Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Chính sách
Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
aa

Trong bối cảnh môi trường thông tin đa chiều, tốc độ lan truyền nhanh và sự gia tăng của các rủi ro thông tin, truyền thông chính sách ngành Ngân hàng không chỉ là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành một cấu phần quan trọng trong quản trị điều hành. Việc chủ động, chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa công tác truyền thông chính sách vì vậy là yêu cầu cấp thiết, góp phần nâng cao tính minh bạch, ổn định hệ thống tài chính - ngân hàng và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững trong kỷ nguyên mới.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Cơ sở lý thuyết về vai trò của truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), ngân hàng

Trong cấu trúc vận hành của nền kinh tế hiện đại, truyền thông CSTT, ngân hàng đã vượt xa vai trò truyền tải thông tin đơn thuần để trở thành một cấu phần chiến lược trong điều hành vĩ mô, khơi thông tín dụng ngân hàng. Công cụ điều hành CSTT truyền thống của ngân hàng trung ương (NHTW) tập trung chủ yếu vào các công cụ định lượng như lãi suất, cung tiền hay dự trữ bắt buộc để điều tiết nền kinh tế. Ngày nay, truyền thông chính sách đã trở thành một “công cụ mềm” nhưng có sức mạnh lan tỏa sâu rộng, trực tiếp tác động đến kỳ vọng thị trường, hành vi đầu tư và niềm tin xã hội. Quá trình chuyển dịch phản ánh bước tiến quan trọng trong tư duy quản trị quốc gia, khi thông tin bất cân xứng và kỳ vọng lạm phát đòi hỏi truyền thông CSTT, ngân hàng là nguồn lực quan trọng trong điều tiết chính sách vĩ mô và khơi thông tín dụng ngân hàng.

Truyền thông CSTT của NHTW giúp neo giữ kỳ vọng lạm phát, là yếu tố then chốt định hình hành vi tiêu dùng và đầu tư, ổn định tâm lý thị trường. Truyền thông minh bạch giúp CSTT hiệu quả hơn, kiểm soát lạm phát thực tế và điều chỉnh lãi suất, tỉ giá phù hợp. NHTW truyền thông mục tiêu lạm phát và lộ trình lãi suất để định hướng tâm lý thị trường. Năng lực dự báo và sự độc lập trong việc ra quyết định là nền tảng để thông điệp truyền thông có uy tín, từ đó neo giữ kỳ vọng lạm phát hiệu quả. Truyền thông CSTT minh bạch giúp giảm thông tin bất cân xứng, ổn định kỳ vọng thị trường và tăng tính hiệu quả của các công cụ lãi suất, tín dụng. Khi NHTW truyền thông rõ ràng về xu hướng lãi suất, các ngân hàng thương mại dễ dàng điều chỉnh lãi suất đầu vào/đầu ra, giúp truyền dẫn chính sách qua kênh lãi suất hiệu quả hơn.

Truyền thông CSTT là "lá chắn" quan trọng của NHTW nhằm quản lý kỳ vọng lạm phát, đảm bảo ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế. Khi có những thông tin bất cân xứng (là tình trạng một bên trong giao dịch (thường là người bán) có nhiều thông tin hơn, hoặc biết rõ hơn bên kia (người mua) về hàng hóa, dịch vụ, dẫn đến việc ra quyết định sai lệch), làm trầm trọng rủi ro tín dụng và giảm hiệu quả truyền dẫn CSTT của NHTW (Williamson, 1987).

Nhận thức về vai trò chiến lược của truyền thông chính sách đã được thể chế hóa trong hoạt động chỉ đạo điều hành, với trọng tâm là các nguyên tắc minh bạch, nhất quán và lấy người dân làm trung tâm, từ đó từng bước định hình hệ sinh thái truyền thông, nơi thông tin được công bố, diễn giải, và định hướng một cách chủ động, có kiểm soát. Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, nơi niềm tin là tài sản cốt lõi, truyền thông chính sách đóng vai trò là cơ chế phòng ngừa rủi ro từ xa, giúp giảm thiểu thông tin bất đối xứng và ngăn chặn các cú sốc tâm lý có thể gây bất ổn hệ thống.

2. Truyền thông CSTT, ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Những năm gần đây, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng đột phá, truyền thông chính sách không còn là khâu hậu kiểm mà đã tham gia trực tiếp vào toàn bộ vòng đời của chính sách. Từ giai đoạn xây dựng, thử nghiệm đến triển khai và đánh giá, truyền thông trở thành kênh tương tác hai chiều giữa cơ quan quản lý và xã hội. Sự tham gia của báo chí, chuyên gia độc lập, tổ chức tín dụng và các nền tảng công nghệ số đã tạo nên một mạng lưới truyền thông đa tầng, giúp CSTT được “kiểm nghiệm” liên tục trong thực tiễn.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, các công nghệ như trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn đang tái định hình hoàn toàn cách thức truyền thông chính sách. Thông tin không còn được phát đi một cách đại trà mà được cá nhân hóa theo từng nhóm đối tượng, từng khu vực và từng hành vi kinh tế, giúp nâng cao hiệu quả truyền thông và tăng khả năng tiếp cận của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Truyền thông chính sách vì thế trở thành một công cụ bao trùm, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và giảm khoảng cách phát triển.

Trong khung triết lý mới truyền thông chuyển từ “truyền đạt” sang “đồng kiến tạo”, CSTT không còn được xây dựng trong không gian khép kín mà được hình thành thông qua đối thoại, phản biện và thử nghiệm. Các diễn đàn, tọa đàm, hội thảo chuyên sâu trở thành nơi hội tụ trí tuệ tập thể, giúp chính sách phản ánh sát thực tiễn và có tính khả thi cao hơn. Báo chí, truyền thông không chỉ là kênh thông tin còn là chủ thể tham gia vào quá trình hoạch định, đóng vai trò cầu nối giữa nhà nước và xã hội.

Song song với đó, sự phát triển của truyền thông chính sách ngân hàng cũng gắn liền với yêu cầu nâng cao dân trí tài chính. Khi người dân hiểu rõ cơ chế vận hành của hệ thống tiền tệ, họ sẽ có khả năng đưa ra các quyết định tài chính hợp lý, từ đó góp phần ổn định thị trường. Các chương trình giáo dục tài chính theo hướng “giải trí hóa” đã chứng minh hiệu quả trong việc đưa các khái niệm phức tạp trở nên gần gũi, dễ hiểu và dễ áp dụng trong đời sống. Truyền thông CSTT không chỉ là một công cụ hỗ trợ mà đã trở thành một trụ cột của điều hành vĩ mô, vừa là phương tiện truyền tải, vừa là cơ chế phản hồi và là nền tảng kiến tạo niềm tin, yếu tố cốt lõi bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.

3. Sứ mệnh của truyền thông CSTT, ngân hàng trong kỷ nguyên Net Zero

Giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra những yêu cầu chưa từng có đối với truyền thông CSTT, ngân hàng tại Việt Nam. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số đặt ra áp lực lớn trong cân bằng giữa mở rộng tín dụng và kiểm soát lạm phát, giữa thúc đẩy đầu tư và đảm bảo an toàn hệ thống. Truyền thông chính sách đóng vai trò trung tâm trong việc quản trị kỳ vọng thị trường, giúp định hướng hành vi của doanh nghiệp và nhà đầu tư theo đúng quỹ đạo phát triển.

Thách thức lớn nhất đến từ sự phân hóa của CSTT toàn cầu. Khi các nền kinh tế lớn điều chỉnh lãi suất theo chu kỳ riêng, Việt Nam buộc phải duy trì sự linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo ổn định vĩ mô, đòi hỏi truyền thông phải liên tục phát đi những tín hiệu rõ ràng, nhất quán về định hướng điều hành, tránh gây hiểu nhầm hoặc tạo ra kỳ vọng sai lệch. Trong bối cảnh lượng tín dụng dự kiến tăng mạnh, truyền thông đúng bản chất của chính sách, hướng dòng vốn vào sản xuất, kiểm soát rủi ro đầu cơ, trở nên đặc biệt quan trọng.

Truyền thông chính sách giai đoạn 2026 - 2030 còn gắn chặt với các mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt là cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Trong kỷ nguyên Net Zero, truyền thông chính sách ngành Ngân hàng là lực lượng dẫn dắt, đóng vai trò không thể thay thế trong việc định hình nhận thức và thúc đẩy hành động của toàn xã hội. Truyền thông chính sách cung cấp thông tin và tham gia trực tiếp vào quá trình thực thi chính sách khí hậu, trở thành một phần của hệ sinh thái chuyển đổi xanh.

Sứ mệnh của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên sinh thái có thể được nhìn nhận qua 5 vai trò cốt lõi:

- Vai trò giám sát: Khi truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trở thành tấm gương phản chiếu mức độ cam kết và hiệu quả thực thi của các chính sách tài chính khí hậu, tài chính xanh, tài chính chuyển đổi.

- Vai trò phản biện: Giúp bóc tách các thông tin sai lệch, phát hiện và ngăn chặn các hành vi “tô xanh” giả tạo.

- Vai trò kết nối: Khi truyền thông chính sách ngân hàng tạo ra cầu nối giữa nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân, đảm bảo các chính sách không bị tách rời khỏi thực tiễn.

- Vai trò giáo dục: Giúp phổ cập kiến thức về tài chính khí hậu, tài chính xanh, tài chính chuyển đổi, kinh tế tuần hoàn và tiêu dùng bền vững.

- Vai trò truyền cảm hứng: Khi truyền thông chính sách ngành Ngân hàng lan tỏa các mô hình tốt, thúc đẩy thay đổi hành vi xã hội theo hướng tích cực.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn môi trường như Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) hay ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị), truyền thông chính sách ngành Ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ doanh nghiệp thích nghi với các yêu cầu mới của chuỗi cung ứng quốc tế. Các bài phân tích chuyên sâu, phóng sự điều tra và nội dung đa phương tiện giúp doanh nghiệp nhận diện rủi ro, tìm kiếm cơ hội và điều chỉnh chiến lược phát triển. Qua đó, truyền thông chính sách ngành Ngân hàng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.

Để hoàn thành sứ mệnh, truyền thông chính sách ngành Ngân hàng cần được đặt trong một hệ sinh thái hỗ trợ đầy đủ, bao gồm môi trường pháp lý thuận lợi, nguồn lực tài chính tương xứng và chiến lược đào tạo chuyên sâu. Các cơ sở đào tạo cần cập nhật chương trình giảng dạy, tích hợp kiến thức về biến đổi khí hậu, công nghệ số và phân tích dữ liệu. Các cơ quan truyền thông chính sách ngành Ngân hàng cần xây dựng đội ngũ chuyên gia liên ngành, có khả năng khai thác và xử lý thông tin phức tạp trong bối cảnh mới.

Bản thân truyền thông chính sách ngành Ngân hàng cũng phải tự đổi mới để phù hợp với yêu cầu của kỷ nguyên số. Chuyển đổi sang mô hình hoạt động xanh, giảm phát thải trong quy trình sản xuất nội dung, tăng cường số hóa và ứng dụng công nghệ là những bước đi cần thiết để khẳng định vai trò dẫn dắt. Khi truyền thông chính sách ngành Ngân hàng thông tin về phát triển bền vững và thực hành phát triển bền vững, sức thuyết phục và ảnh hưởng xã hội sẽ được nâng cao đáng kể.

Truyền thông chính sách ngành Ngân hàng gắn với nhiệm vụ điều hành kinh tế và mở rộng sang các mục tiêu phát triển dài hạn của quốc gia. Kết hợp giữa quản trị kỳ vọng vĩ mô và dẫn dắt chuyển đổi xanh tạo nên một không gian truyền thông đa chiều, nơi báo chí, công nghệ và chính sách cùng hội tụ. Trong không gian đó, niềm tin xã hội trở thành tài sản quý giá nhất và truyền thông chính là công cụ để kiến tạo, bảo vệ và lan tỏa tài sản ấy trong suốt hành trình phát triển của đất nước.

Tài liệu tham khảo

1. Diamond, D. W., & Verrecchia, R. E. (1991), Disclosure, Liquidity, and the Cost of Capital. The Journal of Finance, 46(4), 1325-1359.

2. Friedman, Benjamin M. (1968), Factors affecting the level of interest rates. In Proceedings of the 1968 conference on savings and residential financing. Chicago: United States Savings and Loan League.

3. Stiglitz, J. E., & Weiss, A. (1992), Asymmetric Information in Credit Markets and Its Implications for Macro-Economics. Oxford Economic Papers, 44(4), 694-724. http://www.jstor.org/stable/2663385

4. Williamson, O. E. (1981), The Economics of Organization: The Transaction Cost Approach. American Journal of Sociology, 87(3), 548-577. http://www.jstor.org/stable/2778934

5. Williamson, O. E. (1987), The Economic Institutions of Capitalism: Firms, Markets, Relational Contracting. Free Press.

PGS., TS. Nguyễn Đình Thọ
Phó Viện trưởng Viện Chính sách, chiến lược nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Tin bài khác

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Tác động của bất định chính sách thương mại Hoa Kỳ đến hoạt động cho vay tại các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bất định chính sách thương mại của Hoa Kỳ không chỉ tác động đến hoạt động xuất nhập khẩu mà còn ảnh hưởng đáng kể đến tăng trưởng tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam, đặt ra yêu cầu tăng cường năng lực ứng phó trước các cú sốc từ môi trường kinh tế quốc tế và nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính - ngân hàng.
Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Giải pháp nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế Việt Nam thông qua củng cố an toàn tài chính vĩ mô

Bài viết phân tích thực trạng an toàn tài chính vĩ mô tại Việt Nam trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời đề xuất các giải pháp củng cố nền tảng tài chính, nâng cao năng lực chống chịu của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng bền vững.
Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Ứng phó của chính sách tiền tệ trước các cú sốc khí hậu: Kinh nghiệm một số quốc gia châu Á và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích phản ứng của chính sách tiền tệ (CSTT) trước các cú sốc khí hậu thông qua kinh nghiệm của Nhật Bản và Ấn Độ, qua đó làm rõ vai trò của ngân hàng trung ương (NHTW) trong duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời đề xuất một số hàm ý nhằm hoàn thiện khuôn khổ điều hành chính sách tiền tệ thích ứng với rủi ro khí hậu tại Việt Nam.
Xem thêm
Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Đổi mới hoạt động thanh tra ngân hàng dựa trên dữ liệu và công nghệ hiện đại

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, hiện đại hóa hoạt động thanh tra ngân hàng theo hướng ứng dụng dữ liệu và công nghệ hiện đại đã trở thành yêu cầu tất yếu nhằm nâng cao hiệu quả giám sát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Điều hành linh hoạt tỷ lệ an toàn hoạt động ngân hàng: Động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế khi áp dụng Thông tư số 25/2026/TT-NHNN

Bài viết này phân tích những điều chỉnh trong khuôn khổ điều tiết các tỷ lệ bảo đảm an toàn của hệ thống ngân hàng, qua đó đánh giá tác động đối với hoạt động của các tổ chức tín dụng, hiệu quả phân bổ nguồn lực tài chính và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Hoàn thiện khung pháp lý về quản trị rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số tại Trung tâm tài chính quốc tế ở Việt Nam

Sự phát triển của ngân hàng số và định hướng xây dựng Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Việt Nam đang đặt ra yêu cầu cấp thiết về hoàn thiện khung pháp lý quản trị rủi ro an ninh mạng. Trong môi trường tài chính số có tính kết nối cao, các rủi ro như tấn công mạng, rò rỉ dữ liệu tài chính, rủi ro từ điện toán đám mây, thiên kiến thuật toán hay gian lận Deepfake có thể ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định của hệ thống tài chính. Bài viết tập trung phân tích các rủi ro an ninh mạng trong ngân hàng số, đồng thời đánh giá khung pháp lý hiện hành của Việt Nam liên quan đến an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và quản trị công nghệ trong lĩnh vực ngân hàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy, mặc dù pháp luật Việt Nam đã bước đầu hình thành nền tảng pháp lý cho quản trị rủi ro an ninh mạng trong hoạt động ngân hàng số, nhưng vẫn cần tiếp tục hoàn thiện theo hướng tăng cường khả năng chống chịu hoạt động, nâng cao hiệu quả quản trị công nghệ và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính số trong bối cảnh vận hành IFC tại Việt Nam.
Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Định hình không gian phát triển mới gắn với vốn đầu tư nước ngoài theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW

Bài viết phân tích xu hướng dịch chuyển dòng vốn đầu tư quốc tế, thực trạng thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI) của Việt Nam và yêu cầu định hình không gian phát triển mới theo tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 08/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài trong bối cảnh thế giới đang trải qua quá trình tái cấu trúc mạnh mẽ dưới tác động của hậu quả đại dịch Covid-19, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững.
Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển thị trường nhà ở cho thuê: Ngân hàng luôn đồng hành vì giấc mơ an cư của người dân

Phát triển nhà ở cho thuê là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước. Thời gian qua, ngành Ngân hàng đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp để hỗ trợ cho người dân và doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà cho thuê cũng như thuê nhà ở. Tuy nhiên, bên cạnh những chính sách về vốn, lãi suất nhằm tạo điều kiện cho người dân, doanh nghiệp đối với phân khúc nhà ở cho thuê cần những giải pháp đồng bộ khác từ phía các bộ, ngành, chính quyền địa phương nhằm tăng nguồn cung đối với thị trường này.
Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho tài sản kỹ thuật số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh tài sản kỹ thuật số phát triển mạnh, việc xây dựng cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sau đây gọi là Cơ chế thử nghiệm) đang trở thành công cụ quan trọng giúp cân bằng giữa thúc đẩy đổi mới sáng tạo và bảo đảm an toàn, ổn định hệ thống tài chính.
Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Chuyển đổi hệ thống tài chính Trung Quốc: Từ tăng trưởng dựa vào ngân hàng sang phát triển dựa trên thị trường vốn và một số hàm ý chính sách

Trước yêu cầu chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên đổi mới sáng tạo và nâng cao năng suất, Trung Quốc đang đẩy mạnh cải cách cấu trúc hệ thống tài chính và hiện đại hóa điều hành chính sách tiền tệ, qua đó mang lại nhiều hàm ý quan trọng cho ngân hàng trung ương tại các nền kinh tế mới nổi, trong đó có Việt Nam.
Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương: Cuộc đua tăng trưởng và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Ngân hàng số đang tăng trưởng mạnh mẽ tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương (APAC), mở ra nhiều cơ hội cho Việt Nam trong thúc đẩy tài chính toàn diện và chuyển đổi số ngành Ngân hàng, đồng thời đặt ra yêu cầu hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường an ninh dữ liệu và phát triển hệ sinh thái tài chính số theo hướng bền vững.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy