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho người dân và doanh nghiệp, tăng khả năng tiếp cận vốn tín dụng. Đồng thời, tiếp tục thực hiện các nhiệm vụ được giao tại các chương trình hành động thực hiện nghị quyết, chỉ thị, kết luận của Đảng và Nhà nước về phát triển các ngành, lĩnh vực, tín dụng chính sách xã hội, các chương trình mục tiêu quốc gia và Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh. Cùng với đó, NHNN tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt; đẩy mạnh kết nối, liên thông các hệ thống thanh toán trong nước và từng bước mở rộng kết nối thanh toán quốc tế, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của hệ thống tài chính và thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.
Những định hướng và giải pháp đồng bộ này sẽ là nền tảng quan trọng để toàn ngành Ngân hàng triển khai hiệu quả, góp phần đưa đất nước ta đến mục tiêu trở thành quốc gia đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030. Đồng thời, hướng tới hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 - dịp kỷ niệm 100 năm thành lập nước - trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu, như tâm nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh kính yêu và khát vọng của toàn thể dân tộc.
Tài liệu tham khảo:
1. Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ NHNN nhiệm kỳ 2025 - 2030.
2. Báo cáo kết quả hoạt động của NHCSXH năm 2025.
3. Sách Lịch sử Ngân hàng Việt Nam 1951- 2021, Nhà xuất bản Lao động.
4. Văn kiện Đại hội của Đảng từ lần thứ VI đến lần thứ XIV.
5. Vũ Xuân Thanh (2024), 73 năm thành lập ngành Ngân hàng Việt Nam: Trưởng thành chuyển mình cùng đất nước, Tạp chí Ngân hàng.
6. Thông cáo báo chí họp báo NHNN quý I/2026.
Tin bài khác
Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng
Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam
Nhận thức về ngân hàng xanh và hành vi lựa chọn ngân hàng thân thiện môi trường tại Việt Nam
Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng: Tổng quan các phương pháp và hướng tiếp cận mới nổi
Giải ngân cho vay nhà ở xã hội đang dần khởi sắc
VietCredit ra mắt Napas Tap & Pay cho thẻ tín dụng - Tiên phong mở rộng trải nghiệm thanh toán không chạm tại Việt Nam
Sự phát triển của hoạt động thống kê tại ngân hàng trung ương và hàm ý chính sách
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam