Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng
Tóm tắt: Hợp đồng thế chấp bất động sản là một trong những loại hợp đồng phổ biến nhất trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng và thuộc nhóm hợp đồng bắt buộc phải công chứng theo quy định pháp luật. Với việc Luật Công chứng (Luật số 46/2024/QH15) ghi nhận công chứng điện tử, câu hỏi đặt ra là liệu hợp đồng thế chấp bất động sản có thể được công chứng điện tử hay không và giá trị pháp lý của văn bản công chứng điện tử này trong quan hệ tín dụng ngân hàng như thế nào. Bài viết phân tích các quy định pháp luật hiện hành về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản, đánh giá tính khả thi của việc áp dụng trong thực tiễn hoạt động ngân hàng, từ đó chỉ ra những bất cập và đề xuất các kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính khả thi, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm là bất động sản.
Từ khóa: Công chứng điện tử, hợp đồng thế chấp, bất động sản, tổ chức tín dụng, tính khả thi pháp luật
LAW ON ELECTRONIC NOTARIZATION FOR REAL ESTATE MORTGAGE CONTRACTS
AT CREDIT INSTITUTIONS: ENSURING FEASIBILITY IN PRACTICAL APPLICATION
Abstract: A real estate mortgage contract is one of the most common types of agreements in the lending activities of credit institutions and falls within the category of contracts that are legally required to be notarized. With the Notarization Law 2024 recognizing electronic notarization, the question arises whether real estate mortgage contracts can be electronically notarized and what the legal validity of such electronic notarized documents is in banking credit relationships. This article analyzes the current legal provisions on electronic notarization for real estate mortgage contracts, evaluates the feasibility of application in practical banking activities, thereby identifying shortcomings and proposing legal improvement recommendations to ensure feasibility, contributing to promoting digital transformation in the field of credit secured by real estate.
Keywords: Electronic notarization, mortgage contract, real estate, credit institutions, legal feasibility
![]() |
| Ảnh minh họa (Nguồn: Internet) |
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia nói chung và chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng diễn ra mạnh mẽ, hoạt động ngân hàng đang trải qua những thay đổi căn bản về phương thức giao dịch và quản trị rủi ro, nhất là với hợp đồng cấp tín dụng được thế chấp bằng bất động sản. Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), tính đến năm 2025, dư nợ tín dụng có tài sản bảo đảm là bất động sản chiếm khoảng 60 - 70% tổng dư nợ cho vay của hệ thống ngân hàng Việt Nam1. Điều này cho thấy hợp đồng thế chấp bất động sản có vai trò đặc biệt quan trọng trong hoạt động cấp tín dụng, đồng thời việc công chứng các hợp đồng này là yêu cầu bắt buộc theo quy định tại khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai năm 2024.
Sự ra đời của Luật Công chứng năm 2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, với việc ghi nhận chính thức chế định công chứng điện tử tại các Điều 62 đến Điều 65, đã mở ra khả năng số hóa quy trình công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản. Đây là bước tiến quan trọng trong tiến trình hiện đại hóa hoạt động công chứng, phù hợp với xu hướng chuyển đổi số trong lĩnh vực ngân hàng trên toàn cầu. Theo nghiên cứu của Hiệp hội Ngân hàng Thế chấp (Mortgage Bankers Association - MBA) tại Mỹ, công chứng trực tuyến có thể giảm thời gian hoàn tất các giao dịch thế chấp bất động sản lên đến 30%2.
Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu khung pháp lý hiện hành có đủ điều kiện để triển khai công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản trong thực tiễn hoạt động ngân hàng hay không và những rào cản nào cần được tháo gỡ để bảo đảm tính khả thi của pháp luật. Bài viết sẽ phân tích có hệ thống các quy định pháp luật hiện hành, đánh giá những thuận lợi và thách thức trong việc áp dụng công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng.
1. Khung pháp lý về công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản
Hợp đồng thế chấp bất động sản là một trong những giao dịch bảo đảm phổ biến nhất trong hoạt động cấp tín dụng của các tổ chức tín dụng. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất thuộc nhóm giao dịch bắt buộc phải công chứng. Cụ thể, điểm a khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai năm 2024 quy định: "Hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, góp vốn bằng quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản này"3.
Bên cạnh đó, Luật Nhà ở năm 2023 cũng có quy định tương tự đối với giao dịch thế chấp nhà ở. Theo Điều 122 Luật Nhà ở năm 2023, hợp đồng thế chấp nhà ở phải được công chứng hoặc chứng thực, trừ trường hợp một bên hoặc các bên tham gia giao dịch là tổ chức có chức năng kinh doanh bất động sản. Như vậy, đối với cá nhân, hộ gia đình thế chấp nhà ở, quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng, việc công chứng hợp đồng thế chấp là yêu cầu bắt buộc để hợp đồng có hiệu lực pháp lý.
Về thẩm quyền địa hạt công chứng, Điều 44 Luật Công chứng năm 2024 quy định công chứng viên chỉ được công chứng về giao dịch bất động sản trong phạm vi tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương nơi tổ chức hành nghề công chứng đặt trụ sở. Quy định này nhằm bảo đảm công chứng viên có khả năng thẩm tra, xác minh tình trạng pháp lý của bất động sản tại địa phương. Đặc biệt, Điều 56 Luật Công chứng năm 2024 còn quy định về công chứng hợp đồng thế chấp tài sản theo hướng: Khi thế chấp tài sản lần đầu, các bên có quyền lựa chọn bất kỳ tổ chức hành nghề công chứng nào; tuy nhiên, khi thế chấp bổ sung, thay đổi nội dung hoặc giải chấp thì phải công chứng tại tổ chức hành nghề công chứng đã công chứng lần đầu4. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo đảm tính liên tục, nhất quán của hồ sơ công chứng và quản lý rủi ro pháp lý trong quan hệ tín dụng.
Ngoài ra, Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 của Chính phủ về đăng ký biện pháp bảo đảm cũng đặt ra yêu cầu văn bản công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản phải đáp ứng các điều kiện để thực hiện đăng ký biện pháp bảo đảm tại Văn phòng đăng ký đất đai. Việc đăng ký biện pháp bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong việc xác lập thứ tự ưu tiên thanh toán khi xử lý tài sản bảo đảm, do đó văn bản công chứng hợp đồng thế chấp phải có đầy đủ các thông tin cần thiết theo quy định.
2. Quy định về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản
Luật Công chứng năm 2024 đánh dấu bước đột phá trong lịch sử lập pháp Việt Nam khi lần đầu tiên ghi nhận chính thức chế định công chứng điện tử. Theo Điều 62 Luật Công chứng năm 2024, công chứng điện tử được định nghĩa là "việc công chứng được thực hiện bằng phương tiện điện tử để tạo lập văn bản công chứng điện tử, tuân thủ nguyên tắc quy định tại Điều 5 của Luật này"5. Quy định này tạo cơ sở pháp lý cho việc số hóa hoạt động công chứng, bao gồm cả công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản.
Điều 64 Luật Công chứng năm 2024 khẳng định giá trị pháp lý của văn bản công chứng điện tử: "Văn bản công chứng điện tử có hiệu lực kể từ thời điểm được ký bằng chữ ký số của công chứng viên và chữ ký số của tổ chức hành nghề công chứng. Văn bản công chứng điện tử có giá trị pháp lý theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 6 của Luật này"6. Điều này có nghĩa văn bản công chứng điện tử có hiệu lực thi hành đối với các bên liên quan, là cơ sở để thực hiện các thủ tục hành chính liên quan đến giao dịch đã được công chứng, đồng thời có giá trị chứng cứ và những tình tiết, sự kiện trong văn bản không phải chứng minh, trừ trường hợp bị Tòa án tuyên bố vô hiệu.
Về hình thức thực hiện, Điều 65 Luật Công chứng năm 2024 quy định hai hình thức công chứng điện tử: Công chứng điện tử trực tiếp và công chứng điện tử trực tuyến. Công chứng điện tử trực tiếp là việc người yêu cầu công chứng giao kết giao dịch trước sự chứng kiến trực tiếp của công chứng viên, sau đó công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận giao dịch bằng chữ ký số để tạo ra văn bản công chứng điện tử. Công chứng điện tử trực tuyến là việc các bên tham gia giao dịch không có mặt tại cùng một địa điểm và giao kết giao dịch qua phương thức trực tuyến trước sự chứng kiến trực tiếp của công chứng viên7.
Nghị định số 104/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng đã quy định cụ thể về phạm vi giao dịch được áp dụng. Theo Điều 48 Nghị định này, công chứng điện tử trực tiếp được áp dụng đối với tất cả các giao dịch dân sự, trong khi công chứng điện tử trực tuyến được áp dụng với các giao dịch dân sự, trừ di chúc và giao dịch dân sự là hành vi pháp lý đơn phương khác8. Như vậy, hợp đồng thế chấp bất động sản - với tư cách là một giao dịch dân sự song phương thuộc phạm vi có thể được công chứng điện tử theo cả hai hình thức trực tiếp và trực tuyến.
Về điều kiện cung cấp dịch vụ công chứng điện tử, Điều 63 Luật Công chứng năm 2024 và Điều 49, 50 Nghị định số 104/2025/NĐ-CP quy định công chứng viên được cung cấp dịch vụ công chứng điện tử khi có tài khoản để thực hiện công chứng điện tử, có chữ ký số và sử dụng dịch vụ cấp dấu thời gian theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử. Tổ chức hành nghề công chứng phải có nền tảng công chứng điện tử đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật về bảo mật, lưu trữ và tương tác video. Đặc biệt, người tham gia giao dịch công chứng điện tử phải có tài khoản định danh điện tử mức độ 2 trở lên, chữ ký số hợp lệ và thiết bị phù hợp9.
3. Đánh giá tính khả thi trong thực tiễn hoạt động ngân hàng
Việc triển khai công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại các tổ chức tín dụng mang lại nhiều lợi ích tiềm năng, song cũng đặt ra không ít thách thức cần được đánh giá một cách toàn diện.
Về lợi ích, công chứng điện tử có thể giúp rút ngắn đáng kể thời gian hoàn tất các giao dịch thế chấp bất động sản. Theo nghiên cứu của MBA tại Mỹ, việc áp dụng công chứng trực tuyến từ xa (Remote Online Notarization - RON) đã giúp giảm thời gian hoàn tất các giao dịch thế chấp bất động sản lên đến 30% và tiết kiệm chi phí trung bình 444 USD mỗi khoản vay cho các ngân hàng10. Đối với Việt Nam, việc số hóa quy trình công chứng sẽ giúp giảm thiểu thời gian đi lại, chờ đợi của khách hàng tại tổ chức hành nghề công chứng, đồng thời tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân ở vùng sâu, vùng xa.
Bên cạnh đó, văn bản công chứng điện tử có thể được tích hợp vào quy trình cấp tín dụng số của ngân hàng, tạo điều kiện cho việc xây dựng hệ sinh thái số hóa toàn diện từ khâu tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, phê duyệt đến giải ngân. Theo báo cáo của Ngân hàng Thế giới về chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính, việc số hóa các quy trình liên quan đến tài sản bảo đảm có thể giúp các ngân hàng tiết kiệm 20 - 25% chi phí vận hành11.
Tuy nhiên, thực tiễn triển khai công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức.
Thứ nhất, về hạ tầng kỹ thuật, theo Tổng Thư ký Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam, hiện chỉ có khoảng 15% tổ chức hành nghề công chứng trên cả nước có hạ tầng kỹ thuật đủ điều kiện cung cấp dịch vụ công chứng điện tử12. Nhiều văn phòng công chứng, đặc biệt ở các tỉnh, thành phố nhỏ, chưa có nền tảng công chứng điện tử đáp ứng yêu cầu bảo mật cấp độ 3 theo quy định.
Thứ hai, về phía các tổ chức tín dụng, hệ thống công nghệ thông tin và quy trình nghiệp vụ chưa được điều chỉnh để tiếp nhận và xử lý văn bản công chứng điện tử. Hiện tại, hầu hết các ngân hàng vẫn yêu cầu bản giấy có dấu đỏ của tổ chức hành nghề công chứng để lưu hồ sơ tín dụng và thực hiện đăng ký biện pháp bảo đảm. Nghiên cứu của Hoàng Văn Hữu và Nguyễn Duy Thái (2024) chỉ ra rằng, nhiều ngân hàng vẫn chưa sẵn sàng chấp nhận văn bản công chứng điện tử do lo ngại về rủi ro pháp lý và khả năng xác minh tính xác thực của văn bản13.
Thứ ba, về kết nối dữ liệu, hiện chưa có cơ chế liên thông giữa cơ sở dữ liệu công chứng với hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm và cơ sở dữ liệu đất đai. Điều này khiến việc xác minh tình trạng pháp lý của bất động sản và đăng ký biện pháp bảo đảm sau công chứng điện tử trở nên phức tạp. Theo một nghiên cứu của Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kỳ (USAID) về số hóa hoạt động công chứng, việc thiếu kết nối dữ liệu giữa các hệ thống là một trong những rào cản lớn nhất đối với việc triển khai công chứng điện tử đối với các giao dịch bất động sản14.
Thứ tư, về niềm tin pháp lý, nhiều công chứng viên, cán bộ ngân hàng và người dân vẫn chưa tin tưởng vào giá trị pháp lý của văn bản công chứng điện tử. Thực tế, chưa có tiền lệ pháp lý về việc Tòa án công nhận giá trị chứng cứ của văn bản công chứng điện tử trong các tranh chấp liên quan đến hợp đồng thế chấp bất động sản. Điều này tạo ra tâm lý e ngại, cả từ phía người cung cấp dịch vụ công chứng lẫn phía các bên tham gia giao dịch.
4. Nhận diện một số bất cập và kiến nghị hoàn thiện
Qua phân tích thực trạng pháp luật và đánh giá tính khả thi, có thể nhận diện một số bất cập cần được khắc phục để bảo đảm tính khả thi của pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản:
Thứ nhất, về khung pháp lý, hiện chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể của NHNN về việc các tổ chức tín dụng chấp nhận văn bản công chứng điện tử trong hồ sơ tín dụng và đăng ký biện pháp bảo đảm. Điều này tạo ra sự không chắc chắn về mặt pháp lý cho các ngân hàng khi triển khai. Do đó, NHNN cần sớm ban hành Thông tư hướng dẫn về việc chấp nhận văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng, trong đó quy định rõ các yêu cầu về kỹ thuật, bảo mật và quy trình xác minh tính xác thực của văn bản công chứng điện tử.
Thứ hai, về kết nối dữ liệu, chưa có quy định cụ thể về cơ chế liên thông giữa nền tảng công chứng điện tử với hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm và cơ sở dữ liệu đất đai. Do vậy, Bộ Tư pháp cần phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường cần xây dựng cơ chế kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa cơ sở dữ liệu công chứng, hệ thống đăng ký biện pháp bảo đảm và cơ sở dữ liệu đất đai. Qua đó, văn bản công chứng điện tử có thể được tự động chuyển đến Văn phòng đăng ký đất đai để thực hiện đăng ký biện pháp bảo đảm, giảm thiểu thủ tục hành chính cho các bên liên quan.
Thứ ba, về quy trình chuyển đổi văn bản, mặc dù khoản 4 Điều 64 Luật Công chứng năm 2024 đã quy định về việc chuyển đổi hình thức giữa văn bản công chứng điện tử và văn bản công chứng giấy, nhưng chưa có hướng dẫn cụ thể về quy trình, thẩm quyền và trách nhiệm trong việc chuyển đổi. Do đó, Bộ Tư pháp cần phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết quy trình chuyển đổi văn bản công chứng điện tử sang giấy và ngược lại, trong đó quy định rõ các trường hợp cần chuyển đổi, thủ tục thực hiện và giá trị pháp lý của văn bản sau chuyển đổi.
Thứ tư, về hạ tầng kỹ thuật, nhiều tổ chức hành nghề công chứng chưa có đủ điều kiện về cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân lực để triển khai công chứng điện tử. Do đó, Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ về tài chính và kỹ thuật cho các tổ chức hành nghề công chứng trong việc đầu tư nền tảng công chứng điện tử, đặc biệt ở các địa phương có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn. Đồng thời, cần xem xét việc cho phép các tổ chức hành nghề công chứng thuê hoặc sử dụng chung nền tảng công chứng điện tử của các nhà cung cấp dịch vụ đã được Bộ Tư pháp phê duyệt.
Thứ năm, về nâng cao năng lực và nhận thức, cần tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn cho công chứng viên về kỹ năng công nghệ, bảo mật thông tin và nghiệp vụ công chứng điện tử. Do đó, Hiệp hội Công chứng viên Việt Nam phối hợp với Học viện Tư pháp xây dựng và triển khai chương trình đào tạo bắt buộc về công chứng điện tử cho tất cả công chứng viên. Bên cạnh đó, cần tổ chức các chương trình tuyên truyền, phổ biến pháp luật để nâng cao nhận thức của người dân, doanh nghiệp và cán bộ ngân hàng về giá trị pháp lý và lợi ích của công chứng điện tử.
Thứ sáu, cần xem xét triển khai thí điểm công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại một số địa phương có hạ tầng kỹ thuật phát triển như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng. Qua đó, rút kinh nghiệm và hoàn thiện quy trình trước khi triển khai trên phạm vi toàn quốc.
Việc ghi nhận công chứng điện tử trong Luật Công chứng năm 2024 là bước tiến quan trọng trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia, mở ra khả năng hiện đại hóa hoạt động công chứng nói chung và công chứng hợp đồng thế chấp bất động sản nói riêng. Tuy nhiên, để bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý nhà nước trong việc ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết, xây dựng cơ chế kết nối dữ liệu liên ngành và hỗ trợ phát triển hạ tầng kỹ thuật.
Đối với các tổ chức tín dụng, công chứng điện tử hợp đồng thế chấp bất động sản sẽ góp phần thúc đẩy quá trình số hóa hoạt động cấp tín dụng, nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu hóa chi phí vận hành. Tuy nhiên, để đạt được những lợi ích này, các ngân hàng cần chủ động điều chỉnh hệ thống công nghệ thông tin, quy trình nghiệp vụ và đào tạo nhân sự để sẵn sàng tiếp nhận và xử lý văn bản công chứng điện tử.
Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao năng lực thực thi như đã đề xuất, công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản sẽ có đủ điều kiện để trở thành một công cụ pháp lý hiệu quả, góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong lĩnh vực tín dụng có tài sản bảo đảm là bất động sản tại Việt Nam.
1 NHNN, Báo cáo thường niên năm 2024, trang 45.
2 MBA (2024), Digital Mortgage Closing Report, Washington D.C., page 12.
3 Khoản 3 Điều 27 Luật Đất đai số 31/2024/QH15 ngày 18/01/2024.
4 Điều 56 Luật Công chứng số 46/2024/QH15 ngày 26/11/2024.
5 Khoản 1 Điều 62 Luật Công chứng số 46/2024/QH15 ngày 26/11/2024.
6 Khoản 2, 3 Điều 64 Luật Công chứng số 46/2024/QH15 ngày 26/11/2024.
7 Khoản 1 Điều 65 Luật Công chứng số 46/2024/QH15 ngày 26/11/2024.
8 Điều 48 Nghị định số 104/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng.
9 Điều 49, 50 Nghị định số 104/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng.
10 Firstam (2025), First American Title Insurance Company, eClosing and eSigning Real Estate Transactions, https://www.firstam.com/title/eclosing/
11 World Bank (2023), Global Financial Inclusion and Consumer Protection Survey 2023, Washington D.C., page 78.
12 Đào Duy An (2025), Chuyển đổi số hoạt động công chứng, hướng tới triển khai công chứng điện tử: Thực tiễn triển khai, đề xuất giải pháp, Tham luận tại Hội thảo "Vai trò của chữ ký số và dịch vụ tin cậy đối với lĩnh vực công chứng điện tử tại Việt Nam", Bộ Tư pháp.
13 Hoàng Văn Hữu và Nguyễn Duy Thái (2024), Công chứng điện tử tại Việt Nam - Khó khăn, vướng mắc và đề xuất hoàn thiện, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số 10 (397), trang 96-109.
14 USAID (2024), Better Regulation Delivery Office, Comparative study of digitalization of the notary, Justice for All Program, United States Agency for International Development.
Tài liệu tham khảo
1. Luật Nhà ở số 27/2023/QH15 ngày 27/11/2023.
2. Luật Giao dịch điện tử số 20/2023/QH15 ngày 22/6/2023.
3. Nghị định số 104/2025/NĐ-CP ngày 15/5/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Công chứng.
4. Nghị định số 99/2022/NĐ-CP ngày 30/11/2022 về đăng ký biện pháp bảo đảm.
5. Nghị định số 69/2024/NĐ-CP ngày 25/6/2024 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Giao dịch điện tử.
6. NHNN, Báo cáo thường niên năm 2024, 2025.
7. Phạm Hữu Tâm và Lưu Minh Sang (2024), Công chứng điện tử trong pháp luật và thực tiễn của một số quốc gia và những góp ý cho Dự thảo Luật Công chứng (sửa đổi), Pháp Luật và Phát Triển.
8. MBA (2024), Digital Mortgage Closing Report 2024, Washington D.C.
Tin bài khác
Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam
Thông tư số 60/2025/TT-NHNN và thủ tục chấp thuận góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng: Từ kỷ luật an toàn đến chi phí tuân thủ
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế
Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính
Pháp luật về công chứng điện tử đối với hợp đồng thế chấp bất động sản tại tổ chức tín dụng: Bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng
Hoàn thiện khung pháp lý cho Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam trong bối cảnh phát triển kinh tế bền vững
Pháp luật về thúc đẩy ESG trong lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam: Thực trạng và kiến nghị hoàn thiện
Nghiên cứu ảnh hưởng của an ninh năng lượng, biến động giá xăng dầu tới lạm phát ở Việt Nam
Thông tư số 60/2025/TT-NHNN và thủ tục chấp thuận góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng: Từ kỷ luật an toàn đến chi phí tuân thủ
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách
