Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Chính sách
Trong kỷ nguyên số và hội nhập sâu rộng, chính sách không chỉ dừng lại ở việc ban hành mà còn đòi hỏi được truyền tải một cách kịp thời, chính xác và hiệu quả tới thị trường và công chúng. Đối với ngành Ngân hàng - lĩnh vực nhạy cảm, có mức độ lan tỏa cao và tác động trực tiếp đến ổn định kinh tế vĩ mô, truyền thông chính sách ngày càng khẳng định vai trò chiến lược trong việc định hướng kỳ vọng, củng cố niềm tin và nâng cao hiệu lực thực thi chính sách.
aa

Trong bối cảnh môi trường thông tin đa chiều, tốc độ lan truyền nhanh và sự gia tăng của các rủi ro thông tin, truyền thông chính sách ngành Ngân hàng không chỉ là công cụ hỗ trợ mà đã trở thành một cấu phần quan trọng trong quản trị điều hành. Việc chủ động, chuyên nghiệp hóa và hiện đại hóa công tác truyền thông chính sách vì vậy là yêu cầu cấp thiết, góp phần nâng cao tính minh bạch, ổn định hệ thống tài chính - ngân hàng và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững trong kỷ nguyên mới.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Cơ sở lý thuyết về vai trò của truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT), ngân hàng

Trong cấu trúc vận hành của nền kinh tế hiện đại, truyền thông CSTT, ngân hàng đã vượt xa vai trò truyền tải thông tin đơn thuần để trở thành một cấu phần chiến lược trong điều hành vĩ mô, khơi thông tín dụng ngân hàng. Công cụ điều hành CSTT truyền thống của ngân hàng trung ương (NHTW) tập trung chủ yếu vào các công cụ định lượng như lãi suất, cung tiền hay dự trữ bắt buộc để điều tiết nền kinh tế. Ngày nay, truyền thông chính sách đã trở thành một “công cụ mềm” nhưng có sức mạnh lan tỏa sâu rộng, trực tiếp tác động đến kỳ vọng thị trường, hành vi đầu tư và niềm tin xã hội. Quá trình chuyển dịch phản ánh bước tiến quan trọng trong tư duy quản trị quốc gia, khi thông tin bất cân xứng và kỳ vọng lạm phát đòi hỏi truyền thông CSTT, ngân hàng là nguồn lực quan trọng trong điều tiết chính sách vĩ mô và khơi thông tín dụng ngân hàng.

Truyền thông CSTT của NHTW giúp neo giữ kỳ vọng lạm phát, là yếu tố then chốt định hình hành vi tiêu dùng và đầu tư, ổn định tâm lý thị trường. Truyền thông minh bạch giúp CSTT hiệu quả hơn, kiểm soát lạm phát thực tế và điều chỉnh lãi suất, tỉ giá phù hợp. NHTW truyền thông mục tiêu lạm phát và lộ trình lãi suất để định hướng tâm lý thị trường. Năng lực dự báo và sự độc lập trong việc ra quyết định là nền tảng để thông điệp truyền thông có uy tín, từ đó neo giữ kỳ vọng lạm phát hiệu quả. Truyền thông CSTT minh bạch giúp giảm thông tin bất cân xứng, ổn định kỳ vọng thị trường và tăng tính hiệu quả của các công cụ lãi suất, tín dụng. Khi NHTW truyền thông rõ ràng về xu hướng lãi suất, các ngân hàng thương mại dễ dàng điều chỉnh lãi suất đầu vào/đầu ra, giúp truyền dẫn chính sách qua kênh lãi suất hiệu quả hơn.

Truyền thông CSTT là "lá chắn" quan trọng của NHTW nhằm quản lý kỳ vọng lạm phát, đảm bảo ổn định giá cả và tăng trưởng kinh tế. Khi có những thông tin bất cân xứng (là tình trạng một bên trong giao dịch (thường là người bán) có nhiều thông tin hơn, hoặc biết rõ hơn bên kia (người mua) về hàng hóa, dịch vụ, dẫn đến việc ra quyết định sai lệch), làm trầm trọng rủi ro tín dụng và giảm hiệu quả truyền dẫn CSTT của NHTW (Williamson, 1987).

Nhận thức về vai trò chiến lược của truyền thông chính sách đã được thể chế hóa trong hoạt động chỉ đạo điều hành, với trọng tâm là các nguyên tắc minh bạch, nhất quán và lấy người dân làm trung tâm, từ đó từng bước định hình hệ sinh thái truyền thông, nơi thông tin được công bố, diễn giải, và định hướng một cách chủ động, có kiểm soát. Đặc biệt trong lĩnh vực ngân hàng, nơi niềm tin là tài sản cốt lõi, truyền thông chính sách đóng vai trò là cơ chế phòng ngừa rủi ro từ xa, giúp giảm thiểu thông tin bất đối xứng và ngăn chặn các cú sốc tâm lý có thể gây bất ổn hệ thống.

2. Truyền thông CSTT, ngân hàng trong kỷ nguyên mới

Những năm gần đây, trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam đang hướng tới mục tiêu tăng trưởng đột phá, truyền thông chính sách không còn là khâu hậu kiểm mà đã tham gia trực tiếp vào toàn bộ vòng đời của chính sách. Từ giai đoạn xây dựng, thử nghiệm đến triển khai và đánh giá, truyền thông trở thành kênh tương tác hai chiều giữa cơ quan quản lý và xã hội. Sự tham gia của báo chí, chuyên gia độc lập, tổ chức tín dụng và các nền tảng công nghệ số đã tạo nên một mạng lưới truyền thông đa tầng, giúp CSTT được “kiểm nghiệm” liên tục trong thực tiễn.

Trong bối cảnh chuyển đổi số, các công nghệ như trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn đang tái định hình hoàn toàn cách thức truyền thông chính sách. Thông tin không còn được phát đi một cách đại trà mà được cá nhân hóa theo từng nhóm đối tượng, từng khu vực và từng hành vi kinh tế, giúp nâng cao hiệu quả truyền thông và tăng khả năng tiếp cận của người dân, đặc biệt là các nhóm yếu thế. Truyền thông chính sách vì thế trở thành một công cụ bao trùm, góp phần thúc đẩy tài chính toàn diện và giảm khoảng cách phát triển.

Trong khung triết lý mới truyền thông chuyển từ “truyền đạt” sang “đồng kiến tạo”, CSTT không còn được xây dựng trong không gian khép kín mà được hình thành thông qua đối thoại, phản biện và thử nghiệm. Các diễn đàn, tọa đàm, hội thảo chuyên sâu trở thành nơi hội tụ trí tuệ tập thể, giúp chính sách phản ánh sát thực tiễn và có tính khả thi cao hơn. Báo chí, truyền thông không chỉ là kênh thông tin còn là chủ thể tham gia vào quá trình hoạch định, đóng vai trò cầu nối giữa nhà nước và xã hội.

Song song với đó, sự phát triển của truyền thông chính sách ngân hàng cũng gắn liền với yêu cầu nâng cao dân trí tài chính. Khi người dân hiểu rõ cơ chế vận hành của hệ thống tiền tệ, họ sẽ có khả năng đưa ra các quyết định tài chính hợp lý, từ đó góp phần ổn định thị trường. Các chương trình giáo dục tài chính theo hướng “giải trí hóa” đã chứng minh hiệu quả trong việc đưa các khái niệm phức tạp trở nên gần gũi, dễ hiểu và dễ áp dụng trong đời sống. Truyền thông CSTT không chỉ là một công cụ hỗ trợ mà đã trở thành một trụ cột của điều hành vĩ mô, vừa là phương tiện truyền tải, vừa là cơ chế phản hồi và là nền tảng kiến tạo niềm tin, yếu tố cốt lõi bảo đảm sự ổn định và phát triển bền vững của hệ thống tài chính.

3. Sứ mệnh của truyền thông CSTT, ngân hàng trong kỷ nguyên Net Zero

Giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra những yêu cầu chưa từng có đối với truyền thông CSTT, ngân hàng tại Việt Nam. Mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức hai con số đặt ra áp lực lớn trong cân bằng giữa mở rộng tín dụng và kiểm soát lạm phát, giữa thúc đẩy đầu tư và đảm bảo an toàn hệ thống. Truyền thông chính sách đóng vai trò trung tâm trong việc quản trị kỳ vọng thị trường, giúp định hướng hành vi của doanh nghiệp và nhà đầu tư theo đúng quỹ đạo phát triển.

Thách thức lớn nhất đến từ sự phân hóa của CSTT toàn cầu. Khi các nền kinh tế lớn điều chỉnh lãi suất theo chu kỳ riêng, Việt Nam buộc phải duy trì sự linh hoạt nhưng vẫn đảm bảo ổn định vĩ mô, đòi hỏi truyền thông phải liên tục phát đi những tín hiệu rõ ràng, nhất quán về định hướng điều hành, tránh gây hiểu nhầm hoặc tạo ra kỳ vọng sai lệch. Trong bối cảnh lượng tín dụng dự kiến tăng mạnh, truyền thông đúng bản chất của chính sách, hướng dòng vốn vào sản xuất, kiểm soát rủi ro đầu cơ, trở nên đặc biệt quan trọng.

Truyền thông chính sách giai đoạn 2026 - 2030 còn gắn chặt với các mục tiêu phát triển bền vững, đặc biệt là cam kết phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050. Trong kỷ nguyên Net Zero, truyền thông chính sách ngành Ngân hàng là lực lượng dẫn dắt, đóng vai trò không thể thay thế trong việc định hình nhận thức và thúc đẩy hành động của toàn xã hội. Truyền thông chính sách cung cấp thông tin và tham gia trực tiếp vào quá trình thực thi chính sách khí hậu, trở thành một phần của hệ sinh thái chuyển đổi xanh.

Sứ mệnh của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên sinh thái có thể được nhìn nhận qua 5 vai trò cốt lõi:

- Vai trò giám sát: Khi truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trở thành tấm gương phản chiếu mức độ cam kết và hiệu quả thực thi của các chính sách tài chính khí hậu, tài chính xanh, tài chính chuyển đổi.

- Vai trò phản biện: Giúp bóc tách các thông tin sai lệch, phát hiện và ngăn chặn các hành vi “tô xanh” giả tạo.

- Vai trò kết nối: Khi truyền thông chính sách ngân hàng tạo ra cầu nối giữa nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người dân, đảm bảo các chính sách không bị tách rời khỏi thực tiễn.

- Vai trò giáo dục: Giúp phổ cập kiến thức về tài chính khí hậu, tài chính xanh, tài chính chuyển đổi, kinh tế tuần hoàn và tiêu dùng bền vững.

- Vai trò truyền cảm hứng: Khi truyền thông chính sách ngành Ngân hàng lan tỏa các mô hình tốt, thúc đẩy thay đổi hành vi xã hội theo hướng tích cực.

Trong bối cảnh thương mại toàn cầu ngày càng siết chặt các tiêu chuẩn môi trường như Quy định chống phá rừng của Liên minh châu Âu (EUDR), Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) hay ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị), truyền thông chính sách ngành Ngân hàng đóng vai trò hỗ trợ doanh nghiệp thích nghi với các yêu cầu mới của chuỗi cung ứng quốc tế. Các bài phân tích chuyên sâu, phóng sự điều tra và nội dung đa phương tiện giúp doanh nghiệp nhận diện rủi ro, tìm kiếm cơ hội và điều chỉnh chiến lược phát triển. Qua đó, truyền thông chính sách ngành Ngân hàng góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập sâu rộng.

Để hoàn thành sứ mệnh, truyền thông chính sách ngành Ngân hàng cần được đặt trong một hệ sinh thái hỗ trợ đầy đủ, bao gồm môi trường pháp lý thuận lợi, nguồn lực tài chính tương xứng và chiến lược đào tạo chuyên sâu. Các cơ sở đào tạo cần cập nhật chương trình giảng dạy, tích hợp kiến thức về biến đổi khí hậu, công nghệ số và phân tích dữ liệu. Các cơ quan truyền thông chính sách ngành Ngân hàng cần xây dựng đội ngũ chuyên gia liên ngành, có khả năng khai thác và xử lý thông tin phức tạp trong bối cảnh mới.

Bản thân truyền thông chính sách ngành Ngân hàng cũng phải tự đổi mới để phù hợp với yêu cầu của kỷ nguyên số. Chuyển đổi sang mô hình hoạt động xanh, giảm phát thải trong quy trình sản xuất nội dung, tăng cường số hóa và ứng dụng công nghệ là những bước đi cần thiết để khẳng định vai trò dẫn dắt. Khi truyền thông chính sách ngành Ngân hàng thông tin về phát triển bền vững và thực hành phát triển bền vững, sức thuyết phục và ảnh hưởng xã hội sẽ được nâng cao đáng kể.

Truyền thông chính sách ngành Ngân hàng gắn với nhiệm vụ điều hành kinh tế và mở rộng sang các mục tiêu phát triển dài hạn của quốc gia. Kết hợp giữa quản trị kỳ vọng vĩ mô và dẫn dắt chuyển đổi xanh tạo nên một không gian truyền thông đa chiều, nơi báo chí, công nghệ và chính sách cùng hội tụ. Trong không gian đó, niềm tin xã hội trở thành tài sản quý giá nhất và truyền thông chính là công cụ để kiến tạo, bảo vệ và lan tỏa tài sản ấy trong suốt hành trình phát triển của đất nước.

Tài liệu tham khảo

1. Diamond, D. W., & Verrecchia, R. E. (1991), Disclosure, Liquidity, and the Cost of Capital. The Journal of Finance, 46(4), 1325-1359.

2. Friedman, Benjamin M. (1968), Factors affecting the level of interest rates. In Proceedings of the 1968 conference on savings and residential financing. Chicago: United States Savings and Loan League.

3. Stiglitz, J. E., & Weiss, A. (1992), Asymmetric Information in Credit Markets and Its Implications for Macro-Economics. Oxford Economic Papers, 44(4), 694-724. http://www.jstor.org/stable/2663385

4. Williamson, O. E. (1981), The Economics of Organization: The Transaction Cost Approach. American Journal of Sociology, 87(3), 548-577. http://www.jstor.org/stable/2778934

5. Williamson, O. E. (1987), The Economic Institutions of Capitalism: Firms, Markets, Relational Contracting. Free Press.

PGS., TS. Nguyễn Đình Thọ
Phó Viện trưởng Viện Chính sách, chiến lược nông nghiệp và môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường

Tin bài khác

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Bài viết phân tích xu hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 trên các phương diện quy mô, cơ cấu và động lực tăng trưởng, đồng thời đánh giá những thách thức, cơ hội và đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút FDI trong giai đoạn tới.
Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng gia tăng, xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và sức mạnh hàng hải, mà phải được đặt trên nền tảng quản trị biển hiện đại, nâng cao năng lực khoa học - công nghệ cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Xem thêm
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại