Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững
Tóm tắt: Bài viết phân tích tiến trình hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam trong 75 năm (1951 - 2026), gắn với các bước chuyển lớn của nền kinh tế. Từ mô hình ngân hàng một cấp phục vụ kháng chiến và cơ chế kế hoạch hóa tập trung, hệ thống ngân hàng đã chuyển đổi căn bản trong thời kỳ Đổi mới với việc thiết lập mô hình hai cấp và điều hành theo tín hiệu thị trường. Chính sách tiền tệ đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát siêu lạm phát cuối thập niên 1980, ứng phó các cú sốc bên ngoài, ổn định kinh tế vĩ mô, tái cơ cấu hệ thống và xử lý nợ xấu. Trong bối cảnh mới, chính sách tiền tệ tiếp tục thể hiện tính linh hoạt khi hỗ trợ phục hồi kinh tế sau đại dịch Covid-19, bảo đảm an toàn hệ thống tài chính. Trên cơ sở đó, bài viết khẳng định vai trò trung tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN), đồng thời chỉ ra định hướng phát triển ngành Ngân hàng theo hướng số hóa, xanh hóa, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững.
Từ khóa: Chính sách tiền tệ, hệ thống ngân hàng, ổn định kinh tế vĩ mô, tăng trưởng kinh tế.
VIETNAM’S MONETARY POLICY OVER 75 YEARS:
FROM MACROECONOMIC STABILITY TO FOSTERING SUSTAINABLE GROWTH
Abstract: The article analyzes the formation and development of Vietnam’s monetary policy over 75 years (1951 - 2026), in connection with major transitions of the economy. From a mono-tier banking model serving the resistance war and a centrally planned mechanism, the banking system underwent a fundamental transformation during the Renovation period with the establishment of a two-tier model and market-based operations. Monetary policy played a crucial role in curbing hyperinflation in the late 1980s, responding to external shocks, maintaining macroeconomic stability, restructuring the system, and resolving non-performing loans. In the new context, monetary policy has continued to demonstrate flexibility in supporting economic recovery after the Covid-19 pandemic while ensuring the safety of the financial system. On that basis, the article affirms the central role of the State Bank of Vietnam, while also outlining development orientations for the banking sector toward digitalization and greening, thereby contributing to rapid and sustainable economic growth.
Keywords: Monetary policy, banking system, macroeconomic stability, economic growth.
1. Giai đoạn hình thành: Xác lập chủ quyền tiền tệ trong chiến tranh (1951 - 1975)
Ngày 06/5/1951 đánh dấu sự ra đời của Ngân hàng Quốc gia Việt Nam theo Sắc lệnh số 15/SL do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành, đặt nền móng cho chủ quyền tiền tệ độc lập của quốc gia trong điều kiện chiến tranh kéo dài. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam được thành lập trong điều kiện nền kinh tế nghèo nàn, nguồn lực khan hiếm, không gian lưu thông bị chia cắt, đòi hỏi tư duy tiền tệ mang tính huy động tổng lực phục vụ mục tiêu kháng chiến và kiến quốc. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam giữ vai trò trung tâm trong phát hành tiền, quản lý ngân khố và điều phối tài chính quốc gia, bảo đảm duy trì niềm tin vào đồng tiền cách mạng trong vùng giải phóng, đồng thời từng bước loại bỏ ảnh hưởng tiền tệ của chính quyền thực dân.
Trong giai đoạn 1951 - 1975, chính sách tiền tệ gắn chặt với yêu cầu bảo vệ an ninh kinh tế và ổn định đời sống dân cư. Hoạt động phát hành tiền được tổ chức chặt chẽ nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu kháng chiến, kiểm soát lạm phát trong điều kiện cung hàng hóa hạn chế. Ngân hàng thực hiện chức năng quản lý ngân sách nhà nước, bảo đảm nguồn lực tài chính cho quốc phòng, sản xuất nông nghiệp và lưu thông hàng hóa thiết yếu. Chính sách tiền tệ được sử dụng như công cụ đấu tranh kinh tế, góp phần ổn định giá cả, hạn chế đầu cơ, duy trì trật tự lưu thông tiền tệ trong hoàn cảnh chiến tranh kéo dài (Vũ Xuân Thanh, 2024).
Mô hình tổ chức ngân hàng mang đặc trưng của hệ thống ngân hàng một cấp, trong đó chức năng quản lý tiền tệ và chức năng cấp tín dụng cùng tồn tại trong một thiết chế thống nhất. Cách thức tổ chức phù hợp với yêu cầu tập trung hóa nguồn lực tài chính, cho phép Nhà nước kiểm soát chặt chẽ dòng tiền phục vụ mục tiêu chiến lược. Kinh nghiệm quản lý tiền tệ thời chiến đã hình thành nền tảng thể chế ban đầu cho sự phát triển của ngân hàng trung ương sau thống nhất đất nước, tạo tiền đề cải cách sâu rộng trong giai đoạn đổi mới về sau.
Sau năm 1954, hệ thống ngân hàng tại miền Bắc vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung nhằm phục vụ mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư duy chi phối chính sách tiền tệ giai đoạn 1955 - 1975 dựa trên quan điểm coi tiền tệ là công cụ thừa hành kế hoạch hiện vật do Nhà nước xác lập. Các chỉ tiêu sản xuất như than, thép, lương thực giữ vai trò trung tâm trong phân bổ nguồn lực, trong khi tiền tệ được sử dụng chủ yếu để ghi chép hạch toán và thanh toán nội bộ. Ngân hàng Quốc gia Việt Nam trở thành thiết chế tập trung quản lý dòng tiền của khu vực kinh tế quốc doanh, bảo đảm thực hiện đầy đủ các mệnh lệnh kế hoạch đã được phê duyệt ở cấp trung ương.
Hoạt động tín dụng mang tính cấp phát vốn theo chỉ tiêu hành chính. Doanh nghiệp quốc doanh tiếp cận vốn ngân hàng thông qua kế hoạch được giao, không gắn với đánh giá khả năng hoàn trả hay hiệu quả sử dụng vốn. Lãi suất được ấn định ở mức thấp mang tính hình thức, không phản ánh chi phí vốn hay biến động giá cả. Cơ chế giá vốn bao cấp tạo điều kiện cho tích trữ vật tư, kéo dài chu kỳ sản xuất, làm suy giảm động lực nâng cao năng suất lao động trong khu vực sản xuất nhà nước. Ngân hàng thực hiện chức năng quản lý ngân quỹ và kiểm soát thanh toán, thay cho vai trò trung gian tài chính theo nghĩa thị trường hiện đại.
Dù chịu ràng buộc chặt chẽ của cơ chế kế hoạch, hệ thống ngân hàng đã thể hiện khả năng thích ứng linh hoạt trước yêu cầu của thời chiến. Các thiết chế tài chính đặc thù như Quỹ Ngoại tệ đặc biệt (B29), Ban Tài chính đặc biệt Trung ương Cục miền Nam (N2683) được tổ chức nhằm bảo đảm dòng ngoại tệ chi viện cho chiến trường miền Nam thông qua các kênh thanh toán bí mật. Những hoạt động này phản ánh năng lực tổ chức và tinh thần sáng tạo của đội ngũ cán bộ ngân hàng trong điều kiện phong tỏa kéo dài. Mô hình tiền tệ bao cấp giúp tập trung nguồn lực cho mục tiêu thống nhất đất nước năm 1975, song khi chuyển sang yêu cầu phát triển kinh tế thời bình, các hạn chế về phân bổ vốn, kỷ luật tài chính và kiểm soát lạm phát dần bộc lộ, tạo áp lực điều chỉnh tư duy quản lý tiền tệ trong các giai đoạn tiếp theo của lịch sử ngành Ngân hàng Việt Nam (Vũ Xuân Thanh, 2024).
2. Khủng hoảng mô hình kế hoạch hóa và áp lực đổi mới (1976 - 1985)
Sau năm 1975, yêu cầu thống nhất tiền tệ trở thành nhiệm vụ trọng tâm nhằm khôi phục trật tự tài chính quốc gia sau chiến tranh. Quá trình phát hành đồng tiền chung hoàn tất năm 1978 đã khẳng định chủ quyền tài chính thống nhất trên phạm vi cả nước. Việc mở rộng mô hình ngân hàng một cấp sang khu vực miền Nam đi kèm cơ chế bao cấp và kế hoạch hóa tập trung đã tạo ra những biến dạng lớn trong vận hành tiền tệ. Khu vực kinh tế từng quen với tín hiệu giá và giao dịch thị trường phải thích ứng với phương thức phân bổ nguồn lực thông qua mệnh lệnh hành chính, dẫn đến đứt gãy động lực sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Giai đoạn 1976 - 1985, ngân hàng tiếp tục cấp vốn theo chỉ tiêu kế hoạch, không gắn với khả năng hoàn trả hay hiệu quả sử dụng vốn. Phát hành tiền trở thành công cụ chủ yếu để bù đắp thâm hụt ngân sách, chiếm tỉ trọng lớn trong tổng nguồn tài trợ chi tiêu nhà nước. Cách thức này làm suy yếu vai trò kiểm soát tiền tệ của ngân hàng trung ương, đồng thời thúc đẩy mở rộng cung tiền trong điều kiện nguồn cung hàng hóa tăng chậm. Quan hệ giá cả bị bóp méo kéo dài, làm tích tụ áp lực lạm phát trong nền kinh tế quốc dân.
Cơ chế giá - lương - tiền duy trì bao cấp qua giá đã nén lạm phát đến ngưỡng nguy hiểm. Cuộc điều chỉnh giá - lương - tiền năm 1985 được triển khai với mục tiêu tái lập cân đối tiền - hàng, song việc thiếu chuẩn bị về nguồn cung và sai lệch kỹ thuật tiền tệ đã gây xáo trộn nghiêm trọng. Lạm phát năm 1986 đạt mức 774,7%, đánh dấu giai đoạn khủng hoảng sâu sắc của mô hình kế hoạch hóa tập trung. Khủng hoảng lạm phát đã tạo áp lực buộc tư duy kinh tế thay đổi theo hướng thừa nhận vai trò của quy luật tiền tệ và quan hệ cung - cầu. Những tổn thất kinh tế - xã hội giai đoạn này trở thành tiền đề trực tiếp cho quyết định đổi mới tại Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, mở ra quá trình cải cách căn bản hệ thống ngân hàng và cơ chế điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam (Vũ Xuân Thanh, 2024).
Giai đoạn này cho thấy rõ giới hạn của cơ chế tiền tệ mang tính hành chính, đồng thời tạo áp lực buộc phải thay đổi tư duy điều hành - trở thành tiền đề trực tiếp cho công cuộc Đổi mới.
3. Đổi mới và thiết lập hệ thống ngân hàng hai cấp (1986 - 1996)
Đại hội Đảng lần thứ VI năm 1986 đánh dấu bước chuyển căn bản trong tư duy phát triển kinh tế tại Việt Nam, từ mô hình kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước. Đối với lĩnh vực ngân hàng, yêu cầu cấp thiết đặt ra là tái cấu trúc toàn diện phương thức tổ chức nhằm khắc phục tình trạng lẫn lộn giữa chức năng quản lý tiền tệ và hoạt động cấp tín dụng. Trước Đổi mới, NHNN vừa phát hành tiền vừa cho vay trực tiếp theo chỉ tiêu kế hoạch, dẫn tới mất kiểm soát cung tiền và tích tụ lạm phát kéo dài (Soo-Nam Oh, 1998).
Nghị định số 53-HĐBT ngày 26/3/1988 của Hội đồng Bộ trưởng về tổ chức bộ máy NHNN đã tạo ra bước ngoặt lịch sử khi chính thức thiết lập mô hình ngân hàng hai cấp. NHNN được xác định vai trò ngân hàng trung ương, tập trung vào điều hành chính sách tiền tệ, quản lý tín dụng, thanh toán, ngoại hối và phát hành tiền. Hoạt động kinh doanh tiền tệ được chuyển giao cho các ngân hàng chuyên doanh, hình thành trên cơ sở tổ chức lại bộ máy cũ, bao gồm: Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (nay là Ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP) Ngoại thương Việt Nam - Vietcombank); Ngân hàng phát triển nông nghiệp Việt Nam (nay là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam - Agribank); Ngân hàng công - thương Việt Nam (nay là NHTMCP Công thương Việt Nam - VietinBank), Ngân hàng đầu tư và xây dựng Việt Nam (nay là NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - BIDV). Sự tách bạch chức năng quản lý tiền tệ và hoạt động cấp tín dụng đã đặt nền móng cho kỷ luật tiền tệ và nguyên tắc hạch toán kinh tế trong hệ thống ngân hàng thương mại (Vũ Xuân Thanh, 2024).
Sau cải cách tổ chức, thách thức lớn nhất là xử lý siêu lạm phát. Năm 1989, NHNN áp dụng chính sách lãi suất thực dương thông qua các quyết định điều chỉnh lãi suất tiền gửi và cho vay, bảo đảm giá trị thực của đồng tiền. Biện pháp này đã nhanh chóng đảo chiều kỳ vọng xã hội, khôi phục vai trò tích lũy của đồng Việt Nam và tạo điều kiện thu hút nguồn vốn nhàn rỗi vào hệ thống ngân hàng. Lạm phát giảm mạnh từ mức ba chữ số xuống hai chữ số trong thời gian ngắn, mở đường cho ổn định kinh tế vĩ mô đầu thập niên 1990 (IMF, 1996).
Khung pháp lý tiếp tục được hoàn thiện với hai Pháp lệnh về ngân hàng (Pháp lệnh NHNN và Pháp lệnh về Ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính) được Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 23/5/1990, chính thức hóa mô hình hai cấp và cho phép hình thành ngân hàng cổ phần. Đến năm 1993, việc nối lại quan hệ tín dụng với các tổ chức tài chính quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã tạo điều kiện tiếp cận nguồn vốn ODA và hỗ trợ kỹ thuật, thúc đẩy hiện đại hóa công nghệ ngân hàng và nâng cao năng lực điều hành chính sách tiền tệ trong giai đoạn đầu hội nhập (IMF, 1996; Soo-Nam Oh, 1998).
4. Quá trình tự do hóa thận trọng và hình thành công cụ điều hành hiện đại (1997 - 2006)
Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 xuất hiện đúng thời điểm Việt Nam đẩy mạnh mở cửa kinh tế và mở rộng quan hệ thương mại quốc tế. Cú sốc khu vực gây suy giảm cầu xuất khẩu, làm chậm dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và gia tăng áp lực lên cán cân thanh toán. Do tài khoản vốn chưa tự do hóa toàn diện, hệ thống tài chính tránh được làn sóng rút vốn quy mô lớn, song ổn định kinh tế vĩ mô vẫn đối diện nhiều thách thức. NHNN lựa chọn phản ứng điều hành linh hoạt thông qua điều chỉnh cơ chế tỉ giá nhằm giảm tác động lan truyền từ khu vực, thể hiện cách tiếp cận thận trọng đối với tự do hóa tài chính (IMF, 1998). Chính sách tỉ giá giai đoạn 1997 - 1998 thể hiện rõ chuyển dịch tư duy điều hành. Biên độ tỉ giá được nới rộng theo từng bước, từ mức ±1% lên ±5% rồi ±10%, kết hợp hai lần điều chỉnh giảm giá danh nghĩa tiền đồng trong năm 1998. Cách tiếp cận này hỗ trợ năng lực cạnh tranh hàng xuất khẩu, đồng thời duy trì ổn định tương đối thị trường ngoại hối. Kinh nghiệm từ giai đoạn này đã góp phần định hình cơ chế tỉ giá thả nổi có quản lý, tạo nền tảng cho hội nhập tài chính sâu hơn trong các năm sau (Soo-Nam Oh, 1998).
Công tác hoàn thiện thể chế lĩnh vực ngân hàng tiếp tục được đẩy mạnh thông qua Luật NHNN và Luật Các tổ chức tín dụng được Quốc hội thông qua ngày 12/12/1997, có hiệu lực từ ngày 01/10/1998, xác lập rõ vị trí pháp lý của NHNN và các tổ chức tín dụng, nâng cấp khuôn khổ quản lý từ cấp pháp lệnh lên cấp luật, là tiền đề quan trọng cho chuyển đổi công cụ điều hành chính sách tiền tệ theo hướng dựa vào tín hiệu thị trường, giảm dần biện pháp hành chính trực tiếp.
Sự ra đời của nghiệp vụ thị trường mở vào tháng 7/2000 theo Quyết định số 340/1999/QĐ-NHNN14 ngày 30/9/1999 của Thống đốc NHNN phê duyệt Đề án triển khai nghiệp vụ thị trường mở đã đánh dấu bước tiến đáng kể trong điều hành thanh khoản hệ thống. NHNN bắt đầu mua, bán giấy tờ có giá ngắn hạn để điều tiết cung tiền, thay cho kiểm soát hạn mức tín dụng. Quy mô giao dịch tăng nhanh, phản ánh vai trò ngày càng lớn của công cụ gián tiếp trong kiểm soát tiền tệ. Song song đó, quá trình tự do hóa lãi suất được triển khai theo lộ trình rõ ràng trong giai đoạn 2000 - 2005, từng bước nâng cao hiệu quả phân bổ vốn theo tín hiệu thị trường và củng cố nền tảng ổn định tiền tệ dài hạn (IMF, 2006).
5. Hội nhập sâu rộng và yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô (2007 - 2011)
Việc Việt Nam ký Nghị định thư gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ngày 11/7/2006 và chính thức trở thành thành viên của WTO từ ngày 11/01/2007 đã mở ra một giai đoạn hội nhập sâu rộng với kinh tế toàn cầu. Quá trình này đi kèm với sự gia tăng nhanh chóng của dòng vốn đầu tư gián tiếp, tạo ra những tác động đa chiều đối với điều hành chính sách tiền tệ và tỉ giá. Trước áp lực lên giá của đồng Việt Nam, NHNN đã phải mua vào một lượng ngoại tệ nhằm ổn định thị trường, kéo theo tăng nhanh khối lượng cung tiền.
Trong bối cảnh các công cụ trung hòa tiền tệ chưa phát huy đầy đủ và hiệu quả, dòng tiền dư thừa đã dịch chuyển mạnh vào các thị trường tài sản, đặc biệt là chứng khoán và bất động sản, góp phần hình thành xu hướng “bong bóng” trong năm 2007, đặt nền móng cho bất ổn vĩ mô trong giai đoạn tiếp theo (IMF, 2008).
Áp lực lạm phát bộc lộ rõ trong năm 2008 khi chỉ số giá tiêu dùng tăng tới 19,9%. Trước tình hình đó, NHNN chuyển sang điều hành chính sách tiền tệ theo hướng thắt chặt, với việc nâng lãi suất cơ bản lên 14%/năm vào tháng 6/2008. Tuy nhiên, việc điều chỉnh với biên độ lớn và trong thời gian ngắn đã tạo ra cú sốc thanh khoản đối với hệ thống ngân hàng, đồng thời ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận tín dụng của khu vực doanh nghiệp. Thực tiễn này cho thấy những hạn chế nhất định trong phối hợp chính sách tiền tệ với quản lý dòng vốn quốc tế trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển đổi và hội nhập nhanh.
Khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 tiếp tục làm gia tăng mức độ phức tạp của môi trường điều hành. Trước nguy cơ suy giảm tăng trưởng, chính sách tiền tệ được điều chỉnh theo hướng nới lỏng nhằm hỗ trợ nền kinh tế. Gói hỗ trợ lãi suất 4% triển khai trong năm 2009 đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng tín dụng ở mức cao (gần 40%), qua đó hỗ trợ tăng trưởng GDP đạt 5,32%. Tuy nhiên, hệ quả của chính sách nới lỏng nhanh chóng bộc lộ trong các năm sau, với áp lực lạm phát quay trở lại mức hai con số, thị trường ngoại hối diễn biến căng thẳng và dự trữ ngoại hối suy giảm rõ rệt. Chu kỳ điều hành mang tính “đảo chiều nhanh” giữa thắt chặt và nới lỏng đã làm gia tăng rủi ro mất ổn định kinh tế vĩ mô (IMF, 2010).
Đỉnh điểm của những bất ổn này xuất hiện vào năm 2011, khi lạm phát lên tới 18,6%. Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ đã đánh dấu sự điều chỉnh mang tính chiến lược trong điều hành kinh tế vĩ mô, với trọng tâm là kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Chính sách tiền tệ được triển khai theo hướng chặt chẽ, kiểm soát tăng trưởng tín dụng dưới 20% và định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, đồng thời hạn chế tín dụng đối với các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro. Cách tiếp cận này đã góp phần từng bước củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tạo nền tảng cho giai đoạn tái cơ cấu hệ thống ngân hàng những năm tiếp theo.
6. Tái cơ cấu hệ thống ngân hàng và xử lý nợ xấu (2012 - 2020)
Giai đoạn 2012 - 2020 đánh dấu một bước chuyển quan trọng trong tiến trình phát triển của hệ thống ngân hàng Việt Nam, khi yêu cầu tái cơ cấu được đặt ra một cách toàn diện nhằm xử lý hệ quả của giai đoạn tăng trưởng tín dụng nóng trước đó. Khối lượng nợ xấu tích tụ ở mức cao, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực bất động sản, đã làm gia tăng rủi ro đối với an toàn hệ thống và ổn định tài chính quốc gia. Trong bối cảnh đó, NHNN đã chủ động triển khai Đề án cơ cấu lại các tổ chức tín dụng theo Quyết định số 254/QĐ-TTg ngày 01/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ, qua đó thiết lập một khuôn khổ hành động mang tính hệ thống nhằm củng cố năng lực tài chính, nâng cao quản trị rủi ro và từng bước khôi phục niềm tin của thị trường đối với hệ thống ngân hàng (IMF, 2013).
Song song với quá trình tái cơ cấu, chính sách tiền tệ ghi nhận những điều chỉnh quan trọng nhằm xử lý các mất cân đối mang tính cấu trúc, trong đó nổi bật là nỗ lực khắc phục tình trạng “vàng hóa” trong nền kinh tế. Nghị định số 24/2012/NĐ-CP của Chính phủ đã trao quyền cho NHNN độc quyền sản xuất vàng miếng và quản lý thị trường vàng, qua đó góp phần thu hẹp tình trạng đầu cơ vàng, ổn định tỉ giá và tăng cường dự trữ ngoại hối quốc gia. Đáng chú ý, việc áp dụng cơ chế tỉ giá trung tâm từ năm 2016 đã đánh dấu bước tiến trong điều hành linh hoạt, cho phép tỉ giá vận động linh hoạt theo tín hiệu thị trường và diễn biến quốc tế, qua đó nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài (IMF, 2017).
Một trong những giải pháp mang tính đột phá trong xử lý nợ xấu là việc thành lập Công ty Quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) theo Nghị định số 53/2013/NĐ-CP, các quyết định liên quan của Thủ tướng Chính phủ và Thống đốc NHNN. Với vai trò là công cụ đặc thù của Nhà nước, VAMC thực hiện mua nợ xấu bằng trái phiếu đặc biệt, tạo điều kiện để các tổ chức tín dụng từng bước cải thiện bảng cân đối kế toán, duy trì hoạt động tín dụng, giúp kéo giãn thời gian xử lý nợ trong giai đoạn 5 đến 10 năm thông qua trích lập dự phòng định kỳ, giảm áp lực điều chỉnh đột ngột đối với hệ thống tài chính.
Bên cạnh đó, các biện pháp can thiệp mạnh mẽ như mua bắt buộc ngân hàng yếu kém với giá 0 đồng đã được áp dụng nhằm ngăn chặn nguy cơ đổ vỡ dây chuyền, bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định tiền tệ quốc gia. Khung pháp lý về xử lý nợ xấu tiếp tục được hoàn thiện với việc Quốc hội ban hành Nghị quyết số 42/2017/QH14, góp phần tháo gỡ vướng mắc liên quan đến thu giữ và xử lý tài sản bảo đảm, qua đó đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu trong thực tiễn.
Song song với những giải pháp xử lý trước mắt, việc triển khai chuẩn mực an toàn vốn Basel II đã tạo áp lực tích cực, buộc các ngân hàng nâng cao năng lực quản trị rủi ro, minh bạch hóa hoạt động và tăng cường vốn tự có. Nhờ đó, đến năm 2020, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có sự cải thiện rõ rệt về chất lượng tài sản, mức độ an toàn và khả năng chống chịu rủi ro so với giai đoạn trước đó, tạo nền tảng quan trọng cho việc duy trì ổn định tài chính và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững trong các giai đoạn tiếp theo.
7. Vượt qua đại dịch và ngăn chặn rủi ro hệ thống (2021 - 2025)
Giai đoạn 2021 - 2025 đặt hệ thống ngân hàng Việt Nam trước những thách thức đặc biệt nghiêm trọng, khi cú sốc từ đại dịch Covid-19 không chỉ làm gián đoạn chuỗi cung ứng và suy giảm tổng cầu, mà còn tiềm ẩn nguy cơ lan sang bất ổn tài chính. Trong bối cảnh đó, NHNN đã lựa chọn cách tiếp cận điều hành theo hướng hỗ trợ có kiểm soát, vừa giảm thiểu tác động tiêu cực của dịch bệnh, vừa duy trì kỷ luật tiền tệ và an toàn hệ thống.
Ngay từ năm 2020, lãi suất điều hành được điều chỉnh giảm ba lần, góp phần hạ mặt bằng chi phí vốn cho doanh nghiệp và người dân. Đồng thời, các cơ chế chính sách về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch bệnh được ban hành kịp thời, qua đó giúp hạn chế sự gia tăng đột biến của nợ xấu và duy trì dòng tín dụng cho nền kinh tế (IMF, 2022). Các giải pháp này không chỉ hỗ trợ phục hồi sản xuất, kinh doanh mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc ổn định tâm lý thị trường tài chính, tránh gây ra những phản ứng dây chuyền bất lợi đối với hệ thống ngân hàng. Thực tiễn điều hành cho thấy sự thận trọng và linh hoạt, rút kinh nghiệm từ giai đoạn sau khủng hoảng 2008 - 2009, khi việc nới lỏng chính sách quá mức đã để lại áp lực lạm phát trong các năm tiếp theo.
Bước sang năm 2022, sự kiện rút tiền hàng loạt tại NHTMCP Sài Gòn (SCB) trở thành phép thử lớn đối với năng lực điều hành và mức độ ổn định của hệ thống tài chính - ngân hàng. NHNN đã triển khai cơ chế kiểm soát đặc biệt, đồng thời cung ứng thanh khoản quy mô lớn thông qua các khoản vay đặc biệt nhằm bảo đảm khả năng chi trả đầy đủ cho người gửi tiền. Sự can thiệp kịp thời và quyết đoán đã góp phần ngăn chặn nguy cơ lan truyền rủi ro, củng cố niềm tin của công chúng vào hệ thống ngân hàng. Đến giai đoạn 2024 - 2025, quá trình xử lý và chuyển giao bắt buộc các ngân hàng yếu kém, tồn đọng cơ bản được hoàn tất, khép lại một chu kỳ xử lý kéo dài nhiều năm.
Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu chuyển sang xu hướng thắt chặt tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, Việt Nam đã lựa chọn cách tiếp cận điều hành linh hoạt theo hướng hỗ trợ phục hồi tăng trưởng. Năm 2023, lãi suất điều hành được điều chỉnh giảm bốn lần, thúc đẩy cầu nội địa và hỗ trợ khu vực sản xuất, kinh doanh. Nhờ đó, đến năm 2025, nền kinh tế đạt mức tăng trưởng GDP 8,02%, lạm phát được kiểm soát ở mức 3,31%, quy mô nền kinh tế vượt 500 tỉ USD. Những kết quả này phản ánh rõ nét năng lực điều hành chính sách tiền tệ ngày càng linh hoạt, chủ động và hiệu quả, đồng thời khẳng định vai trò trung tâm của NHNN trong việc ổn định kinh tế vĩ mô và bảo đảm an toàn hệ thống tài chính trong bối cảnh nhiều biến động (IMF, 2024).
8. Ngân hàng trong kỷ nguyên số - xanh và động lực cho tăng trưởng kinh tế hai con số
Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng của khung pháp lý ngân hàng Việt Nam sau nhiều biến động của hệ thống tài chính, phản ánh sự chuyển dịch rõ nét trong tư duy quản lý theo hướng chủ động phòng ngừa rủi ro và tiệm cận các chuẩn mực quốc tế. Việc luật hóa cơ chế xử lý rút tiền hàng loạt, bao gồm công cụ vay đặc biệt với lãi suất 0% từ NHNN, đã tạo nền tảng can thiệp minh bạch và kịp thời khi niềm tin thị trường suy giảm. Đồng thời, quy định can thiệp sớm và kiểm soát sở hữu chéo được siết chặt không chỉ góp phần hạn chế tích tụ rủi ro hệ thống mà còn nâng cao kỷ luật thị trường, tăng cường tính công khai, minh bạch trong hoạt động ngân hàng. Những cải cách này tạo tiền đề quan trọng để hệ thống ngân hàng vận hành an toàn, hiệu quả hơn trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và biến động tài chính toàn cầu.
Bước sang giai đoạn 2026 - 2030, vai trò của ngành Ngân hàng không chỉ dừng lại ở ổn định kinh tế vĩ mô mà ngày càng gắn chặt với mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững của nền kinh tế. Trong đó, chính sách tiền tệ được định hướng theo hướng linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm vừa kiểm soát lạm phát, vừa tạo dư địa hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế ở mức cao, hướng tới hai con số trong trung và dài hạn.
Một trong những trụ cột quan trọng là phát triển tài chính xanh. Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg về danh mục phân loại xanh, đã tạo khuôn khổ rõ ràng để định hướng dòng vốn tín dụng vào các lĩnh vực thân thiện môi trường như năng lượng tái tạo, hạ tầng xanh và nông nghiệp bền vững. Tín dụng xanh không chỉ góp phần thực hiện cam kết phát thải ròng bằng “0” (Net Zero), mà còn mở ra không gian tăng trưởng mới cho nền kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch mô hình tăng trưởng theo chiều sâu.
Song song với đó, chuyển đổi số trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng được xác định là động lực then chốt nâng cao năng suất và hiệu quả phân bổ nguồn lực. Nghiên cứu, thử nghiệm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương (CBDC) và các mô hình tiền số ổn định giá trị (stablecoin) đang được đẩy mạnh, không chỉ nhằm bảo vệ chủ quyền tiền tệ, mà còn góp phần hiện đại hóa hệ thống thanh toán, giảm chi phí giao dịch và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính (Nguyễn Đình Thọ, 2025). Sự phát triển của ngân hàng số, thanh toán không dùng tiền mặt và hệ sinh thái tài chính số sẽ tạo nền tảng quan trọng cho nền kinh tế số và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Bên cạnh đó, việc hình thành Trung tâm tài chính quốc tế tại các đô thị lớn như Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng mở ra cơ hội thu hút dòng vốn toàn cầu, thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng và tạo không gian thử nghiệm các mô hình kinh doanh mới. Đây sẽ là những “cực tăng trưởng” mới, góp phần lan tỏa động lực phát triển ra toàn bộ nền kinh tế.
Tổng thể, trong kỷ nguyên số - xanh, hệ thống ngân hàng Việt Nam đang chuyển từ vai trò “ổn định” sang vai trò “kiến tạo phát triển”, vừa bảo đảm an toàn hệ thống tài chính, vừa dẫn dắt dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, qua đó đóng góp trực tiếp vào mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững và hướng tới mức tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới.
Tài liệu tham khảo:
1. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (1935 - 2026), Văn kiện Đại hội I - XIV của Đảng.
2. International Monetary Fund (1996 - 2025), Vietnam: Article IV Consultation: Staff Report.
3. Nguyễn Đình Thọ (2025), Nghiên cứu triển khai tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý chính sách, Tạp chí Ngân hàng.
4. Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 24/02/2011 của Chính phủ về những giải pháp chủ yếu tập trung kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm an sinh xã hội.
5. Nghị quyết số 42/2017/QH14 ngày 21/6/2017 của Quốc hội về thí điểm xử lý nợ xấu của các tổ chức tín dụng.
6. Soo-Nam Oh (1998), Financial Deepening in the Banking Sector -Viet Nam, Asian Development Bank.
7. Van Anh Thi Nguyen, Thanh Tung Hoang, Duc Anh Le (2022), A study on the relationship between money supply and inflation in Vietnam from 2005 to 2021. Accounting, 8, 395-402.
8. Vũ Xuân Thanh (2024), 73 năm thành lập ngành Ngân hàng Việt Nam: Trưởng thành và chuyển mình cùng đất nước, Tạp chí Ngân hàng.
Tin bài khác
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân
Vai trò của truyền thông chính sách ngành Ngân hàng trong kỷ nguyên mới
Dự báo tác động của căng thẳng tại khu vực Trung Đông tới kinh tế Việt Nam và một số gợi ý chính sách
Phân mảnh thương mại trong bối cảnh xung đột tại Trung Đông và hàm ý đối với Việt Nam
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam