Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Quốc tế
Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.
aa

Tóm tắt: Việt Nam được nâng hạng tín nhiệm theo hình thức có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế phản ánh sự thay đổi đáng kể trong cách thức thị trường tài chính toàn cầu đánh giá rủi ro tín dụng gắn với chủ quyền quốc gia. Quyết định của Fitch Ratings ngày 22/01/2026 nâng xếp hạng tín nhiệm đối với công cụ nợ dài hạn cao cấp có bảo đảm của Việt Nam lên mức BBB- đánh dấu lần đầu tiên một công cụ nợ liên quan đến chủ quyền Việt Nam đạt mức tín nhiệm hạng đầu tư, trong khi xếp hạng tín nhiệm quốc gia dài hạn bằng ngoại tệ vẫn duy trì ở mức BB+. Sự phân tách này phản ánh cách tiếp cận dựa trên đánh giá khả năng thu hồi, cho phép các công cụ nợ có cấu trúc bảo đảm vượt trội được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Kết quả nghiên cứu cho thấy, cơ chế nâng hạng có điều kiện tạo tín hiệu tích cực đối với các nhà đầu tư dài hạn và mở rộng dư địa cho các hình thức huy động vốn dựa trên bảo lãnh, thế chấp và chia sẻ rủi ro trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt xếp hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Từ khóa: Hội nhập tài chính quốc tế, tín nhiệm quốc gia, rủi ro tín dụng chủ quyền, công cụ nợ có bảo đảm, hạng tín nhiệm đầu tư.

CONDITIONAL UPGRADING IN VIETNAM’S INTERNATIONAL FINANCIAL INTEGRATION PROCESS

Abstract: Vietnam’s conditional credit rating upgrade in the course of international financial integration reflects a significant shift in how global financial markets assess sovereign-linked credit risk. Fitch Ratings’ decision on 22 January 2026 to upgrade Vietnam’s senior secured long-term debt instrument to BBB-, marked the first time a sovereign-related debt instrument of Vietnam achieved an investment-grade rating, while the long-term foreign-currency sovereign rating remained at BB+. This differentiation reflects a recovery-based rating approach, under which debt instruments with superior collateral and structural enhancements may be rated above the sovereign rating ceiling. The findings indicate that the conditional upgrade mechanism sends a positive signal to long-term investors and expands the scope for capital mobilization through guarantees, collateralization, and risk-sharing arrangements during the transition period toward achieving an investment-grade sovereign rating.

Keywords: International financial integration, sovereign credit rating, sovereign credit risk, secured debt instruments, investment-grade rating.

(Nguồn ảnh: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Ý nghĩa chiến lược của công cụ nợ đạt hạng tín nhiệm đầu tư đối với thị trường vốn

Việc Fitch Ratings nâng xếp hạng tín nhiệm đối với công cụ nợ dài hạn cao cấp có bảo đảm của Việt Nam lên mức BBB- đánh dấu một mốc kỹ thuật mang ý nghĩa biểu tượng quan trọng trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam. Đây là lần đầu tiên một công cụ nợ của Việt Nam được xếp vào nhóm hạng đầu tư (Investment Grade), mặc dù xếp hạng tín nhiệm nhà phát hành dài hạn bằng ngoại tệ vẫn được giữ ở mức BB+. Điều này phản ánh sự thay đổi trong tư duy đánh giá rủi ro chủ quyền, theo hướng phân tách rõ ràng giữa xếp hạng công cụ nợ và xếp hạng chủ thể, trong đó mức độ tổn thất tiềm tàng của nhà đầu tư được lượng hóa độc lập với xác suất vỡ nợ của quốc gia. Theo Fitch Ratings (2026), cơ sở trực tiếp cho quyết định nâng hạng xuất phát từ cấu trúc bảo đảm vượt trội của trái phiếu Brady phát hành năm 1998, đặc biệt là phần gốc được thế chấp bằng trái phiếu Kho bạc Hoa Kỳ không trả lãi và được lưu ký ngoài phạm vi pháp lý của Việt Nam.

Trong khuôn khổ bộ tiêu chí xếp hạng tín nhiệm chủ quyền được Fitch cập nhật từ tháng 9/2025, lần đầu tiên tổ chức này áp dụng hệ thống đánh giá khả năng thu hồi đối với nợ chính phủ theo cách tiếp cận tương tự như trong xếp hạng tài chính doanh nghiệp. Cách tiếp cận này cho phép tách bạch rủi ro vỡ nợ khỏi mức độ tổn thất khi vỡ nợ, qua đó tạo dư địa để các công cụ nợ có bảo đảm đạt mức xếp hạng cao hơn chủ thể phát hành trong trường hợp khả năng thu hồi được chứng minh ở mức rất cao. Trái phiếu Brady của Việt Nam đáp ứng đầy đủ các điều kiện này nhờ cấu trúc bảo đảm đặc thù, với tỉ lệ thế chấp phần gốc lên tới 100% đối với trái phiếu chiết khấu (Discount Bonds) và 50% đối với trái phiếu ngang giá (Par Bonds), đồng thời được hỗ trợ bởi cơ chế bảo đảm lãi suất trong ngắn hạn. Trên cơ sở đó, Fitch Ratings xác định mức thu hồi kỳ vọng của các công cụ này thuộc nhóm RR1 hoặc RR2, qua đó đủ điều kiện để được nâng một bậc so với mức xếp hạng BB+ của quốc gia, dù vẫn chịu giới hạn bởi các rủi ro liên quan đến dòng lãi suất trong kịch bản vỡ nợ cũng như những yếu tố pháp lý gắn với chủ quyền quốc gia (Fitch, 2026).

Mặc dù đạt ngưỡng BBB-, công cụ nợ được nâng hạng không phản ánh đầy đủ hồ sơ tín nhiệm quốc gia của Việt Nam. Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm lớn vẫn duy trì quan điểm thận trọng, chủ yếu do những khoảng trống về chất lượng quản trị. Theo đánh giá của S&P Global Ratings (2025) và AMRO (2025), chỉ số quản trị của Việt Nam theo thước đo Bộ chỉ số Quản trị Toàn cầu (Worldwide Governance Indicators - WBGI) mới đạt khoảng bách phân vị 41%, cho thấy những hạn chế nhất định về mức độ minh bạch trong hoạch định và thực thi chính sách, năng lực thể chế, cũng như tính phức tạp của khung khổ pháp lý. Các yếu tố này tiếp tục tạo ra “trần” đối với xếp hạng tín nhiệm của các công cụ nợ không có bảo đảm, bất chấp nền tảng kinh tế vĩ mô tương đối tích cực, thể hiện qua mức tăng trưởng GDP năm 2025 đạt 8,02%, định hướng tăng trưởng hai chữ số trong giai đoạn 2026 - 2030, tỉ lệ nợ công được duy trì dưới ngưỡng luật định và dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) ổn định, tập trung vào các lĩnh vực công nghệ cao (ADB, 2025).

Ý nghĩa chiến lược của sự kiện nâng hạng này vượt ra ngoài phạm vi kỹ thuật thuần túy. Trái phiếu Brady trở thành minh chứng điển hình cho khả năng thiết kế các cấu trúc tín dụng đạt chuẩn hạng đầu tư ngay cả khi xếp hạng tín nhiệm chủ thể chưa theo kịp, qua đó phát đi tín hiệu tích cực đối với nhóm nhà đầu tư dài hạn chịu ràng buộc về danh mục. Đồng thời, trường hợp này cũng gợi mở những hướng tiếp cận mới cho các thương vụ tài trợ dự án trong tương lai, thông qua việc vận dụng linh hoạt các cơ chế bảo lãnh, thế chấp hoặc chia sẻ rủi ro.

Tuy nhiên, theo Quyết định số 412/QĐ-TTg ngày 31/3/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án Cải thiện xếp hạng tín nhiệm quốc gia tới năm 2030 (Quyết định số 412/QĐ-TTg), lộ trình hướng tới mục tiêu đạt xếp hạng tín nhiệm quốc gia của Việt Nam vẫn đòi hỏi những cải cách thể chế sâu rộng và mang tính hệ thống. Các công cụ bảo đảm bằng tài sản an toàn chỉ có thể đóng vai trò bổ trợ trong những trường hợp cụ thể, chứ không thể áp dụng trên diện rộng cho toàn bộ nghĩa vụ nợ công của quốc gia (AMRO, 2025).

Dưới góc nhìn lịch sử, nền tảng của thành công bắt nguồn từ những quyết sách được đưa ra hơn hai thập kỷ trước. Sau giai đoạn khủng hoảng nợ của thập niên 1980 và tình trạng cô lập về tài chính quốc tế, Việt Nam đã lựa chọn tái cơ cấu nợ thương mại thông qua Câu lạc bộ London theo mô hình Brady Plan. Thỏa thuận đạt được năm 1998 đã chuyển đổi các khoản vay không sinh lời thành trái phiếu có khả năng giao dịch, đi kèm cơ chế thế chấp bằng trái phiếu Kho bạc Hoa Kỳ; chi phí mua tài sản bảo đảm này được tài trợ bởi các định chế tài chính đa phương (IMF, 2025). Khoản đầu tư ban đầu đó đã hình thành một “sàn thu hồi” rõ ràng cho nhà đầu tư, kéo dài tới kỳ đáo hạn vào năm 2028, qua đó lý giải vì sao công cụ nợ này tồn tại đủ lâu để hưởng lợi trực tiếp từ sự thay đổi trong phương pháp luận xếp hạng tín nhiệm.

Trong bối cảnh nhiều quốc gia đã mua lại hoặc tất toán toàn bộ trái phiếu Brady ngay từ đầu thế kỷ XXI, việc Việt Nam duy trì các công cụ này cho tới gần ngày đáo hạn đã tạo nên một trường hợp hiếm hoi trên thị trường tài chính toàn cầu. Mặc dù quy mô dư nợ còn lại là tương đối nhỏ so với mức dự trữ ngoại hối khoảng 90 - 100 tỉ USD, khiến nghĩa vụ thanh toán cuối kỳ không gây áp lực đáng kể lên cân đối tài khóa, giá trị biểu tượng của các trái phiếu này lại đặc biệt lớn khi gắn liền với bước tiến đầu tiên của Việt Nam vào “không gian” tín nhiệm hạng đầu tư.

Vì vậy, sự kiện nâng hạng tín nhiệm lên mức đầu tư vào năm 2026 mang ý nghĩa dẫn đường, cho thấy việc cải thiện cấu trúc tín dụng, nếu được đặt song hành với cải cách thể chế một cách nhất quán và dài hạn, chính là con đường bền vững để thu hẹp khoảng cách giữa tiềm năng kinh tế và đánh giá tín nhiệm quốc tế của Việt Nam.

2. Động lực tăng trưởng mới và những thách thức trên lộ trình nâng hạng tín nhiệm quốc gia

Mặc dù một số công cụ nợ có bảo đảm của Việt Nam đã đạt mức tín nhiệm hạng đầu tư, hồ sơ xếp hạng tín nhiệm chủ quyền của quốc gia đến năm 2026 vẫn dừng ở mức BB+. Trong bối cảnh đó, Việt Nam tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao so với nhóm quốc gia cùng hạng tín nhiệm, song đồng thời phải đối mặt với áp lực chuyển đổi mô hình tăng trưởng và hoàn thiện thể chế trong giai đoạn phát triển ở ngưỡng thu nhập trung bình. Theo đánh giá của S&P Global Ratings (2025), nền kinh tế Việt Nam cho thấy sức bật đáng kể sau giai đoạn suy giảm của thương mại toàn cầu, tuy nhiên các yếu tố liên quan đến chất lượng quản trị và độ sâu của thị trường tài chính vẫn là những rào cản quan trọng, giới hạn khả năng cải thiện mức xếp hạng tín nhiệm.

Giai đoạn 2026 - 2030 được kỳ vọng sẽ ghi nhận đà phục hồi và tăng trưởng rõ nét hơn, với định hướng GDP đạt mức tăng trưởng hai chữ số. Cấu trúc động lực tăng trưởng cũng đang có sự dịch chuyển, theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào các ngành thâm dụng lao động truyền thống. Đáng chú ý, hệ sinh thái bán dẫn được hình thành sau khi quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ được nâng cấp vào năm 2023 đã bắt đầu phát huy hiệu ứng lan tỏa trong nền kinh tế. Việc các dự án của Amkor, Intel và Synopsys đi vào vận hành ổn định đang giúp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, từng bước mở rộng sang các khâu có giá trị gia tăng cao hơn như thiết kế, bên cạnh lắp ráp và đóng gói. Sự chuyển dịch này không chỉ góp phần nâng cao hàm lượng giá trị gia tăng nội địa, mà còn làm giảm mức độ dễ tổn thương của nền kinh tế trước các cú sốc thương mại toàn cầu, phù hợp với nhận định của AMRO (2025) về triển vọng cải thiện chất lượng tăng trưởng trong dài hạn.

Cấu trúc xuất khẩu của Việt Nam tiếp tục chuyển dịch theo hướng đa dạng hóa và nâng cao chất lượng. Tỉ trọng các ngành dệt may và da giày có xu hướng giảm dần, nhường chỗ cho các nhóm hàng có giá trị gia tăng cao hơn như điện tử tiêu dùng, thiết bị năng lượng tái tạo và nông nghiệp chế biến sâu. Việc thực thi các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, đặc biệt là Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA) và Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), tạo lợi thế tiếp cận thị trường tương đối ổn định, qua đó giúp duy trì đà tăng trưởng xuất khẩu ngay cả trong bối cảnh nhu cầu toàn cầu suy yếu. Diễn biến này góp phần củng cố nền tảng cán cân thanh toán, tạo điều kiện để Việt Nam duy trì thặng dư tài khoản vãng lai mang tính cấu trúc - yếu tố được Fitch Ratings (2026) đánh giá là “lá chắn” quan trọng trước các rủi ro về tỉ giá.

Vị thế đối ngoại của Việt Nam tiếp tục được củng cố nhờ dự trữ ngoại hối phục hồi lên mức xấp xỉ 100 tỉ USD, tương đương gần bốn tháng nhập khẩu. Nguồn lực này cho phép Ngân hàng Nhà nước Việt Nam duy trì dư địa điều hành tỉ giá VND một cách chủ động và linh hoạt, qua đó hạn chế nguy cơ xảy ra các cú sốc mất giá đột ngột trong bối cảnh dòng vốn quốc tế biến động khó lường. Bên cạnh đó, dòng vốn FDI giải ngân vẫn duy trì ở mức cao, đạt khoảng 25 tỉ USD trong năm 2025, phản ánh việc chiến lược “Trung Quốc +1” (China Plus One) đã trở thành một lựa chọn mang tính cấu trúc của các tập đoàn đa quốc gia - nhận định phù hợp với phân tích của IMF (2025).

Kỷ luật tài khóa tiếp tục là một trong những điểm mạnh nổi bật trong hồ sơ tín nhiệm của Việt Nam. Tỉ lệ nợ công trên GDP dao động trong khoảng 34 - 38%, thấp hơn đáng kể so với trần 60% theo quy định pháp luật, đồng thời thấp hơn mức trung vị khoảng 53% của nhóm quốc gia xếp hạng BB theo đánh giá của AMRO (2025). Bên cạnh đó, chính sách quốc phòng “Bốn không” góp phần hạn chế áp lực chi tiêu quân sự, qua đó tạo thêm dư địa ngân sách cho đầu tư phát triển. Trong giai đoạn gần đây, chi đầu tư công tăng lên đáng kể, tập trung vào các dự án hạ tầng then chốt như tuyến cao tốc Bắc - Nam và hạ tầng điện theo Quy hoạch điện VIII, khiến thâm hụt ngân sách mở rộng quanh mức 3,5% GDP. Tuy nhiên, mức thâm hụt này được các tổ chức xếp hạng nhìn nhận theo hướng tích cực, bởi các khoản đầu tư hạ tầng có vai trò như đòn bẩy cho tăng trưởng dài hạn thông qua việc cải thiện năng lực logistics và củng cố an ninh năng lượng.

Đến năm 2026, hệ thống ngân hàng và thị trường vốn cho thấy những dấu hiệu ổn định rõ nét hơn sau giai đoạn khủng hoảng 2022 - 2023. Các khoản nợ xấu, đặc biệt là những khoản liên quan đến lĩnh vực bất động sản, đang được xử lý dần thông qua Công ty Quản lý tài sản (VAMC) và các cơ chế tái cơ cấu nội bộ của hệ thống ngân hàng. Mặc dù tỉ lệ nợ xấu vẫn cao hơn so với giai đoạn trước năm 2019, tuy nhiên xu hướng gia tăng đã được kiểm soát. Song song với đó, các ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước quy mô lớn đã tăng cường vốn cấp 2, qua đó cải thiện hệ số an toàn vốn, phù hợp với đánh giá tích cực của Moody’s khi tiếp tục duy trì mức xếp hạng Ba2 đối với NHTM cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) và NHTM cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV).

Thị trường trái phiếu doanh nghiệp, vốn từng rơi vào tình trạng đóng băng, đã ghi nhận sự phục hồi đáng kể, với giá trị phát hành năm 2025 đạt khoảng 644,3 nghìn tỉ đồng, tăng 35,5% so với cùng kỳ năm 2024. Thách thức lớn trong năm 2026 nằm ở khối lượng trái phiếu đáo hạn khoảng 206,29 nghìn tỉ đồng, phản ánh “di sản” của giai đoạn bùng nổ phát hành 2020 - 2021. Tuy nhiên, so với năm 2023, khả năng xử lý các nghĩa vụ đáo hạn đã được cải thiện nhờ cơ chế giãn kỳ hạn và điều kiện thanh khoản thuận lợi hơn. Dù vậy, cơ cấu nhà đầu tư trên thị trường này vẫn thiếu chiều sâu khi khối nhà đầu tư tổ chức dài hạn mới chỉ nắm giữ khoảng 8% dư nợ, khiến rủi ro tái cấp vốn chưa thể được loại bỏ hoàn toàn.

Song song với quá trình cải cách thị trường nợ, Việt Nam đang đẩy mạnh mục tiêu nâng hạng thị trường cổ phiếu từ nhóm Frontier lên Emerging theo phân loại của FTSE Russell. Việc từng bước loại bỏ yêu cầu ký quỹ trước đối với nhà đầu tư nước ngoài trong giai đoạn 2025 - 2026 đã tháo gỡ một trong những nút thắt lớn liên quan đến cơ chế thanh toán và bù trừ. Mục tiêu đạt phân loại thị trường mới nổi thứ cấp trong giai đoạn 2026 - 2027 được kỳ vọng sẽ thu hút các dòng vốn thụ động quy mô lớn, qua đó góp phần giảm mức độ phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng và hỗ trợ ổn định tài chính vĩ mô trong dài hạn.

3. Rào cản quản trị và “trần” tín nhiệm quốc gia của Việt Nam trong tiến trình hướng tới hạng đầu tư đến năm 2030

Các tổ chức xếp hạng tín nhiệm quốc tế đánh giá tích cực nền tảng kinh tế vĩ mô của Việt Nam, với một số công cụ nợ dài hạn đã tiệm cận mức xếp hạng đầu tư; tuy nhiên, xếp hạng tín nhiệm chủ quyền vẫn được duy trì thận trọng do còn phụ thuộc vào các yếu tố thể chế, chất lượng điều hành và môi trường pháp lý, qua đó đặt nền tảng để Việt Nam tiếp tục cải cách và cải thiện hồ sơ tín nhiệm trong trung và dài hạn.

Bảng 1- Xếp hạng tín nhiệm của Việt Nam và các nước khu vực châu Á

Nguồn: Tác giả tổng hợp
Nguồn: Tác giả tổng hợp

Ở Việt Nam, công cuộc phòng, chống tham nhũng đang tạo ra những tác động hai chiều đối với hồ sơ tín nhiệm quốc gia, về dài hạn có thể góp phần làm giảm chi phí tham nhũng, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế. AMRO đánh giá rằng, các cải cách thể chế gắn với tăng cường kỷ luật tài khóa và minh bạch quản trị sẽ tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng dài hạn của Việt Nam (AMRO, 2025).

Tuy nhiên, trong ngắn hạn, đặc biệt giai đoạn 2024 - 2026, vẫn còn tâm lý e ngại rủi ro pháp lý xuất hiện trong một bộ phận bộ máy hành chính, dẫn đến chậm phê duyệt các dự án đầu tư công, trì hoãn cấp phép đất đai và ách tắc trong xử lý thủ tục hành chính. Điều này có thể làm suy giảm hiệu quả giải ngân ngân sách. Fitch Ratings nhìn nhận những biến động này mang tính chất ổn định hệ thống và chưa tạo ra xáo trộn đáng kể đối với triển vọng kinh tế trung hạn của Việt Nam (Fitch, 2026). Dù vậy, các tác động mang tính tạm thời lên hiệu suất điều hành vẫn hiện hữu và tiếp tục ảnh hưởng tiêu cực đến đánh giá về chất lượng quản trị trong ngắn hạn.

Việc nâng hạng tín nhiệm công cụ nợ Brady lên mức BBB- cung cấp một bài học quan trọng về quản trị rủi ro tín dụng. Cơ chế tài sản bảo đảm bằng trái phiếu Kho bạc Hoa Kỳ đã giúp giảm mạnh tổn thất kỳ vọng của nhà đầu tư, qua đó cho phép công cụ nợ vượt qua “trần” tín nhiệm quốc gia. Kinh nghiệm này gợi mở hướng tiếp cận tài chính cấu trúc đối với các lĩnh vực chiến lược, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt với nhu cầu vốn lớn cho chuyển dịch năng lượng, ước tính khoảng 15,5 tỉ USD theo khuôn khổ Đối tác Chuyển dịch Năng lượng Công bằng. IMF nhấn mạnh vai trò của các cơ chế bảo lãnh một phần, tài sản thế chấp và chứng khoán hóa trong huy động vốn khí hậu tại các thị trường mới nổi (IMF, 2025). Theo đó, việc phát hành trái phiếu xanh hoặc trái phiếu xanh dương kèm bảo lãnh từ các định chế đa phương như Ngân hàng Thế giới (WB) hoặc Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) có thể giúp Việt Nam tiếp cận chi phí vốn tiệm cận mức hạng đầu tư ngay trong giai đoạn hiện nay.

Bảng 2- Lợi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 10 năm trong khu vực (Tháng 01/2026)

Nguồn: ADB
Nguồn: ADB

Để nâng xếp hạng tín nhiệm quốc gia lên mức BBB-, lộ trình cải cách cần tập trung vào ba trụ cột then chốt. Thứ nhất, tăng cường minh bạch dữ liệu về tài khóa, nợ công và dự trữ ngoại hối theo chuẩn Hệ thống Phổ biến dữ liệu đặc biệt (SDDS) của IMF, qua đó giảm “phụ phí bất định” mà nhà đầu tư quốc tế thường yêu cầu khi định giá rủi ro quốc gia. Thứ hai, tiếp tục củng cố khu vực NHTM nhà nước thông qua việc tăng vốn cấp 1, đồng thời mở rộng tỉ lệ sở hữu nước ngoài có chọn lọc nhằm thu hút nguồn lực dài hạn, cải thiện chất lượng bảng cân đối và giảm các rủi ro tiềm ẩn mang tính hệ thống. Thứ ba, hoàn thiện khung pháp lý theo hướng dựa trên các quy tắc rõ ràng, dễ dự đoán và hạn chế tối đa dư địa diễn giải chủ quan, qua đó giảm thiểu tình trạng “tê liệt hành chính” phát sinh trong quá trình thực thi chiến dịch phòng, chống tham nhũng.

So sánh trong khu vực cho thấy, Việt Nam có nhiều lợi thế vượt trội về tốc độ tăng trưởng GDP và tỉ lệ nợ công trên GDP so với các quốc gia như Ấn Độ, Philippines hay Indonesia. Điểm yếu mang tính cấu trúc duy nhất còn tồn tại nằm ở chất lượng quản trị. S&P Global Ratings khẳng định rằng, mức xếp hạng BB+ hiện nay phản ánh chủ yếu các rào cản về thể chế, chứ không phải năng lực trả nợ của quốc gia (S&P Global Ratings, 2025). Nghịch lý này càng củng cố luận điểm rằng cải cách quản trị đóng vai trò mang tính quyết định đối với mục tiêu đạt hạng tín nhiệm đầu tư vào năm 2030 theo Quyết định số 412/QĐ-TTg.

Trong lĩnh vực thị trường vốn, việc tái lập kỷ luật trên thị trường trái phiếu doanh nghiệp thông qua Nghị định số 65/2022/NĐ-CP ngày 16/9/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế, sau khi cơ chế nới lỏng tạm thời theo Nghị định số 08/2023/NĐ-CP ngày 05/3/2023 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung và ngưng hiệu lực thi hành một số điều tại các Nghị định quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế đánh dấu một bước chuyển thể chế quan trọng. Các quy định mới theo hướng siết chặt định nghĩa nhà đầu tư chuyên nghiệp, áp dụng yêu cầu xếp hạng tín nhiệm bắt buộc và nâng cao tiêu chuẩn công bố thông tin đã tạo điều kiện sàng lọc doanh nghiệp phát hành, qua đó từng bước củng cố lại niềm tin của thị trường (ADB, 2025). Song song với đó, Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh đã đặt nền móng cho sự phát triển của thị trường tài chính xanh, gắn mục tiêu tăng trưởng kinh tế với cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” (Net Zero).

Việc nâng hạng tín nhiệm đối với các công cụ nợ có bảo đảm đã khẳng định rằng rủi ro tín dụng cơ bản của Việt Nam ở mức thấp khi loại trừ các kịch bản tổn thất cực đoan. Thách thức cốt lõi đặt ra trong giai đoạn tới không nằm ở năng lực tài chính, mà ở khả năng chuyển hóa kỷ luật tài chính mang tính “ngoại sinh” thành năng lực thể chế mang tính “nội sinh”. Khi chất lượng quản trị đạt được mức độ tin cậy tương đương với vai trò bảo đảm của tài sản an toàn như trái phiếu Kho bạc Hoa Kỳ, “trần” tín nhiệm quốc gia sẽ có cơ sở để được phá vỡ một cách tự nhiên.

Tài liệu tham khảo:

1. ADB (2025), Viet Nam's economy gathers momentum despite global challenges, Asian Development Bank

2. AMRO (2025), Raising sovereign credit rating: A key to Vietnam's growth, ASEAN+3 Macroeconomic Research Office

3. Fitch (2026), Fitch Upgrades Vietnam's Long-Term Senior Secured Debt Instruments to 'BBB-', Removes UCO, Fitch Ratings.

4. IMF (2025), The scalability of credit-enhanced EM climate debt, International Monetary Fund.

5. S&P (2025), Vietnam Ratings Affirmed at 'BB+/B', Outlook Stable, S&P Global Ratings.

PGS.,TS. Nguyễn Đình Thọ - Viện Chiến lược, Chính sách Nông nghiệp và Môi trường

Tin bài khác

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh bất định kéo dài với những cú sốc đa chiều khó lường, bài viết phân tích kinh nghiệm của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Mexico trong quá trình ra quyết định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), qua đó nhấn mạnh vai trò của quản trị rủi ro, phân tích kịch bản và dữ liệu tần suất cao như những trụ cột mới hỗ trợ hoạch định chính sách hiệu quả.
Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Thanh toán xuyên biên giới - Góc nhìn quốc tế và kiến nghị, giải pháp

Trong bối cảnh toàn cầu hóa tài chính diễn ra ngày càng sâu rộng, thanh toán xuyên biên giới không chỉ là hạ tầng hỗ trợ thương mại và đầu tư quốc tế, mà còn trở thành thước đo năng lực hội nhập, mức độ hiện đại hóa hệ thống tài chính - ngân hàng của mỗi quốc gia.
Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Sự phục hồi và mở rộng thị trường ngoại hối toàn cầu trong bối cảnh biến động của nền kinh tế thế giới

Kết quả khảo sát năm 2025 của Ngân hàng Thanh toán quốc tế (BIS) cho thấy thị trường ngoại hối toàn cầu đã sôi động trở lại từ đầu quý II/2025, với quy mô giao dịch tăng mạnh dưới tác động của bất ổn kinh tế, biến động tỉ giá USD và những điều chỉnh chiến lược phòng hộ, đầu cơ của các chủ thể tham gia thị trường.
Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Sự ấm lên toàn cầu và cơ chế truyền dẫn đến lạm phát

Bài viết phân tích cơ chế truyền dẫn từ sự ấm lên toàn cầu đến lạm phát, làm rõ vai trò của các cú sốc khí hậu, chi phí chuyển đổi xanh và suy giảm năng suất lao động đối với động thái giá cả, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu các ngân hàng trung ương phải tích hợp rủi ro khí hậu vào khung phân tích và điều hành chính sách trong bối cảnh “lạm phát khí hậu” ngày càng hiện hữu.
Xem thêm
Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Pháp luật về thu nhập từ thừa kế trong thuế thu nhập cá nhân: Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Tại Việt Nam, thuế thừa kế không tồn tại như một loại thuế riêng biệt và độc lập trong hệ thống pháp luật về thuế. Thay vào đó, thuế thu nhập cá nhân được áp dụng với một số tài sản thừa kế nhất định khi chúng đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định. Trong đó, người nộp thuế là cá nhân nhận tài sản thừa kế sẽ phải chịu thuế thu nhập cá nhân nếu tài sản thừa kế đó đáp ứng đủ điều kiện chịu thuế.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Bài viết phân tích các quy định mới của Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), qua đó làm rõ vai trò của việc hoàn thiện khung pháp lý trong nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích thực trạng khung pháp lý thúc đẩy Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường quản trị rủi ro bền vững và định hướng dòng vốn theo mục tiêu phát triển xanh.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành