Danh mục xanh quốc gia và phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam: Vai trò đối với hệ thống ngân hàng và hàm ý chính sách

Chính sách
Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia trong việc thúc đẩy phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, làm rõ những chuyển biến trong khung chính sách và thực tiễn triển khai trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng, góp phần định hướng dòng vốn phục vụ mục tiêu tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
aa

Tóm tắt: Trong bối cảnh Việt Nam đẩy mạnh chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng xanh và bền vững, tài chính xanh, đặc biệt là tín dụng xanh, ngày càng giữ vai trò trung tâm trong việc định hướng dòng vốn của nền kinh tế. Tuy nhiên, trong một thời gian dài, sự thiếu vắng một bộ tiêu chí môi trường thống nhất đã tạo ra những rào cản đáng kể đối với việc mở rộng tín dụng xanh, làm gia tăng nguy cơ "tẩy xanh" (greenwashing) và hạn chế khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp. Việc Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh, lần đầu tiên thiết lập Danh mục xanh quốc gia, được xem là một bước ngoặt quan trọng trong quá trình hoàn thiện khung chính sách tài chính xanh tại Việt Nam. Bài viết phân tích vai trò của Danh mục xanh quốc gia đối với sự phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam, đánh giá thực trạng triển khai tín dụng xanh trong hệ thống ngân hàng, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm phát huy hiệu quả Danh mục xanh, trong đó nhấn mạnh vai trò của cơ quan quản lý, các tổ chức tín dụng, tổ chức đánh giá trung gian và công tác truyền thông, nâng cao nhận thức cho doanh nghiệp và người dân.

Từ khóa: Danh mục xanh quốc gia, tín dụng xanh, tài chính xanh, ngân hàng thương mại, phát triển bền vững.

NATIONAL GREEN TAXONOMY AND THE DEVELOPMENT OF GREEN CREDIT IN VIETNAM:
THE ROLE OF THE BANKING SYSTEM AND POLICY IMPLICATIONS

Abstract: In the context of Vietnam accelerating the transition toward a green and sustainable growth model, green finance, particularly green credit is increasingly playing a central role in directing capital flows within the economy. However, for a long period, the absence of a unified set of environmental criteria created significant barriers to the expansion of green credit, increased the risk of “greenwashing,” and limited enterprises’ access to capital. The issuance of Decision No. 21/2025/QĐ-TTg dated July 4, 2025 by the Prime Minister, which stipulates environmental criteria and the certification of investment projects under the green classification list, marks the first establishment of a National Green Taxonomy and is considered an important milestone in the process of completing Vietnam’s green finance policy framework. The article analyzes the role of the National Green Taxonomy in promoting the development of green credit in Vietnam, assesses the current implementation of green credit within the banking system, and proposes several solutions to enhance the effectiveness of Green Taxonomy. In particular, it highlights the roles of regulatory authorities, credit institutions, intermediary verification organizations, as well as communication efforts to raise awareness among businesses and the public.

Keywords: National Green Taxonomy, green credit, green finance, commercial banks, sustainable development.

1. Đặt vấn đề

Biến đổi khí hậu, suy thoái môi trường và cạn kiệt tài nguyên đang trở thành những thách thức mang tính toàn cầu, tác động sâu rộng đến ổn định kinh tế - xã hội và an ninh tài chính của các quốc gia. Trong bối cảnh đó, tăng trưởng xanh và phát triển bền vững không còn là một lựa chọn mang tính khuyến nghị, mà đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với các nền kinh tế đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Trong tiến trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng, hệ thống tài chính - ngân hàng giữ vai trò đặc biệt quan trọng thông qua việc điều tiết và phân bổ nguồn lực tài chính. Thông qua hoạt động tín dụng, các ngân hàng thương mại có khả năng định hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, khuyến khích các dự án thân thiện với môi trường và từng bước hạn chế tài trợ cho các hoạt động gây tác động tiêu cực đến hệ sinh thái.

Nhận thức được vai trò đó, trong những năm qua, Chính phủ và Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách nhằm thúc đẩy phát triển tài chính xanh và tín dụng xanh. Dư nợ tín dụng xanh tăng trưởng nhanh, số lượng tổ chức tín dụng tham gia ngày càng nhiều và phạm vi lĩnh vực được tài trợ từng bước mở rộng. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cũng cho thấy còn thiếu một bộ tiêu chí môi trường thống nhất ở cấp quốc gia, dẫn đến sự khác biệt trong cách hiểu, cách triển khai và đánh giá hiệu quả tín dụng xanh giữa các ngân hàng.

Trong bối cảnh đó, việc ban hành Danh mục xanh quốc gia theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg được xem là một bước đi mang tính chiến lược, đánh dấu sự chuyển dịch từ giai đoạn khuyến khích tự nguyện sang giai đoạn chuẩn hóa và thể chế hóa tài chính xanh tại Việt Nam. Đây cũng là tiền đề quan trọng để hệ thống ngân hàng phát triển tín dụng xanh một cách bài bản, hiệu quả và bền vững hơn trong giai đoạn tới.

2. Danh mục xanh quốc gia: Bước ngoặt trong hoàn thiện khung chính sách tín dụng xanh

2.1. Bối cảnh ban hành và ý nghĩa chiến lược

Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg, lần đầu tiên đưa ra Danh mục xanh quốc gia - một bộ khung chính thức nhằm phân loại và xác nhận các dự án xanh tại Việt Nam. Đây là kết quả của quá trình chuẩn bị kéo dài gần một thập kỷ, gắn liền với lộ trình thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh (ban hành kèm theo Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ), Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu (ban hành kèm theo Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022) và các cam kết quốc tế của Việt Nam, đặc biệt là cam kết đạt phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050.

Về mặt chính sách, Danh mục xanh quốc gia đóng vai trò như một chuẩn mực chung cho toàn bộ hệ sinh thái tài chính xanh. Việc có một bộ tiêu chí chính thức giúp khắc phục tình trạng “mỗi nơi hiểu một cách”, đồng thời tạo điều kiện để các công cụ tài chính xanh - từ tín dụng xanh, trái phiếu xanh đến các cơ chế bảo lãnh và chia sẻ rủi ro - được triển khai một cách minh bạch và nhất quán.

2.2. Cấu trúc Danh mục xanh quốc gia

Theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg, Danh mục xanh quốc gia bao gồm 45 loại hình dự án, được phân bổ trong 7 nhóm ngành trọng điểm, gồm: Năng lượng; giao thông vận tải; xây dựng; tài nguyên nước; nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và bảo tồn đa dạng sinh học; công nghiệp chế biến, chế tạo; dịch vụ môi trường.

Đáng chú ý, việc sử dụng thuật ngữ “Dịch vụ môi trường” thay thế cho nhóm “Chất thải” trong các bản dự thảo trước đó thể hiện sự thay đổi tư duy chính sách theo hướng tích cực, nhấn mạnh giá trị kinh tế và dịch vụ của các hoạt động bảo vệ môi trường. Ngược lại, việc loại bỏ nhóm “Thông tin, truyền thông và dịch vụ” cho thấy xu hướng tập trung vào các lĩnh vực có tác động môi trường trực tiếp và có khả năng đo lường, xác minh rõ ràng hơn.

2.3. Phạm vi áp dụng và đối tượng liên quan

Danh mục xanh quốc gia không chỉ áp dụng cho các chủ đầu tư có nhu cầu tiếp cận ưu đãi tín dụng xanh hoặc phát hành trái phiếu xanh, mà còn hướng đến một phạm vi đối tượng rộng hơn, bao gồm các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, cơ quan quản lý, tổ chức xác minh độc lập và các bên liên quan khác trong chuỗi vận hành tài chính xanh.

Đặc biệt, Danh mục xanh quốc gia mang tính khuyến khích và tự nguyện áp dụng, cho phép các doanh nghiệp chủ động tiếp cận và nâng cao uy tín môi trường của mình ngay cả khi không bắt buộc phải tham gia các chương trình tín dụng xanh. Điều này cho thấy Danh mục xanh quốc gia không chỉ là một công cụ quản lý, mà còn là một cơ chế tạo động lực thị trường.

3. Thực trạng phát triển tín dụng xanh tại Việt Nam

3.1. Quy mô và tốc độ tăng trưởng tín dụng xanh

Sau gần 10 năm triển khai định hướng tín dụng xanh, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Trong giai đoạn 2017 - 2025, tín dụng xanh tại Việt Nam ghi nhận xu hướng tăng trưởng tương đối nhanh. Nếu năm 2017 mới chỉ có khoảng 15 tổ chức tín dụng tham gia cho vay xanh, với dư nợ khoảng 180 nghìn tỉ đồng, thì đến ngày 31/12/2024, dư nợ tín dụng xanh đã đạt gần 680 nghìn tỉ đồng, với 48 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ xanh. Giai đoạn 2017 - 2024, tín dụng xanh tăng trưởng bình quân trên 21%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng chung của toàn nền kinh tế. Đà tăng này tiếp tục được duy trì trong năm 2025. Tính đến cuối năm 2025, tổng dư nợ tín dụng xanh đạt khoảng 850 nghìn tỉ đồng với 58 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ xanh.

Cơ cấu tín dụng xanh cho thấy sự tập trung vào các lĩnh vực có tác động môi trường rõ nét, trong đó năng lượng tái tạo và năng lượng sạch chiếm tỉ trọng lớn nhất, tiếp đến là nông nghiệp xanh. Điều này phản ánh xu hướng ưu tiên tài trợ cho các lĩnh vực vừa phù hợp với định hướng chính sách, vừa có tiềm năng tăng trưởng dài hạn.

3.2. Cơ cấu tín dụng xanh theo lĩnh vực và tổ chức tín dụng

Dư nợ tín dụng xanh hiện chủ yếu tập trung vào năng lượng tái tạo, năng lượng sạch và nông nghiệp xanh. Tính đến cuối năm 2025, nhóm năng lượng tái tạo và năng lượng sạch chiếm khoảng 45% dư nợ tín dụng xanh, trong khi đó, nông nghiệp xanh chiếm khoảng 31% cho thấy tín dụng xanh là kênh dẫn vốn quan trọng nhất cho các lĩnh vực này, bởi: Thứ nhất, các dự án năng lượng tái tạo, năng lượng sạch thường có quy mô vốn lớn, dòng tiền tương đối rõ, dễ lượng hóa lợi ích môi trường và phù hợp với khẩu vị tài trợ trung, dài hạn của ngân hàng. Thứ hai, nông nghiệp xanh là lĩnh vực gắn với định hướng phát triển nông nghiệp bền vững, an ninh lương thực, thích ứng biến đổi khí hậu và cũng là khu vực được khuyến khích mạnh trong nhiều chính sách phát triển xanh của Việt Nam.

Ngược lại, các lĩnh vực như xây dựng xanh, giao thông xanh, kinh tế tuần hoàn, công nghiệp chế biến chế tạo xanh, dịch vụ môi trường chiếm tỉ trọng còn khá khiêm tốn trong tổng dư nợ tín dụng xanh. Điều này cho thấy cấu trúc tín dụng xanh của Việt Nam mới chỉ tập trung vào các phân khúc có khả năng nhận diện dự án và lượng hóa hiệu quả rõ hơn. Bên cạnh đó, Danh mục xanh quốc gia tuy đã được ban hành nhưng vẫn cần thêm thời gian và hướng dẫn thực thi để mở rộng diện bao phủ tín dụng xanh sang các lĩnh vực khác.

Dưới góc độ tổ chức tín dụng, thị trường tín dụng xanh hiện vẫn chủ yếu do các ngân hàng thương mại lớn dẫn dắt. Một số ngân hàng đã hình thành danh mục khách hàng và sản phẩm tài chính xanh tương đối rõ nét. Chẳng hạn, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) đã tài trợ cho hơn 2.000 dự án xanh với tổng dư nợ tín dụng xanh đạt 82,3 nghìn tỉ đồng, chiếm 10% thị phần; Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) tập trung phát triển hạ tầng tài chính xanh, phân bổ vốn cho các dự án năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, nông nghiệp sạch, hạ tầng giao thông bền vững, với tổng dư nợ tín dụng xanh tính đến ngày 30/12/2025 đạt 43.000 tỉ đồng.

3.3. Quản lý rủi ro môi trường - xã hội

Cùng với việc mở rộng quy mô tín dụng xanh, các tổ chức tín dụng cũng ngày càng chú trọng đến công tác đánh giá rủi ro môi trường - xã hội trong hoạt động cấp tín dụng. Đến hết quý III/2025, dư nợ được đánh giá rủi ro môi trường - xã hội đạt 3,84 triệu tỉ đồng, tương ứng khoảng 1,38 triệu món vay. Số lượng khoản vay được thẩm định rủi ro môi trường - xã hội tăng mạnh so với giai đoạn đầu triển khai, cho thấy sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và thực hành quản trị rủi ro của hệ thống ngân hàng.

Tuy nhiên, việc đánh giá rủi ro môi trường - xã hội hiện vẫn chủ yếu dựa trên các hướng dẫn nội bộ của từng ngân hàng, còn thiếu sự liên thông và chuẩn hóa ở cấp hệ thống. Tại một số tổ chức tín dụng, việc đánh giá rủi ro môi trường - xã hội mới dừng ở mức lồng ghép thủ tục, kiểm tra hồ sơ pháp lý môi trường hoặc sàng lọc theo danh mục ngành nghề, thay vì phát triển thành mô hình thẩm định rủi ro tích hợp vào chấm điểm tín dụng, định giá khoản vay và giám sát sau giải ngân. Với các ngân hàng thương mại quy mô lớn đã tiếp cận sớm với chuẩn mực ESG, nguồn vốn ưu đãi, công cụ đánh giá và đào tạo chuyên môn, từ đó xây dựng được bộ tiêu chí nội bộ và quy trình thẩm định tương đối bài bản. Trong khi đó, một số ngân hàng quy mô vừa và nhỏ còn gặp khó khăn về nhân lực chuyên môn, cơ sở dữ liệu, chi phí đánh giá và hệ thống công nghệ hỗ trợ, nên việc lồng ghép yếu tố môi trường - xã hội vào quyết định tín dụng còn chưa đồng đều. Thực trạng này cho thấy rủi ro môi trường - xã hội trong cấp tín dụng ở Việt Nam đã được nhận diện về mặt chính sách, nhưng mức độ thể chế hóa trong hoạt động ngân hàng vẫn còn phân tầng mạnh.

3.4. Một số điểm nghẽn trước khi Danh mục xanh có hiệu lực

Trước thời điểm Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg có hiệu lực (ngày 22/8/2025), sự phát triển của tín dụng xanh tại Việt Nam chịu tác động bởi một số điểm nghẽn như sau:

Thứ nhất, thiếu chuẩn phân loại xanh thống nhất ở cấp quốc gia. Trong thời gian dài, mặc dù định hướng phát triển tài chính xanh đã được nhấn mạnh trong nhiều chiến lược và chương trình hành động, song chưa có một bộ tiêu chí môi trường chính thức để xác định dự án nào thực sự là “xanh”. Hệ quả là các tổ chức tín dụng phải tự xây dựng bộ tiêu chí nội bộ hoặc tham chiếu các hệ thống phân loại (taxonomy) quốc tế, dẫn tới tình trạng mỗi nơi hiểu, áp dụng một cách khác nhau. Điều này làm suy giảm tính minh bạch của thị trường và hạn chế khả năng hình thành một chuẩn chung cho tín dụng xanh.

Thứ hai, chi phí thông tin và chi phí thẩm định cao làm giảm động lực mở rộng cho vay xanh. Việc xác định một dự án có mang lại lợi ích môi trường hay không thường đòi hỏi thông tin kỹ thuật chuyên sâu, dữ liệu vận hành, chỉ tiêu phát thải, tiêu chuẩn công nghệ và đôi khi cần cả xác nhận độc lập. Trong khi đó, nhiều doanh nghiệp chưa có hệ thống dữ liệu môi trường đầy đủ, còn ngân hàng lại thiếu công cụ và nhân sự chuyên môn để lượng hóa tác động môi trường của dự án. Vì vậy, chi phí giao dịch và chi phí thẩm định đối với khoản vay xanh thường cao hơn so với khoản vay thông thường.

Thứ ba, rủi ro “tẩy xanh”. Trong bối cảnh doanh nghiệp ngày càng quan tâm tới nhãn “xanh” để tiếp cận nguồn vốn ưu đãi và cải thiện hình ảnh, việc thiếu chuẩn thống nhất dễ dẫn đến tình trạng dự án được gắn mác xanh nhưng lợi ích môi trường không rõ ràng hoặc không đủ lớn. Rủi ro này không chỉ làm méo mó phân bổ nguồn vốn mà còn ảnh hưởng đến uy tín của hệ thống tài chính xanh. Việc ban hành Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg đã giúp xử lý khoảng trống thể chế này.

Thứ tư, doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng xanh. Đây là nhóm doanh nghiệp chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế nhưng thường hạn chế về năng lực quản trị, tài sản bảo đảm, trình độ lập hồ sơ kỹ thuật và khả năng chứng minh hiệu quả môi trường của dự án, do đó khó tiếp cận nguồn vốn xanh hơn dù nhu cầu chuyển đổi xanh rất lớn.

Thứ năm, thiếu cơ chế khuyến khích tài chính đủ mạnh. Dù nhiều ngân hàng đã chủ động xây dựng chương trình cho vay xanh, nhưng nhìn chung thị trường vẫn thiếu các công cụ hỗ trợ hữu hiệu như tái cấp vốn ưu đãi cho khoản vay xanh, cơ chế bảo lãnh chia sẻ rủi ro, ưu đãi thuế, phí, hoặc hệ thống xác nhận/xếp hạng dự án xanh có chi phí hợp lý. Vì vậy, trước khi Danh mục xanh quốc gia được ban hành, tín dụng xanh ở Việt Nam chủ yếu được thúc đẩy bằng định hướng chính sách và nỗ lực tự thân của một số ngân hàng.

Từ những phân tích trên có thể thấy, việc ban hành Danh mục xanh quốc gia theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng để chuyển tín dụng xanh từ giai đoạn phát triển phân tán sang giai đoạn chuẩn hóa, minh bạch hóa và mở rộng có kiểm soát trong thời gian tới.

4. Danh mục xanh quốc gia và vai trò đối với hệ thống ngân hàng

4.1. Chuẩn hóa tiêu chí, nâng cao chất lượng thẩm định và hạn chế rủi ro “tẩy xanh”

Một trong những ý nghĩa quan trọng nhất của Danh mục xanh quốc gia là thiết lập cơ sở thống nhất để nhận diện và phân loại các dự án có đóng góp thực chất cho mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Trong điều kiện thị trường tài chính xanh còn đang hoàn thiện, việc thiếu một bộ tiêu chí chung dễ dẫn đến tình trạng mỗi chủ thể hiểu và áp dụng khái niệm “xanh” theo những cách khác nhau. Do đó, việc ban hành Danh mục xanh quốc gia không chỉ có ý nghĩa về mặt kỹ thuật phân loại, mà còn là bước đi cần thiết nhằm tạo lập chuẩn mực chung cho toàn thị trường.

Đối với hệ thống ngân hàng, khuôn khổ phân loại này cung cấp căn cứ rõ ràng hơn cho hoạt động thẩm định tín dụng xanh. Trước đây, trong bối cảnh chưa có một chuẩn phân loại thống nhất ở cấp quốc gia, việc xác định một dự án có đủ điều kiện tiếp cận tín dụng xanh hay không phần lớn phụ thuộc vào cách tiếp cận nội bộ của từng tổ chức tín dụng. Điều này không chỉ làm gia tăng chi phí thu thập và xử lý thông tin, mà còn khiến chất lượng đánh giá giữa các ngân hàng thiếu tính đồng đều. Khi Danh mục xanh quốc gia được ban hành, các ngân hàng có điều kiện chuẩn hóa hơn quy trình nhận diện, sàng lọc và đánh giá dự án, từ đó nâng cao chất lượng thẩm định và giảm bớt sự phụ thuộc vào những tiêu chí mang tính chủ quan.

Bên cạnh đó, Danh mục xanh quốc gia còn góp phần hạn chế rủi ro “tẩy xanh” trong hoạt động cấp tín dụng. Đây là rủi ro phát sinh khi một dự án hoặc doanh nghiệp được giới thiệu là thân thiện với môi trường, nhưng trên thực tế mức độ đóng góp môi trường không tương xứng hoặc không đáp ứng được các tiêu chuẩn cần thiết. Đối với ngân hàng, nếu thiếu cơ sở đánh giá rõ ràng, việc cấp vốn cho các dự án như vậy có thể kéo theo rủi ro pháp lý, rủi ro danh tiếng và suy giảm niềm tin của nhà đầu tư cũng như công chúng đối với hoạt động tín dụng xanh. Sự hiện diện của một danh mục phân loại chính thức vì thế giúp ngân hàng có thêm căn cứ để kiểm chứng tính xanh của dự án, đồng thời giảm nguy cơ cấp tín dụng sai lệch do thông tin không đầy đủ hoặc do doanh nghiệp cố tình thổi phồng yếu tố môi trường.

Ở góc độ rộng hơn, Danh mục xanh quốc gia còn góp phần gắn kết mục tiêu phát triển tín dụng xanh với yêu cầu tăng cường quản trị rủi ro trong hệ thống ngân hàng. Khi tiêu chí môi trường được xác định cụ thể hơn, ngân hàng không chỉ đánh giá dự án trên phương diện hiệu quả tài chính, mà còn có thể lồng ghép tốt hơn yếu tố môi trường vào toàn bộ quá trình thẩm định, giám sát và quản lý khoản vay. Điều này có ý nghĩa rất lớn trong bối cảnh các yêu cầu về minh bạch, trách nhiệm giải trình và quản trị rủi ro bền vững ngày càng trở thành chuẩn mực quan trọng đối với hoạt động tài chính - ngân hàng. Như vậy, Danh mục xanh quốc gia không đơn thuần là công cụ phân loại dự án, mà còn là nền tảng hỗ trợ nâng cao chất lượng tín dụng xanh và củng cố tính minh bạch của thị trường tài chính xanh ở Việt Nam.

4.2. Tạo nền tảng thuận lợi cho hội nhập với các định chế tài chính quốc tế

Bên cạnh vai trò chuẩn hóa thị trường trong nước, Danh mục xanh quốc gia còn có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo lập nền tảng cho quá trình hội nhập tài chính xanh của Việt Nam với khu vực và thế giới. Trong bối cảnh nhu cầu vốn cho chuyển đổi xanh ngày càng lớn, khả năng đáp ứng chỉ dựa vào nguồn lực trong nước là khá hạn chế. Việc thu hút các nguồn vốn từ các tổ chức tài chính quốc tế, các ngân hàng phát triển đa phương, các quỹ đầu tư xanh và các nhà đầu tư theo định hướng bền vững trở thành yêu cầu mang tính chiến lược. Do đó, thị trường trong nước cần có một hệ tiêu chí đủ rõ ràng để giúp các chủ thể bên ngoài nhận diện, đánh giá và so sánh các dự án xanh của Việt Nam theo những chuẩn mực có thể chấp nhận được trong thông lệ quốc tế.

Ở phương diện này, Danh mục xanh quốc gia có thể được xem như một cơ sở tham chiếu chung giữa các dự án trong nước và các nhà tài trợ quốc tế. Khi một dự án được xác định và phân loại theo hệ tiêu chí chính thức, ngân hàng sẽ thuận lợi hơn trong việc chứng minh cơ sở môi trường của khoản tín dụng, đồng thời dễ dàng hơn khi làm việc với các đối tác tài chính nước ngoài. Điều này không chỉ góp phần giảm bất cân xứng thông tin giữa bên huy động vốn và bên cấp vốn, mà còn nâng cao mức độ minh bạch của dự án trong đánh giá của các nhà đầu tư quốc tế. Vì vậy, Danh mục xanh quốc gia không chỉ giúp thị trường trong nước vận hành thống nhất hơn mà còn tạo điều kiện tăng cường khả năng kết nối của hệ thống ngân hàng Việt Nam với các dòng vốn xanh toàn cầu.

Đối với các ngân hàng thương mại, việc có một hệ thống phân loại xanh tiệm cận thông lệ quốc tế sẽ mở ra điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận các khoản vay ưu đãi, nguồn vốn dài hạn, chương trình hỗ trợ kỹ thuật và các cơ chế tài trợ dành riêng cho dự án xanh. Đây là yếu tố đặc biệt quan trọng vì phần lớn các dự án phục vụ chuyển đổi xanh thường cần quy mô vốn lớn, thời gian thu hồi vốn dài và chi phí vốn phù hợp. Nếu không có khả năng tiếp cận hiệu quả với các nguồn lực tài chính quốc tế, việc mở rộng tín dụng xanh của các ngân hàng trong nước sẽ nhiều hạn chế.

Bên cạnh đó, trong xu hướng hội nhập hiện nay, các yêu cầu về tài chính bền vững đang ngày càng được chuẩn hóa ở cấp độ khu vực và toàn cầu. Điều này đòi hỏi hệ thống ngân hàng Việt Nam không chỉ phát triển tín dụng xanh trong phạm vi nội địa mà còn phải từng bước nâng cao mức độ tương thích với các chuẩn mực quốc tế về phân loại, công bố thông tin và quản trị rủi ro môi trường. Danh mục xanh quốc gia, nếu được xây dựng theo hướng hài hòa với thông lệ quốc tế, sẽ trở thành công cụ hỗ trợ quan trọng cho tiến trình hội nhập tài chính xanh. Qua đó, các ngân hàng Việt Nam có thể nâng cao năng lực huy động vốn, mở rộng hợp tác với các định chế tài chính quốc tế và gia tăng khả năng tham gia vào thị trường tài chính xanh khu vực.

Có thể thấy, Danh mục xanh quốc gia không chỉ có ý nghĩa trong việc định hình khuôn khổ hoạt động cho tín dụng xanh trong nước, mà còn là một cấu phần thể chế quan trọng phục vụ mục tiêu hội nhập tài chính xanh. Đối với hệ thống ngân hàng, đây là điều kiện giúp vừa nâng cao chất lượng cấp tín dụng xanh, vừa mở rộng cơ hội tiếp cận các nguồn vốn quốc tế phục vụ quá trình chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng bền vững.

5. Một số hàm ý chính sách cho phát triển tín dụng xanh trong giai đoạn mới

Một là, thành lập và phát huy vai trò của các tổ chức đánh giá trung gian độc lập

Một trong những giải pháp mang tính then chốt là xây dựng và phát triển các tổ chức đánh giá trung gian độc lập về tín dụng xanh. Các tổ chức này có thể đảm nhận vai trò xác minh dự án xanh, đánh giá mức độ tuân thủ Danh mục xanh quốc gia và hỗ trợ ngân hàng trong quá trình thẩm định. Việc phát huy vai trò của các tổ chức đánh giá trung gian có năng lực chuyên môn phù hợp sẽ góp phần hỗ trợ ngân hàng trong quá trình thẩm định, đồng thời nâng cao tính khách quan và khả năng kiểm chứng của thông tin môi trường do khách hàng cung cấp. Giải pháp này cũng phù hợp với yêu cầu tăng cường minh bạch, hạn chế hành vi “tẩy xanh” và nâng cao độ tin cậy của thị trường tín dụng xanh trong bối cảnh Việt Nam đang từng bước tiệm cận thông lệ quốc tế.

Hai là, xây dựng chuẩn tín dụng xanh thống nhất cho toàn hệ thống ngân hàng

Trên cơ sở Danh mục xanh quốc gia, cần từng bước xây dựng chuẩn tín dụng xanh áp dụng chung cho toàn hệ thống tổ chức tín dụng, bao gồm các nguyên tắc thẩm định, quản lý rủi ro và giám sát sau cho vay. Chuẩn tín dụng xanh được xây dựng đồng bộ trên nền tảng Danh mục xanh quốc gia cần đảm bảo vừa phù hợp với điều kiện trong nước, vừa tương thích với các chuẩn mực của các định chế tài chính quốc tế, qua đó tạo thuận lợi cho việc huy động và sử dụng nguồn vốn xanh từ bên ngoài.

Ba là, đẩy mạnh truyền thông, tập huấn và nâng cao nhận thức

Một yếu tố không kém phần quan trọng là đẩy mạnh công tác truyền thông và tập huấn về tín dụng xanh cho doanh nghiệp, hộ kinh doanh và người dân. Trên thực tế, nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn chưa hiểu đầy đủ về tiêu chí của dự án xanh, điều kiện tiếp cận tín dụng xanh, hồ sơ cần chuẩn bị, nghĩa vụ chứng minh hiệu quả môi trường của phương án đầu tư cũng như lợi ích của việc tham gia các chương trình tín dụng xanh.

Về phía ngân hàng, việc triển khai tín dụng xanh cũng đòi hỏi đội ngũ cán bộ có năng lực đánh giá rủi ro môi trường, đọc hiểu tài liệu kỹ thuật và giám sát việc thực hiện các cam kết môi trường của khách hàng sau giải ngân. Do đó, cần tăng cường đẩy mạnh công tác truyền thông, tổ chức các chương trình tập huấn chuyên sâu và hướng dẫn thực hành cho cả tổ chức tín dụng lẫn cộng đồng doanh nghiệp, giúp các chủ thể trong nền kinh tế chủ động hơn trong việc tiếp cận, sử dụng và khai thác hiệu quả nguồn vốn tín dụng xanh. Định hướng này cũng phù hợp với Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh, trong đó nhấn mạnh yêu cầu nâng cao nhận thức, phát triển nguồn nhân lực và thúc đẩy năng lực thực thi chính sách.

6. Kết luận

Việc ban hành Danh mục xanh quốc gia theo Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình phát triển tài chính xanh tại Việt Nam. Danh mục này không chỉ góp phần chuẩn hóa tiêu chí môi trường, mà còn mở rộng không gian phát triển cho tín dụng xanh và nâng cao vai trò của hệ thống ngân hàng trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo hướng bền vững. Trong giai đoạn tới, việc triển khai đồng bộ các giải pháp về phát triển các tổ chức đánh giá trung gian độc lập, xây dựng chuẩn tín dụng xanh áp dụng chung cho toàn hệ thống tổ chức tín dụng và đẩy mạnh truyền thông, nâng cao nhận thức sẽ là chìa khóa để tín dụng xanh thực sự trở thành động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội bền vững tại Việt Nam.

Tài liệu tham khảo:

1. Chỉ thị số 03/CT-NHNN ngày 24/3/2015 của Thống đốc NHNN về thúc đẩy tăng trưởng tín dụng xanh và quản lý rủi ro môi trường và xã hội trong hoạt động cấp tín dụng.

2. Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050.

3. Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050.

4. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và việc xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh.

5. Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 07/8/2018 của Thống đốc NHNN về việc phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam.

6. Quyết định số 1552/QĐ-NHNN ngày 06/8/2015 của Thống đốc NHNN ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh đến năm 2020.

7. Nhóm phóng viên (2025), Thúc đẩy tín dụng xanh mở đường cho khu công nghiệp xanh, https://tapchinganhang.gov.vn/thuc-day-tin-dung-xanh-mo-duong-cho-khu-cong-nghiep-xanh-16003.html

8. Vũ Thùy Linh (2025), Xu hướng phát triển ngân hàng xanh thúc đẩy phát triển bền vững tại Việt Nam, https://tapchinganhang.gov.vn/xu-huong-phat-trien-ngan-hang-xanh-thuc-day-phat-trien-ben-vung-tai-viet-nam-16709.html

9. Investors Presentation 40 2025 Financial Results (2025), https://www.vietcombank.com.vn/-/media/Project/VCB-Sites/VCB/Nha-Dau-tu/Files/KQKD-quy/2025/4Q2025_VCB-Investors-Presentation_Upload.pdf

Nguyễn Quang Huy
Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng, Trường Đại học Nguyễn Trãi

Tin bài khác

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Định hướng phát triển mô hình kinh tế - tài chính hiện đại và bền vững tại Việt Nam

Bài viết cho rằng, trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ, việc xây dựng mô hình kinh tế - tài chính hiện đại cùng với phát triển Trung tâm tài chính quốc tế sẽ mở ra cơ hội để Việt Nam tạo đột phá tăng trưởng và vươn lên trở thành quốc gia phát triển, có thu nhập cao.
Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại tại Ngân hàng Nhà nước Khu vực

Bài viết này xây dựng khung đánh giá hiệu quả công tác giám sát an toàn vi mô đối với các chi nhánh ngân hàng thương mại (NHTM) tại Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Chi nhánh Khu vực dựa trên mô hình Input - Process - Output - Effectiveness (IPOE), đồng thời đề xuất hệ thống chỉ số đánh giá hiệu quả công việc (KPI) nhằm lượng hóa hiệu quả giám sát theo vị trí việc làm.
Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Hoàn thiện cơ chế xếp hạng tổ chức tài chính vi mô theo Thông tư số 65/2025/TT-NHNN

Ngày 31/12/2025, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) ban hành Thông tư số 65/2025/TT-NHNN quy định xếp hạng tổ chức tài chính vi mô, Thông tư được kỳ vọng sẽ nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường an toàn hệ thống và thúc đẩy sự phát triển bền vững của lĩnh vực tài chính vi mô tại Việt Nam.
Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Tiền kỹ thuật số ngân hàng trung ương: Quan điểm người dùng và gợi ý chính sách

Bài viết phân tích nhận thức và ý định hành vi của người dùng Việt Nam đối với CBDC, qua đó cung cấp cơ sở thực chứng quan trọng cho việc hoạch định chính sách và thiết kế lộ trình thí điểm tiền kỹ thuật số của ngân hàng trung ương.
Xem thêm
Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Thực tiễn áp dụng quy định hoàn cảnh thay đổi cơ bản đối với hợp đồng tín dụng - Nhìn từ Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015

Bài viết này phân tích việc áp dụng Điều 420 Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với hợp đồng tín dụng trong bối cảnh gần 10 năm thực thi, làm rõ ranh giới giữa cơ chế bảo vệ cân bằng hợp đồng và yêu cầu bảo đảm an toàn hoạt động ngân hàng, đồng thời đề xuất hoàn thiện khung pháp lý nhằm hạn chế lạm dụng quy định nhưng vẫn bảo vệ khách hàng vay trước những biến động khách quan, nghiêm trọng.
Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Đầu tư gián tiếp nước ngoài và ổn định tỉ giá: Nghiên cứu so sánh trường hợp Việt Nam, Thái Lan và Indonesia

Bài viết này phân tích tác động của đầu tư gián tiếp nước ngoài (FPI) đến ổn định tỉ giá tại Việt Nam, Thái Lan và Indonesia, qua đó làm rõ vai trò của mức độ hội nhập tài chính trong truyền dẫn các cú sốc dòng vốn và đề xuất hàm ý chính sách nhằm cân bằng giữa mở cửa tài chính với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô ở Việt Nam.
Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Phát triển thị trường trái phiếu xanh: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn phát triển thị trường trái phiếu xanh tại Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, nâng cao tính minh bạch và thúc đẩy huy động nguồn vốn cho tăng trưởng xanh và phát triển bền vững.
Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại: Thực tiễn tại Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam

Giải quyết tranh chấp hợp đồng tín dụng bằng trọng tài thương mại là một cơ chế hiệu quả, giúp rút ngắn đáng kể thời gian xử lý tranh chấp so với phương thức xét xử truyền thống, qua đó giảm chi phí tố tụng và góp phần quan trọng vào việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng.
Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Phát triển ngân hàng số và cơ chế cảnh báo rủi ro cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm phát triển ngân hàng số gắn với cơ chế cảnh báo rủi ro tại các Trung tâm tài chính quốc tế trên thế giới, từ đó đề xuất định hướng xây dựng hệ sinh thái ngân hàng số an toàn, minh bạch và bền vững cho Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam.
Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Quản trị ngân hàng và vai trò của hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính

Bài viết phân tích vai trò của quản trị ngân hàng và hoạt động giám sát trong bảo đảm ổn định tài chính, đồng thời làm rõ những thay đổi trong tư duy quản lý hậu khủng hoảng, từ đó gợi mở một số chính sách nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các rủi ro mới.
Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng: Thực tiễn tại Liên bang Nga và những hàm ý chính sách

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đang tái định hình cấu trúc và cơ chế vận hành của hệ thống tài chính toàn cầu, đồng thời đặt ra những thách thức mới về rủi ro hệ thống, quản trị và ổn định tài chính.
Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Kinh nghiệm ổn định tài chính của Thái Lan và một số hàm ý chính sách

Bài viết phân tích tác động ngày càng phức tạp của các điều kiện tài chính toàn cầu đối với nền kinh tế Thái Lan trong bối cảnh cấu trúc dòng vốn và tài sản quốc tế có nhiều thay đổi, qua đó làm rõ cơ chế truyền dẫn mới của tỉ giá, vai trò của Ngân hàng Trung ương (NHTW) Thái Lan (BoT) như một “bộ giảm xóc” trước các cú sốc bên ngoài, đồng thời rút ra những hàm ý quan trọng cho điều hành chính sách tiền tệ và ổn định tài chính tại các nền kinh tế mới nổi.
Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Chuyển dịch cơ cấu trong công nghiệp hóa: Tham chiếu thực tiễn quốc tế với trường hợp Việt Nam

Thông qua việc tổng kết kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các quốc gia công nghiệp hóa thành công, bài viết cung cấp những tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng mô hình tăng trưởng mới, thúc đẩy phát triển công nghiệp và dịch vụ, hướng tới mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và thu nhập cao vào năm 2045.
Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Kinh nghiệm từ Vương quốc Anh và gợi mở cho Việt Nam trong phát triển hệ sinh thái tài chính bền vững

Bài viết phân tích mối quan hệ thương mại bền chặt giữa Việt Nam - Vương quốc Anh trong bối cảnh chuyển đổi xanh và bền vững, đồng thời làm rõ vai trò nổi bật của tài chính xanh dương trong quá trình tái cấu trúc chuỗi giá trị hàng hải như những động lực chiến lược cho hợp tác và phát triển Trung tâm tài chính quốc tế (IFC) tại Thành phố Hồ Chí Minh.

Thông tư số 23/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của các văn bản quy phạm pháp luật về quản lý ngoại hối liên quan đến hoạt động cung ứng dịch vụ ngoại hối của các tổ chức không phải là tổ chức tín dụng

Thông tư số 10/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 27/2024/TT-NHNN quy định về ngân hàng hợp tác xã, việc trích nộp, quản lý và sử dụng Quỹ bảo đảm an toàn hệ thống quỹ tín dụng nhân dân được sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư số 28/2025/TT-NHNN.

Thông tư số 13/2026/TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 53/2018/TT-NHNN quy định về mạng lưới hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 06/2026/TT-NHNN quy định về giám định tư pháp trong lĩnh vực tiền tệ, hoạt động ngân hàng và ngoại hối

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam