Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 và hàm ý chính sách cho giai đoạn tới

Chính sách
Bài viết đánh giá tổng quan tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025 với những kết quả nổi bật về cơ cấu, đầu tư và thương mại, đồng thời chỉ ra các hạn chế về chất lượng tăng trưởng và nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, từ đó đề xuất hàm ý chính sách nhằm hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.
aa

Tóm tắt: Năm 2025, kinh tế Việt Nam tăng trưởng ấn tượng trên tất cả các ngành, lĩnh vực. Trong đó, cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực; đầu tư phát triển được đẩy mạnh; xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ không ngừng tăng cả về số lượng và chất lượng. Tuy nhiên, chất lượng tăng trưởng kinh tế vẫn chưa đáp ứng được kỳ vọng; có nguy cơ vướng bẫy thu nhập trung bình… Bài viết đánh giá tổng quan về tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025, qua đó, đề xuất hàm ý chính sách nhằm thúc đẩy kinh tế Việt Nam tăng trưởng hai con số trong những năm tới.

Từ khóa: Bẫy thu nhập trung bình; hội nhập kinh tế quốc tế; tăng trưởng kinh tế.

VIETNAM'S ECONOMIC GROWTH IN 2025 AND POLICY IMPLICATIONS FOR THE COMING PERIOD

Abstract: Vietnam's economy is projected to experience impressive growth across all sectors in 2025. This includes a positive shift in economic structure; increased investment; the import - export of goods and services are constantly increasing in both quantity and quality. However, the quality of economic growth has not yet met expectations, and there is a risk of falling into the middle-income trap. This article provides an overview of Vietnam's economic growth in 2025 and proposes policy implications to promote double-digit growth in Vietnam in the coming years.

Keywords: Middle-income trap; international economic integration; economic growth.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Đặt vấn đề

Thế giới đã trải qua 1/4 thế kỷ và bước vào kỷ nguyên số với đặc điểm lớn là cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với sự phát triển mạnh mẽ của các công nghệ tiên tiến như: Trí tuệ nhân tạo (AI), Internet vạn vật (IoT), dữ liệu lớn (Big Data) và điện toán đám mây (Cloud Computing), đang làm thay đổi sâu sắc phương thức quản trị quốc gia và hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đối với Việt Nam, sự thay đổi này mang lại cơ hội lớn trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.

Thời gian qua, Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất khu vực và thế giới. Kinh tế Việt Nam tăng trưởng liên tục trong vòng hơn 40 năm qua. Xét ở góc độ kinh tế, Việt Nam vẫn thuộc nhóm các nước có mức tăng trưởng khá cao so với nhiều nước trên thế giới và khu vực. Kinh tế vĩ mô cơ bản giữ ổn định, kiểm soát được lạm phát, đảm bảo các cân đối lớn, kinh tế trong nước tiếp tục xu hướng phục hồi. Việt Nam vẫn là điểm đến đầu tư hấp dẫn nhờ sự ổn định và an toàn, chi phí lao động thấp so với Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan. Ngoài ra, Việt Nam đã hội nhập chặt chẽ vào hệ thống sản xuất Đông Á, cụ thể là Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và Nhật Bản .

Theo số liệu của Cục Thống kê, quy mô GDP theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 12.847,6 nghìn tỉ đồng, tương đương 514 tỉ USD, tăng 38 tỉ USD so với năm 2024 (476 tỉ USD). GDP năm 2025 tăng trưởng khá với mức tăng đạt 8,02%, đây là mức tăng trưởng GDP cao nhất so với tốc độ tăng GDP các năm trong giai đoạn 2011 - 2025. GDP bình quân đầu người năm 2025 theo giá hiện hành ước đạt 125,5 triệu đồng/người, tương đương 5.026 USD, tăng 326 USD so với năm 2024 (4.700 USD). Năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2025 theo giá hiện hành đạt 245,0 triệu đồng/lao động (tương đương 9.809 USD/lao động, tăng 626 USD so với năm 2024); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 6,83% do trình độ của người lao động được cải thiện (tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2025 đạt khoảng 29,2%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với năm 2024).

Điều này cho thấy, nền kinh tế Việt Nam có một vai trò quan trọng trong sự tăng trưởng của kinh tế toàn cầu. Tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh chóng, vị trí chiến lược tốt và sự hội nhập vào chuỗi cung ứng toàn cầu đã giúp Việt Nam trở thành quốc gia đóng vai trò then chốt trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Bằng cách tiếp tục mở cửa nền kinh tế và tham gia các hiệp định thương mại đa phương, Việt Nam có thể tận dụng năng lực công nghệ ngày càng cao của mình. Điều này không chỉ có lợi cho Việt Nam mà còn là bài học cho các nền kinh tế đang phát triển khác. Kinh tế Việt Nam năm 2025 đang tăng trưởng ở vị trí cao so với các nước có mức GDP tương đương và dẫn đầu trong số các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình.

2. Các nhân tố tạo động lực cho tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2025

Thứ nhất, cơ cấu kinh tế tăng trưởng tích cực

Theo số liệu của Cục Thống kê, năm 2025, trong mức tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế so với năm 2024, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,78%, đóng góp 5,30%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,95%, đóng góp 43,62%; khu vực dịch vụ tăng 8,62%, đóng góp 51,08%.

Trong khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản, mặc dù chịu tác động bất lợi từ bão, mưa lũ, nhưng nhờ triển khai kịp thời các biện pháp ứng phó, khắc phục hậu quả thiên tai nên sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản vẫn duy trì ở mức ổn định.

Giá trị tăng thêm ngành nông nghiệp năm 2025 tăng khoảng 3,48% so với năm 2024, đóng góp 3,59% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế; ngành lâm nghiệp tăng 5,70%, nhưng chiếm tỉ trọng thấp, chỉ đóng góp 0,38%; ngành thủy sản tăng 4,41%, đóng góp 1,33%. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp năm 2025 ước tăng 8,80% so với năm trước, đóng góp 35,15% vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế. Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97%, là mức tăng cao nhất trong giai đoạn 2019 - 2025 tiếp tục là động lực tăng trưởng kinh tế, đóng góp 31,49% vào mức tăng tổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế .

Các hoạt động thương mại, du lịch tăng cao, khách quốc tế đến Việt Nam năm 2025 cao nhất từ trước đến nay, đóng góp tích cực vào tăng trưởng của khu vực dịch vụ. Giá trị tăng thêm khu vực dịch vụ năm 2025 ước tăng 8,62%, chỉ thấp hơn tốc độ tăng 10,66% của năm 2022 trong giai đoạn 2011 - 2025. Một số ngành dịch vụ thị trường có tỉ trọng lớn, đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng tổng giá trị tăng thêm toàn nền kinh tế như: Bán buôn và bán lẻ tăng 8,52% so với năm trước, đóng góp 10,62%; ngành vận tải, kho bãi tăng 10,99%, đóng góp 8,69%; hoạt động tài chính, ngân hàng và bảo hiểm tăng 7,82%, đóng góp 5,72%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 10,02%, đóng góp 3,34%.

Thứ hai, đầu tư phát triển

Vốn đầu tư thực hiện toàn xã hội theo giá hiện hành năm 2025 ước đạt 4.150,5 nghìn tỉ đồng, tăng 12,1% so với năm 2024. Tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam tính đến ngày 31/12/2025 bao gồm: Vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 38,42 tỉ USD, tăng 0,5% so với năm trước. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thực hiện tại Việt Nam năm 2025 ước đạt 27,62 tỉ USD, tăng 9,0% so với năm trước. Đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài trong năm 2025 có 173 dự án được cấp mới giấy chứng nhận đầu tư với tổng số vốn của phía Việt Nam là 1,0 tỉ USD, tăng 65,9% so với năm trước; có 32 lượt dự án điều chỉnh vốn với số vốn điều chỉnh 360,8 triệu USD, gấp hơn 3 lần. Tính chung tổng vốn đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài (vốn cấp mới và điều chỉnh) đạt 1.362 triệu USD, tăng 88,7% so với năm trước.

Thứ ba, xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ

Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 475,04 tỉ USD, tăng 17,0% so với năm 2024. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 107,95 tỉ USD, giảm 6,1%, chiếm 22,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2025 đạt 455,01 tỉ USD, tăng 19,4% so với năm 2024, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 137,38 tỉ USD, giảm 2,0%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 317,63 tỉ USD, tăng 31,9%.

Tính chung cả năm 2025, cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỉ USD (năm 2024 xuất siêu 24,94 tỉ USD). Trong đó, khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 29,43 tỉ USD; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 49,46 tỉ USD. Trong đó, kim ngạch xuất khẩu dịch vụ năm 2025 đạt 30,31 tỉ USD, tăng 18,9% so với năm trước, trong đó dịch vụ du lịch đạt 15,22 tỉ USD (chiếm 50,2% tổng kim ngạch), tăng 24,4%; dịch vụ vận tải đạt 8,8 tỉ USD (chiếm 29,0%), tăng 23,6%. Kim ngạch nhập khẩu dịch vụ năm 2025 đạt 40,54 tỉ USD (trong đó phí dịch vụ vận tải và bảo hiểm của hàng hóa nhập khẩu là 14,43 tỉ USD), tăng 14,0% so với năm trước, trong đó dịch vụ vận tải đạt 17,1 tỉ USD (chiếm 42,1% tổng kim ngạch), tăng 19,9%; dịch vụ du lịch đạt 14,7 tỉ USD (chiếm 36,4%), tăng 15,6% .

Nhìn chung, trong năm 2025, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về kinh tế - xã hội, không ngừng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng thuận lợi hơn và giữ được ổn định kinh tế vĩ mô. Việt Nam đang trong quá trình trở thành một đối tác rất quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn là quốc gia có mức thu nhập trung bình. Cùng với đó, tình trạng suy giảm tài nguyên, năng lượng, ô nhiễm đất và suy thoái đất, đặc biệt là biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới phát triển kinh tế của Việt Nam. Điều này thể hiện trong giai đoạn 2021 - 2025, nền kinh tế Việt Nam gặp không ít thách thức. Theo báo cáo của Chính phủ, kinh tế - xã hội năm 2025 đạt được 22/26 chỉ tiêu; bốn chỉ tiêu chưa đạt gồm: Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt gần 6,3% (mục tiêu là 6,3 - 7%); tỉ trọng công nghiệp chế biến chế tạo trong GDP khoảng 24,7% (mục tiêu trên 25% GDP); tỉ trọng kinh tế số trong GDP khoảng 14% (mục tiêu 20%); tốc độ tăng năng suất lao động bình quân/năm khoảng 5,1% (mục tiêu là trên 6,5%). Mặc dù quy mô GDP năm 2025 đạt 514 tỉ USD, nhưng điều này không hoàn toàn phản ánh thu nhập của mọi người dân đều tăng lên. Thu nhập của người lao động được ghi nhận qua chỉ số thu nhập khả dụng của dân cư; GDP chỉ là một chỉ tiêu kinh tế chung, không hoàn toàn phản ánh mức sống dân cư tăng lên. Quy mô GDP chỉ cho thấy quy mô nền kinh tế tăng lên, chứ không hoàn toàn phản ánh mức sống người dân tăng lên .

Dù Việt Nam đạt được những thành tựu quan trọng trong quá trình chuyển đổi từ một quốc gia có thu nhập thấp sang một quốc gia có thu nhập trung bình cao. Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tồn tại những nút thắt, đó là chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, các cân đối vĩ mô chưa vững chắc, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp. Mô hình tăng trưởng hiện nay chuyển đổi chậm, vẫn chủ yếu dựa vào vốn và lao động, trong khi các động lực bền vững như đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ và kinh tế tri thức còn hạn chế, làm gia tăng nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Trong khi đó, năng suất lao động của Việt Nam cải thiện chậm, kém xa so với các nước trong khu vực. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng 1/10 Singapore và bằng 3/4 so với Trung Quốc.

Bước sang năm 2026, với mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên, dựa trên nền tảng xác lập mô hình tăng trưởng mới, chuyển đổi xanh và chuyển đổi số…, Chính phủ đã trình Quốc hội ban hành Nghị quyết số 224/2025/QH15 ngày 13/11/2025 về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2026, tập trung vào 11 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Đặc biệt, Chính phủ đặt mục tiêu xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính. Thúc đẩy kinh tế số, kinh tế xanh, công nghệ bán dẫn, AI... Xây dựng, đưa vào vận hành, phát huy hiệu quả Trung tâm tài chính quốc tế tại Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Đà Nẵng và các khu thương mại tự do thế hệ mới tại một số địa phương. Đồng thời, bảo đảm tiến độ các dự án hạ tầng chiến lược, trọng điểm; tập trung nguồn lực đầu tư các dự án có tính đột phá, mang tính chiến lược, phát triển hạ tầng năng lượng đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế… Đây sẽ là “cú hích” quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho giai đoạn tiếp theo.

3. Hàm ý chính sách

Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế, thực hiện đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường trong quản lý, điều hành nền kinh tế vĩ mô. Chính phủ cần đẩy mạnh quá trình hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp; hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế; hoàn thiện thể chế tài chính doanh nghiệp nhà nước cho phù hợp nhằm phục vụ quá trình sắp xếp, tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước. Đồng thời, thực hiện phân bổ các nguồn lực xã hội theo cơ chế thị trường và theo các định hướng về chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển của Nhà nước. Đẩy nhanh quá trình hoàn thiện và phát triển đồng bộ các loại thị trường theo hướng hiện đại, nhất là thị trường chứng khoán, lao động, khoa học - công nghệ. Mặt khác, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế về giá, về cạnh tranh và kiểm soát độc quyền; thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường có sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước.

Hai là, đẩy mạnh tái cơ cấu kinh tế gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Tập trung phát triển công nghiệp để tạo nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong đó, cần xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược công nghiệp tổng thể phù hợp với mô hình và bước đi về công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cơ cấu lại sản xuất theo hướng tăng hàm lượng khoa học - công nghệ và tỉ trọng giá trị nội địa. Ưu tiên phát triển các sản phẩm có giá trị gia tăng cao, lợi thế cạnh tranh. Chú trọng phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp và nông thôn. Tập trung phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ có nhu cầu lớn như dệt may, giày dép và linh kiện điện tử. Đồng thời, hiện đại hóa và mở rộng các dịch vụ có giá trị gia tăng cao như ngân hàng, bảo hiểm, logistics và các dịch vụ khác. Đẩy mạnh phát triển khu vực dịch vụ, tập trung phát triển một số ngành dịch vụ có lợi thế, có hàm lượng tri thức và công nghệ cao như hàng hải, hàng không, viễn thông, công nghệ thông tin…

Ba là, đẩy mạnh tái cơ cấu khu vực doanh nghiệp nhà nước. Thực hiện quyết liệt và hiệu quả cơ cấu lại ngành, nghề kinh doanh của các tập đoàn kinh tế và các tổng công ty nhà nước. Kiên quyết điều chỉnh để doanh nghiệp nhà nước có cơ cấu hợp lý. Tập trung đẩy mạnh thực hiện phương án sắp xếp, cổ phần hóa, góp phần tháo gỡ các vấn đề tài chính cho doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhà nước và các tổ chức tín dụng nói riêng trong quá trình tái cơ cấu. Đồng thời, cần đẩy mạnh công tác xử lý những tồn tại về tài sản, tài chính, công nợ, xử lý lao động dôi dư trong quá trình sắp xếp, cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước; phân định quyền hạn và trách nhiệm của đại diện chủ sở hữu nhà nước, cơ quan đại diện chủ sở hữu của doanh nghiệp, đại diện chủ sở hữu trực tiếp tại doanh nghiệp.

Bốn là, ưu tiên nguồn lực đầu tư công để đầu tư các công trình quan trọng, thiết yếu, đáp ứng yêu cầu phát triển và đảm bảo kết nối các trung tâm kinh tế lớn, các đầu mối giao thông quan trọng. Đa dạng hóa hình thức đầu tư, khuyến khích và tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoài tham gia xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng… Đồng thời, đẩy mạnh phát triển nguồn nhân lực theo hướng đổi mới cơ cấu và phương thức đầu tư cho giáo dục và đào tạo; đa dạng hóa nguồn lực đầu tư, đổi mới cơ chế huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực ngân sách nhà nước cho phát triển khoa học - công nghệ… Tăng cường sự gắn kết chặt chẽ giữa khoa học - công nghệ với sản xuất, phát huy sáng tạo, cải tiến kỹ thuật để nâng cao năng lực sản xuất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Năm là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác quản lý vĩ mô. Tiếp tục đổi mới các công cụ quản lý vĩ mô của nhà nước; nâng cao chất lượng công tác xây dựng chính sách, thực hiện phối hợp hiệu quả trong quản lý kinh tế vĩ mô; tăng cường công tác thông tin kinh tế - xã hội, công tác kế toán, thống kê, giám sát, quản lý rủi ro và bảo đảm an toàn về nợ công và nợ nước ngoài quốc gia. Đồng thời, cần chủ động, linh hoạt trong điều hành chính sách tiền tệ theo hướng bền vững, ổn định giá trị đồng tiền. Thực hiện các chính sách tín dụng, lãi suất, tỉ giá theo nguyên tắc thị trường; tăng cường hạ tầng tài chính bao gồm mở rộng và đào sâu dữ liệu tín dụng của người vay; giải quyết các thách thức về năng lực tài chính và bảo vệ người tiêu dùng và bảo mật dữ liệu. Tập trung xử lý nợ xấu, nâng cao chất lượng tín dụng, bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.

Sáu là, Chính phủ cần định hướng thương mại hàng hóa quốc tế theo hướng đa dạng hóa thị trường, giảm phụ thuộc vào một số đối tác lớn, chủ động thích ứng với các rào cản kỹ thuật, môi trường và thuế quan mới. Chính phủ cần quyết tâm chuyển từ “theo sau thích ứng” sang chuẩn bị trước và tham gia định hình thương mại quốc tế theo hướng thích ứng với các tiêu chuẩn về carbon, truy xuất nguồn gốc, lao động, số hóa hải quan và minh bạch chuỗi cung ứng. Vì vậy, việc tái cấu trúc thương mại quốc tế phải được dẫn dắt bởi các động lực tăng trưởng mới: Kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tri thức. Các động lực này chính là “trục xoay” để thương mại hàng hóa quốc tế của Việt Nam bước sang giai đoạn phát triển mới chất lượng hơn, tự chủ hơn trong giai đoạn 2026 - 2030.

Bảy là, thực hiện đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế với tất cả các nước trong khu vực và trên thế giới, tránh bị lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác. Đồng thời, kết hợp hiệu quả giữa ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách còn bất cập, vướng mắc để tháo gỡ và triển khai có hiệu quả trong thực tế. Khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác quốc tế, các nguồn lực bên ngoài như vốn, khoa học - công nghệ, kinh nghiệm quản lý, tổ chức vận hành nền kinh tế thị trường hiện đại. Tiếp tục đẩy mạnh đổi mới, sắp xếp lại, phát triển và chuyển đổi cơ cấu doanh nghiệp cho phù hợp với cam kết với Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), các Hiệp định Thương mại tự do (FTA) đã ký và tham gia, đặc là các FTA thế hệ mới.

Tài liệu tham khảo

1. Julien Chaisse (2024), “Việt Nam có thể tham gia định hình các giải pháp toàn cầu”, Báo Tuổi trẻ ngày 19/01/2024.

2. Cục Thống kê (2026), “Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025”, truy cập tại trang https://www.nso.gov.vn/bai-top/2026/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/

3. Jonathan Pincus (2024), Davos và nhiều kỳ vọng dành cho Việt Nam, Báo Tuổi trẻ ngày 19/01/2024.

4. Nguyễn Bích Lâm (2026), “Quy mô GDP 500 tỉ USD có ý nghĩa gì?”, Báo Tuổi trẻ ngày 02/01/2026.

5. Mai Hà (2026), “Năm bản lề đột phá tăng trưởng trên 10%”, Báo Thanh niên ngày 07/01/2026.

6. Phạm Ngọc Hòa (2024), Đổi mới và phát triển ở Việt Nam - Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Lý luận chính trị, Hà Nội.

7. Klaus Schwab (2024), “Việt Nam: Định hướng tầm nhìn toàn cầu”, Báo Tuổi trẻ ngày 17/01/2024.

ThS. Phạm Ngọc Hòa
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Đồng Tháp

Tin bài khác

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Bài viết phân tích các quy định mới của Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), qua đó làm rõ vai trò của việc hoàn thiện khung pháp lý trong nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích thực trạng khung pháp lý thúc đẩy Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường quản trị rủi ro bền vững và định hướng dòng vốn theo mục tiêu phát triển xanh.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Thông tư số 60/2025/TT-NHNN và thủ tục chấp thuận góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng: Từ kỷ luật an toàn đến chi phí tuân thủ

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN và thủ tục chấp thuận góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng: Từ kỷ luật an toàn đến chi phí tuân thủ

Thông tư số 60/2025/TT-NHNN ngày 30/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định điều kiện, hồ sơ và thủ tục chấp thuận việc góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng (TCTD) là một bước tiến quan trọng trong việc cụ thể hóa các thủ tục hành chính, đảm bảo mọi hoạt động góp vốn, mua cổ phần đều phải phục vụ mục tiêu hàng đầu là bảo vệ an toàn vốn và tuân thủ giới hạn đầu tư theo Luật Các TCTD.
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật

Bài viết phân tích khung pháp lý và thực tiễn áp dụng văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm tại các tổ chức tín dụng, qua đó chỉ ra những vướng mắc trong quá trình triển khai và đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm thúc đẩy chuyển đổi số và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế

Bài viết phân tích những điểm mới của Thông tư số 83/2025/TT-NHNN về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng trên cơ sở Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và chuẩn mực Basel, qua đó làm rõ các yêu cầu tăng cường quản trị rủi ro, dữ liệu rủi ro, kiểm tra sức chịu đựng và quản lý rủi ro mô hình nhằm nâng cao an toàn hoạt động và ổn định hệ thống ngân hàng.
Xem thêm
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng

Bài viết phân tích toàn diện khung pháp lý về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, đánh giá khả năng triển khai trong thực tiễn hoạt động ngân hàng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện nhằm bảo đảm tính khả thi, thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm.
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững

Bài viết phân tích các quy định mới của Nghị định số 06/2026/NĐ-CP ngày 10/01/2026 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH), qua đó làm rõ vai trò của việc hoàn thiện khung pháp lý trong nâng cao hiệu quả tín dụng chính sách, thúc đẩy tài chính toàn diện và hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện

Bài viết phân tích thực trạng khung pháp lý thúc đẩy Môi trường - Xã hội - Quản trị (ESG) trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị hoàn thiện chính sách nhằm tăng cường quản trị rủi ro bền vững và định hướng dòng vốn theo mục tiêu phát triển xanh.
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của an ninh năng lượng và biến động giá xăng dầu tới lạm phát tại Việt Nam, làm rõ cơ chế truyền dẫn chi phí năng lượng vào mặt bằng giá trong nước và nhấn mạnh vai trò của chuyển dịch cơ cấu năng lượng trong ổn định kinh tế vĩ mô dài hạn.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành