Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Chính sách
Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
aa

Tóm tắt: Kinh tế Việt Nam năm 2025 tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) ấn tượng, đạt mức 8,02%, đồng thời các chỉ tiêu quan trọng khác như lạm phát, thu ngân sách, kim ngạch xuất khẩu cũng đạt hoặc vượt so với kế hoạch. Điều này cho thấy, Việt Nam hoàn toàn có khả năng đưa mức tăng trưởng tiềm năng trung bình trên 10%/năm và có thể cao hơn nếu tăng năng suất lao động. Bài viết phân tích những rào cản tăng trưởng năng suất lao động trong nền kinh tế Việt Nam thời gian gần đây, từ đó, đề xuất hàm ý chính sách cho hai thập niên tới để đạt mục tiêu trở thành quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045.

Từ khóa: Bẫy thu nhập trung bình; tăng trưởng năng suất lao động; thu nhập cao.

IMPROVING LABOR PRODUCTIVITY TO OVERCOME THE MIDDLE-INCOME TRAP
FROM THE VIETNAMESE ECONOMIC PRACTICE

Abstract: Vietnam's economy is projected to achieve impressive GDP growth of 8,02% in 2025, while other key indicators such as inflation, budget revenue, and export turnover are also expected to meet or exceed targets. This indicates that Vietnam has the potential to achieve an average growth rate of over 10% per year, and possibly even higher if labor productivity increases. This article analyzes the barriers to labor productivity growth in Vietnam's economy in recent years; and from there, proposes policy implications for the next two decades to achieve the goal of becoming a high-income country by 2045.

Keywords: Middle-income trap; labor productivity growth; high income.

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Đặt vấn đề

Theo thuật ngữ kinh tế và Ngân hàng Thế giới (WB), bẫy thu nhập trung bình là khái niệm chỉ tình trạng một quốc gia mặc dù đã thoát nghèo, gia nhập vào nhóm nước có thu nhập trung bình, nhưng mất nhiều thập kỷ vẫn không trở thành quốc gia phát triển. Theo tiêu chí của WB, một quốc gia được coi là thu nhập thấp nếu tổng thu nhập quốc dân (GNI) bình quân đầu người/năm đạt thấp hơn hoặc bằng 1.025 USD, nước có thu nhập trung bình thấp nếu GNI bình quân dao động từ 1.026 USD - 4.495 USD, thu nhập trung bình cao nếu GNI bình quân rơi vào khoảng 4.496 USD - 13.935 USD và thu nhập cao nếu GNI trên đầu người từ 13.925 USD trở lên. Trong khi đó, GDP bình quân đầu người của Việt Nam năm 2025 là 5.026 USD, như thế Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình cao theo tiêu chí của WB.

Để hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, có thu nhập cao, Việt Nam cần có chiến lược tăng năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Theo số liệu của Cục Thống kê, năng suất lao động của toàn nền kinh tế năm 2025 theo giá hiện hành đạt 245 triệu đồng/lao động (tương đương 9.809 USD/lao động, tăng 626 USD so với năm 2024); theo giá so sánh, năng suất lao động tăng 6,83% do trình độ của người lao động được cải thiện (tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ năm 2025 đạt 29,2%, cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với năm 2024). Trong tổng số lao động có việc làm năm 2025 là 52,4 triệu người, có gần 14 triệu trong khu vực nông, lâm, thủy sản, chủ yếu là nông nghiệp và chỉ có 12 triệu lao động trong công nghiệp chế biến, chế tạo.

Về cơ cấu doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân (trong lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ) hiện đóng góp gần 40% GDP, song chủ yếu vẫn là các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa; bên cạnh đó, khoảng 5 triệu hộ kinh doanh cá thể tạo nên khu vực phi chính thức đáng kể của nền kinh tế (Cục Thống kê, 2025). Điều này cho thấy phần lớn lực lượng lao động trong khu vực tư nhân cần được đào tạo, đào tạo lại theo hướng nâng cao kỹ năng và chất lượng nhằm thích ứng với sự chuyển dịch cơ cấu doanh nghiệp.

Trong nhiều thập niên qua, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa vào tích lũy vốn và lao động hơn là cải thiện hiệu quả. Tuy nhiên, trong bối cảnh dân số đang già hóa nhanh, lực lượng lao động sẽ dần thu hẹp, lợi thế “dân số vàng” với nguồn lao động chi phí thấp cũng suy giảm. Trước những thay đổi đó, mô hình tăng trưởng truyền thống không còn phù hợp. Để duy trì đà phát triển, Việt Nam cần chuyển sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, đặc biệt là nâng cao năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) - thước đo phản ánh hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nền kinh tế.

Để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cho thời gian tới, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026. Nghị quyết đã đặt ra yêu cầu đối với các cấp, các ngành và địa phương phải tập trung cao độ trong công tác chỉ đạo, điều hành, quyết tâm thực hiện thắng lợi mục tiêu tăng trưởng GDP cả nước từ 10% trở lên, gắn với giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đây không chỉ là mục tiêu về con số, mà còn là thước đo cho bản lĩnh điều hành, năng lực tổ chức thực hiện và khát vọng phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

Tại Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV của Đảng về “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số”, Tổng Bí thư Tô Lâm tiếp tục khẳng định: “Mục tiêu tăng trưởng kinh tế “hai con số” là đòi hỏi khách quan từ yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới và khát vọng vươn lên của cả dân tộc. Phải kiên trì thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, bền vững, thực chất”. Kết luận Hội nghị đã thể hiện quyết tâm đạt tốc độ tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên, đồng thời đến năm 2030, Việt Nam gia nhập nhóm 30 nền kinh tế có quy mô hàng đầu thế giới.

Trong bối cảnh đó, có thể khẳng định rằng, nâng cao năng suất lao động là động lực quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, đưa Việt Nam sớm vượt qua bẫy thu nhập trung bình. Tuy nhiên, do những bất định từ tình hình thế giới, trong khi nền kinh tế Việt Nam đang trong quá trình chuyển đổi, xuất phát điểm thấp, độ mở lớn nên đã ảnh hưởng không nhỏ đến tăng trưởng năng suất của nền kinh tế Việt Nam.

2. Những rào cản trong tăng trưởng năng suất của nền kinh tế Việt Nam

Trên thế giới có nhiều nền kinh tế mới nổi với thu nhập trung bình và trung bình cao trong vòng 100 năm nay nhưng không thể bứt phá để thành nền kinh tế phát triển. Từ kinh nghiệm của các nước đi trước cho thấy, để bứt phá vươn lên trở thành nước phát triển, có thu nhập cao Việt Nam cần có chiến lược tăng trưởng năng suất lao động thông qua đầu tư, đào tạo và đổi mới. Mục tiêu của chiến lược này là tăng cường số nhân công được đào tạo và trang bị đầy đủ máy móc thiết bị để hoạt động sản xuất theo quy trình công nghệ hiện đại, trong môi trường kinh doanh lành mạnh và hữu hiệu. Nếu không có bước đột phá về hiệu quả, Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình.

Một trở ngại lớn đối với tăng trưởng năng suất là cấu trúc “hai khu vực” của nền kinh tế. Việt Nam hội nhập thành công vào các chuỗi giá trị toàn cầu, nhưng thành công này tập trung chủ yếu trong khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Các doanh nghiệp FDI hoạt động như những ốc đảo công nghệ cao, xuất khẩu nhiều tỉ USD mỗi năm. Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp trong nước bị tách rời, chỉ hoạt động trong thị trường nội địa với năng suất chưa cao và khả năng tiếp cận vốn cũng như công nghệ bị hạn chế. Sự đứt gãy này thể hiện rõ qua chỉ số giá trị gia tăng trong nước, chỉ khoảng 52% giá trị xuất khẩu của Việt Nam được tạo ra trong nước, thấp hơn nhiều so với mức khoảng 90% ở các nền kinh tế phát triển (Đinh Trường Hinh, 2026). Điều này cho thấy nhiều ngành xuất khẩu công nghệ cao về bản chất vẫn chỉ là lắp ráp linh kiện nhập khẩu, với mức lan tỏa công nghệ hạn chế.

Đáng lo ngại hơn, các doanh nghiệp trong nước đang phải đối mặt với nhiều rào cản mang tính hệ thống như: Khó tiếp cận tín dụng do ngân hàng ưu tiên doanh nghiệp nhà nước; thiếu kỹ thuật, chuyên môn và hiểu biết về thị trường quốc tế và đặc biệt là tình trạng lệch pha kỹ năng nghiêm trọng. Khi tiền lương tăng, Việt Nam dần mất lợi thế chi phí thấp, trong khi lực lượng lao động lại chưa được trang bị kỹ năng cao cấp tương xứng… Nếu không nâng cấp kỹ năng của lực lượng lao động, mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045 sẽ rất khó đạt được.

Từ những phân tích trên cho thấy, để vượt qua bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam phải đạt mức tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên. Trong bối cảnh dịch chuyển chuỗi giá trị toàn cầu, bùng nổ công nghệ số và áp lực chuyển đổi xanh, nếu không duy trì tốc độ tăng trưởng đủ cao, Việt Nam có nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Vì vậy, đặt mục tiêu tăng trưởng 2 con số, không chỉ thể hiện khát vọng, mà còn phản ánh yêu cầu khách quan của giai đoạn phát triển mới - giai đoạn đòi hỏi sự bứt phá về chất lượng và năng lực cạnh tranh. Việc nâng cao năng suất lao động là yêu cầu then chốt nhằm thúc đẩy tăng trưởng GDP và tạo bứt phá để vượt qua bẫy thu nhập trung bình của Việt Nam trong thời gian tới1.

Thế nhưng, điều đáng lo ngại là TFP của Việt Nam bị trì trệ trong thời gian dài. Mức tăng trưởng TFP của Việt Nam toàn là âm từ năm 1990 cho đến nay, chỉ trừ giai đoạn 2010 - 2019 (tăng 2% mỗi năm)2. Sự đóng góp ít của yếu tố TFP cho thấy, tăng trưởng của Việt Nam thời gian qua vẫn được thực hiện theo mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, chậm chuyển sang phát triển theo chiều sâu, thiếu bền vững, sự tăng trưởng cũng nghiêng về yếu tố vốn hơn là yếu tố lao động. Điều đó cho thấy, nền kinh tế tăng trưởng vì làm việc nhiều hơn và chi tiêu nhiều hơn. Nếu Việt Nam có thể nâng mức tăng trưởng TFP từ âm lên 0% - bằng với mức trung bình của các nước đang phát triển thì mức tăng trưởng GDP có thể tăng thêm 1,4 điểm phần trăm một năm.

Mặt khác, hiệu quả đầu tư của Việt Nam vẫn còn thấp thể hiện qua chỉ số sử dụng vốn (ICOR) vẫn tiếp tục tăng và ở mức cao. Chỉ số ICOR giai đoạn 2010 - 2019 đạt 5,9; đến giai đoạn 2020 - 2021, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, chỉ số ICOR tăng vọt lên mức 12,47 và 15,513. Tuy nhiên, trong năm 2022, khi dịch bệnh đã được kiểm soát thì chỉ số này về mức 5,92, tương đương với giai đoạn trước đại dịch. Khi so sánh với các quốc gia khác đã trải qua giai đoạn phát triển tương đồng như Việt Nam thì hệ số ICOR của Việt Nam ở mức tương đối cao.

Trong thời gian gần đây, Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong việc nâng cao năng suất lao động, nhờ đó năng suất lao động đã có những cải thiện đáng kể cả về giá trị và tốc độ. Tốc độ tăng năng suất lao động năm 2025 đạt 6,83%, do trình độ của người lao động được cải thiện, tăng trưởng kinh tế ở mức khá, quy mô nền kinh tế được mở rộng, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất cho tăng trưởng kinh tế của Việt Nam hiện nay là năng suất lao động của Việt Nam còn thấp so với các nước trong khu vực châu Á, chỉ bằng 11,2% của Singapore, 27% Hàn Quốc, 28,6% Nhật Bản, 36,2% Malaysia và khoảng 65% của Thái Lan4

Để thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, Việt Nam cần tăng trưởng năng suất lao động liên tục với tốc độ 7,5 - 8,5%/năm. Thế nhưng, vẫn còn khoảng cách rất lớn về năng suất lao động giữa các ngành kinh tế ở Việt Nam. Năng suất lao động của nhóm ngành công nghiệp có năng suất cao so với nông nghiệp và dịch vụ nhưng mức độ công nghiệp hóa của Việt Nam còn rất thấp. Trong giai đoạn dân số vàng, tỉ trọng của công nghiệp trong GDP của các nước đã phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc lên tới trên 30% nhưng Việt Nam sắp hết giai đoạn dân số vàng mà tỉ trọng đó chỉ mới hơn 20%5.

Quá trình công nghiệp hóa của Việt Nam cho thấy, đến nay công nghiệp chủ yếu là gia công, lắp ráp nên năng suất thấp. Trong những năm qua, Việt Nam không ngừng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cải thiện môi trường đầu tư, thu hút vốn đầu tư nước ngoài, đẩy mạnh cải cách hành chính… Tuy nhiên, thực tế vận hành của nền kinh tế Việt Nam cũng bộc lộ một số hạn chế như việc can thiệp vào cơ chế giá thị trường; khu vực doanh nghiệp nhà nước vẫn còn lớn; hệ thống văn bản pháp luật chồng chéo, tồn tại nhiều bất cập, một bộ phận cán bộ còn đùn đẩy, sợ trách nhiệm trong giải quyết công việc, tình trạng tham nhũng, lãng phí trong đầu tư công vẫn còn xảy ra… Điều này gây ra những trở ngại rất lớn cho tăng trưởng kinh tế.

3. Một số hàm ý chính sách

Một là, đẩy mạnh cải cách thể chế, nhất là hoàn thiện kinh tế thị trường để các nguồn lực như vốn, đất đai dịch chuyển đến những lĩnh vực có năng suất cao, khuyến khích đổi mới sáng tạo, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lên các ngành có giá trị gia tăng cao. Đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn, tiếp tục chuyển dịch và phát triển mô hình kinh tế tuần hoàn, ứng dụng công nghệ cao… Đối với khu vực công nghiệp, cần tập trung đào tạo kỹ sư cao cấp, tập trung vào các ngành công nghệ lõi, công nghệ nguồn. Riêng khu vực dịch vụ thì phát triển các dịch vụ liên ngành có hàm lượng giá trị cao, chất lượng cao, ứng dụng thành tựu công nghệ 4.0.

Hai là, Nhà nước cần hỗ trợ sự phát triển và chính thức hóa khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa và cá nhân, hộ kinh doanh. Do một phần lớn lao động Việt Nam hiện vẫn làm việc trong khu vực phi chính thức hoặc tự làm. Cho nên, việc chuyển dịch nhân công từ khu vực phi chính thức sang các lĩnh vực công nghệ và dịch vụ hiện đại sẽ tăng năng suất lao động một cách đáng kể, góp phần tăng thu nhập cho nhân công mà không gây áp lực lạm phát hay làm mất khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong việc thu hút FDI. Theo đó, Chính phủ có thể hỗ trợ bằng cách phát triển các khu công nghiệp dành riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa nội địa, cung cấp hạ tầng chi phí thấp và hỗ trợ kỹ thuật, giúp doanh nghiệp tập trung vào đổi mới công nghệ thay vì thủ tục hành chính.

Ba là, Chính phủ cần thiết lập bộ công cụ hướng dẫn và phương pháp để nâng cao năng suất lao động, khuyến khích sự tham gia của toàn dân, doanh nghiệp và người lao động. Bên cạnh đó, Nhà nước cần thúc đẩy quá trình nâng cao trình độ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo; ưu tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho phát triển khoa học, công nghệ, chú trọng lĩnh vực khoa học, công nghệ có tính ứng dụng cao; xây dựng cơ chế, chính sách cho việc phát triển khoa học, công nghệ; xây dựng cơ sở dữ liệu liên quan đến năng suất lao động, dựa trên dữ liệu được thu thập, sự biến động của năng suất để phân tích và công bố công khai minh bạch trên các phương tiện thông tin, góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia.

Bốn là, cần kết hợp chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng về giáo dục, đào tạo và các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vốn nhà nước và doanh nghiệp vốn nước ngoài, để thực hiện các chương trình đào tạo có chất lượng nhằm cung cấp nhân lực cần thiết cho nỗ lực công nghiệp hóa. Theo đó, tiếp tục đổi mới giáo dục và đào tạo theo hướng kỹ năng liên ngành, đổi mới phương pháp giảng dạy, gắn kiến thức với thực tiễn thông qua hợp tác với doanh nghiệp. Các trường đại học và trường nghề phải nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng yêu cầu của môi trường kinh tế số và chuỗi giá trị toàn cầu. Ngoài ra, nhà nước và doanh nghiệp nên hợp tác lập ra một số cơ sở đào tạo nguồn nhân lực theo chương trình nhiều thực hành hơn và sau khi tốt nghiệp có ngay việc làm ở doanh nghiệp. Đào tạo nguồn nhân lực theo hướng trên sẽ đẩy mạnh công nghiệp hóa và phát triển dịch vụ theo hướng chuyển dịch cơ cấu lên cao, tăng năng suất toàn xã hội.

1 Trần Quốc Hùng (2026), Việt Nam có thể trở thành nước thu nhập cao năm 2045, Tạp chí Kinh tế Sài Gòn, trang 25.

2 Hinh T. Dinh, Hoai Trong Nguyen (2025), Vietnam's Economic Leap: Productivity, Innovation, and the Road to High - Income Status, Palgrave Macmillan.

3 Tô Trung Thành (2021), Năng suất lao động của Việt Nam trong bối cảnh kinh tế số, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, trang 47.

4 Nguyễn Bích Lâm (2026), Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao: Bài toán năng lực và phát triển bền vững, Báo Thanh niên, ngày 21/01/2026, trang 5.

5 Trần Văn Thọ (2026), Nguồn nhân lực chất lượng cao cho giai đoạn phát triển mới, báo Tuổi trẻ, ngày 05/02/2026, trang 12.

Tài liệu tham khảo

1. Cục Thống kê (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý IV và năm 2025, truy cập từ trang https://www.nso.gov.vn/du-lieu-va-so-lieu-thong-ke/2026/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025/

2. Cục Thống kê (2026), Báo cáo tình hình kinh tế - xã hội quý I năm 2026, https://www.nso.gov.vn/bai-top/2026/04/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-i-nam-2026/

3. Đinh Trường Hinh (2026), Việt Nam có thể trở thành nước thu nhập cao năm 2045, Tạp chí Kinh tế Sài Gòn, https://thesaigontimes.vn/nga-re-kinh-te-cua-viet-nam-trong-mot-the-gioi-phan-manh/

4. Hinh T. Dinh, Hoai Trong Nguyen (2025), Vietnam's Economic Leap: Productivity, Innovation, and the Road to High - Income Status, Palgrave Macmillan.

5. Kết luận Hội nghị Trung ương 2 khóa XIV của Đảng về “Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng 2 con số”.

6. Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 08/01/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026.

7. Nguyễn Bích Lâm (2026), Hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng cao: Bài toán năng lực và phát triển bền vững, Báo Thanh niên, ngày 21/01/2026.

8. Tô Trung Thành (2021), Năng suất lao động của Việt Nam trong bối cảnh kinh tế số, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, trang 47.

9. Trần Quốc Hùng (2026), Việt Nam có thể trở thành nước thu nhập cao năm 2045, Tạp chí Kinh tế Sài Gòn.

10. Trần Văn Thọ (2026), Nguồn nhân lực chất lượng cao cho giai đoạn phát triển mới, Báo Tuổi trẻ, ngày 05/02/2026.

ThS. Phạm Ngọc Hòa
Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Đồng Tháp

Tin bài khác

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Thu hút FDI vào Việt Nam 6 tháng đầu năm 2026 và triển vọng

Bài viết phân tích xu hướng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2026 trên các phương diện quy mô, cơ cấu và động lực tăng trưởng, đồng thời đánh giá những thách thức, cơ hội và đề xuất một số định hướng nhằm nâng cao chất lượng, hiệu quả thu hút FDI trong giai đoạn tới.
Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Xây dựng quốc gia biển mạnh gắn với năng lực quản trị biển hiện đại, phát triển kinh tế biển xanh và giữ vững chủ quyền quốc gia

Trong bối cảnh chuyển đổi xanh và yêu cầu phát triển bền vững ngày càng gia tăng, xây dựng quốc gia biển mạnh không chỉ dựa vào khai thác tài nguyên và sức mạnh hàng hải, mà phải được đặt trên nền tảng quản trị biển hiện đại, nâng cao năng lực khoa học - công nghệ cũng như bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.
Xem thêm
Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Tăng cường liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong xuất khẩu dược liệu tại Việt Nam

Bài viết phân tích mô hình liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp và hợp tác xã trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu dược liệu, qua đó làm rõ cách thức đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế, nâng cao giá trị chuỗi dược liệu và đề xuất giải pháp thực thi hiệu quả cơ chế tín dụng ưu đãi, cũng như cơ chế phối hợp, quản trị nhằm phát triển bền vững ngành dược liệu Việt Nam.
Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Hoàn thiện cơ chế tài chính xanh, tín dụng xanh cho bảo tồn và phát triển bền vững Di sản thế giới Tràng An: Cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường

Bài viết phân tích vai trò của tài chính xanh và tín dụng xanh trong huy động nguồn lực cho bảo tồn Di sản thế giới Tràng An, đồng thời đề xuất cách tiếp cận dựa trên sức chịu tải môi trường nhằm nâng cao hiệu quả phát triển bền vững.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc ở Việt Nam: Cơ hội, thách thức và hàm ý chính sách

Phát triển kinh tế bạc đang trở thành xu hướng tất yếu trong bối cảnh già hóa dân số diễn ra nhanh chóng, không chỉ góp phần bảo đảm an sinh xã hội mà còn tạo động lực tăng trưởng mới cho Việt Nam trong thời gian tới.
Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Chính sách vì dân - Kết nối niềm tin, bồi đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc

Bảo hiểm tiền gửi là trụ cột quan trọng củng cố niềm tin của người dân vào hệ thống tài chính, góp phần huy động nguồn lực và bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng. Khi người dân yên tâm gửi gắm đồng tiền tích lũy, nguồn vốn trong xã hội được khơi thông, tạo thêm động lực cho đầu tư, sản xuất, kinh doanh và phát triển bền vững.
Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Thúc đẩy chuyển đổi chuẩn báo cáo tài chính quốc tế tại Việt Nam: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế, đánh giá thực trạng triển khai Chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) tại Việt Nam và đề xuất các giải pháp thúc đẩy quá trình hội tụ IFRS, qua đó góp phần nâng cao tính minh bạch của thông tin tài chính, cải thiện quản trị doanh nghiệp và tăng cường khả năng hội nhập thị trường vốn quốc tế.
Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Dịch vụ tài chính hiện đại: Khung lý luận, kinh nghiệm quốc tế và định hướng phát triển tại Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ, dịch vụ tài chính hiện đại đang trở thành động lực quan trọng thúc đẩy đổi mới hệ thống tài chính. Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, phân tích kinh nghiệm quốc tế và đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hệ sinh thái dịch vụ tài chính hiện đại tại Việt Nam.
Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các Trung tâm tài chính quốc tế: Phân tích vĩ mô và hàm ý cho Việt Nam

Bài viết phân tích cơ chế tác động của chuyển đổi số ngân hàng đến năng lực cạnh tranh của các trung tâm tài chính quốc tế (IFC), sử dụng phương pháp phân tích so sánh định tính (QCA) trên một số trường hợp tại châu Á - Thái Bình Dương là Singapore, Hồng Kông, Tokyo, Thượng Hải, Seoul và Sydney. Khung phân tích nhận diện ba yếu tố cốt lõi: Hạ tầng và năng suất hệ thống; đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái cộng sinh; thể chế và khung pháp lý thông minh. Kết quả cho thấy chuyển đổi số có lợi suất biên giảm dần, vai trò điều tiết quyết định thuộc về khung pháp lý thông minh tích tụ không gian địa lý được tái định nghĩa theo mật độ dữ liệu, nhân lực số và năng lực xuất khẩu tiêu chuẩn công nghệ. Từ phân tích kinh nghiệm của các IFC trên, bài viết đưa ra các bài học và hàm ý chính sách cho Việt Nam.
So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

So sánh các quy định của Hoa Kỳ và Liên minh châu Âu đối với stablecoin neo tiền pháp định: Một số kinh nghiệm cho Việt Nam

Sự phát triển nhanh chóng của stablecoin neo tiền pháp định đang đặt ra những yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước và khuôn khổ pháp lý. Thông qua phân tích và so sánh kinh nghiệm quốc tế, bài viết làm rõ các vấn đề pháp lý cốt lõi, đồng thời đề xuất định hướng hoàn thiện pháp luật về stablecoin tại Việt Nam.
Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Kinh nghiệm quốc tế về tự do hóa cán cân tài chính và bài học cho các nền kinh tế đang phát triển

Tự do hóa cán cân tài chính vừa tạo động lực thúc đẩy phát triển, vừa tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi một lộ trình phù hợp; trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm quốc tế, bài viết phân tích các điều kiện cốt lõi để bảo đảm quá trình này diễn ra an toàn, hiệu quả và bền vững.

Thông tư số 40/2026/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân

Thông tư số 34/2026/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư ra nước ngoài

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại