Dòng vốn ngân hàng "mở đường" cho mục tiêu tăng trưởng cao

Hoạt động ngân hàng
Trong bối cảnh áp lực lạm phát, tỉ giá và biến động tài chính quốc tế gia tăng, ngành Ngân hàng đang triển khai hàng loạt giải pháp nhằm hỗ trợ tăng trưởng kinh tế nhưng vẫn bảo đảm an toàn hệ thống tín dụng. Đây là những nội dung các chuyên gia, nhà khoa học thảo luận tại Tọa đàm “Vai trò của ngành Ngân hàng trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế” do Thời báo Ngân hàng tổ chức ngày 08/5/2026.
aa

Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) Phạm Thanh Hà: Quyết tâm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp và người dân, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế

Năm 2026 là năm đầu triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2026 - 2030, đồng thời là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với việc thực hiện các mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới. Quốc hội đã xác định mục tiêu phấn đấu tăng trưởng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) từ 10% trở lên, kiểm soát chỉ số giá tiêu dùng (CPI) bình quân khoảng 4,5%. Những mục tiêu này đặt ra yêu cầu rất cao đối với các ngành, các cấp, trong đó có ngành Ngân hàng.

Trong bối cảnh đó, vai trò của ngành Ngân hàng là hết sức quan trọng. Theo Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà, với chức năng là huyết mạch của nền kinh tế, ngành Ngân hàng có trách nhiệm huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính, đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng; hướng dòng vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng. Đồng thời, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng (TCTD).

Dòng vốn ngân hàng
Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà phát biểu khai mạc Tọa đàm

Ngay từ đầu năm, Thống đốc NHNN đã ban hành Chỉ thị số 01/CT-NHNN về tổ chức thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm của ngành Ngân hàng trong năm 2026, xác định yêu cầu xuyên suốt là điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; điều hành tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế; tập trung tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên và các động lực tăng trưởng. Đồng thời, kiểm soát nợ xấu và bảo đảm hệ thống TCTD hoạt động an toàn, lành mạnh. Dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống năm 2026 khoảng 15%, có điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế.

Tuy nhiên, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà cho rằng, bối cảnh hiện nay còn không ít khó khăn, thách thức. Nhu cầu vốn cho nền kinh tế là rất lớn, nhưng khả năng hấp thụ vốn của một số khu vực, lĩnh vực còn hạn chế. Nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa, vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận tín dụng. Việc mở rộng tín dụng phải gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát rủi ro, xử lý nợ xấu và bảo đảm an toàn hệ thống. Cùng với đó, kinh tế, thương mại, tài chính toàn cầu tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định, khó lường, tạo thêm sức ép cho công tác điều hành.

Trong bối cảnh đó, việc ngành Ngân hàng chủ động triển khai các giải pháp hỗ trợ nền kinh tế có ý nghĩa rất quan trọng. Tại cuộc họp triển khai công tác ngân hàng diễn ra vừa qua, các ngân hàng đã thể hiện sự đồng thuận cao trong việc giảm lãi suất huy động và lãi suất cho vay, cho thấy quyết tâm của toàn Ngành trong việc chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp và người dân, góp phần hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Từ thực tiễn đó, Phó Thống đốc NHNN Phạm Thanh Hà đề nghị các đại biểu tham dự Tọa đàm tập trung trao đổi, thảo luận một số nội dung trọng tâm. Cụ thể, phân tích sâu hơn vai trò của ngành Ngân hàng trong huy động, phân bổ và cung ứng nguồn vốn cho nền kinh tế, nhất là đối với các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng và các khu vực có tính lan tỏa cao. Đánh giá khách quan thực trạng tiếp cận vốn và khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế; nhận diện rõ những khó khăn, vướng mắc từ phía TCTD, doanh nghiệp, người dân và cơ chế, chính sách. Từ đó, đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả dẫn vốn của hệ thống ngân hàng; gắn mở rộng tín dụng với nâng cao chất lượng tín dụng, kiểm soát nợ xấu và bảo đảm an toàn hệ thống; làm rõ hơn ý nghĩa tích cực của việc đồng thuận giảm lãi suất, cũng như những dư địa, những khó khăn và thách thức mà ngành Ngân hàng phải đối mặt, đồng thời tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách và nâng cao hiệu quả công tác chỉ đạo, điều hành trong thời gian tới.

Ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính (NHNN): Nhận diễn thách thức, cơ hội của chính sách tiền tệ trong giai đoạn “bứt tốc phát triển” của nền kinh tế

Năm 2026 là năm mở đầu cho giai đoạn phát triển 2026 - 2030, đồng thời là thời điểm đất nước bước vào “vận hội mới”, “kỷ nguyên mới” với quyết tâm đưa Việt Nam phát triển lên tầm cao mới hướng tới các dấu mốc năm 2030 và 2045. Trong đó, mục tiêu tăng trưởng 2 con số trong giai đoạn 2026 - 2030 đã được xác định trong tinh thần Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 - 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng "2 con số". Đây là giai đoạn “bứt tốc phát triển” của nền kinh tế, song cũng đặt ra hàng loạt yêu cầu mới đối với công tác điều hành kinh tế vĩ mô, đặc biệt là chính sách tiền tệ. Theo đó, vấn đề đặt ra hiện nay là phải nhận diện rõ đâu là cơ hội, đâu là thách thức để có giải pháp ứng phó từ sớm, từ xa.

Dòng vốn ngân hàng mở đường cho mục tiêu tăng trưởng cao
Ông Nguyễn Phi Lân - Vụ trưởng Vụ Dự báo, thống kê - Ổn định tiền tệ, tài chính phát biểu tại Tọa đàm

Theo ông Nguyễn Phi Lân, năm 2025 từng được kỳ vọng là giai đoạn kinh tế thế giới phục hồi khi các ngân hàng trung ương có xu hướng nới lỏng chính sách tiền tệ và lạm phát giảm nhiệt. Theo thống kê của NHNN, trong năm 2025 có khoảng 153 lượt điều chỉnh lãi suất trên toàn cầu, trong đó chỉ có 23 lượt tăng và tới 130 lượt giảm lãi suất. Tuy nhiên, bước sang năm 2026, cục diện nhanh chóng thay đổi sau khi xung đột giữa Mỹ, Israel và Iran bùng phát từ cuối tháng 02/2026. Đây là biến động mà “không một ngân hàng trung ương hay tổ chức kinh tế nào có thể lường trước". Xung đột địa chính trị đã khiến giá dầu thế giới biến động mạnh, kéo theo khó khăn đối với vận tải, logistics, du lịch và thương mại quốc tế. Điều này làm gia tăng đáng kể áp lực lạm phát toàn cầu cũng như khiến triển vọng kinh tế thế giới trở nên bất định hơn. “Những dự tính, dự báo cuối năm 2025 cho năm 2026 và cả giai đoạn 2026 - 2030 đều phải được cân nhắc và đánh giá lại một cách thận trọng”, ông Nguyễn Phi Lân nhận định.

Bối cảnh mới đang đặt ra nhiều sức ép lớn đối với mục tiêu tăng trưởng cao của nền kinh tế. Theo ông Nguyễn Phi Lân, nhiều tổ chức quốc tế hiện dự báo tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2026 chỉ dao động từ 5,3 - 7,6%. Trong khi đó, mục tiêu mà Việt Nam đặt ra là tăng trưởng 2 con số, đòi hỏi phải có các giải pháp “khác biệt”, tận dụng tốt cơ hội và tạo động lực tăng trưởng mới cho nền kinh tế.

Ông Nguyễn Phi Lân cho biết, một trong những thách thức lớn nhất hiện nay, áp lực lạm phát đang gia tăng rõ nét trong năm 2026 dưới tác động của xung đột Trung Đông khiến giá dầu và giá nhiên liệu thế giới tăng mạnh. Lạm phát tháng 4/2026 đã tăng hơn 5% so với cùng kỳ năm trước, trong khi Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) cũng dự báo lạm phát của Việt Nam năm 2026 có thể lên tới 4,9%, vượt mục tiêu 4,5% do Quốc hội đề ra. Giá năng lượng leo thang không chỉ làm gia tăng chi phí sản xuất, vận tải mà còn tác động tới giá nhiều mặt hàng trong nước, đặc biệt là vật liệu xây dựng, từ đó tạo áp lực lớn lên kỳ vọng lạm phát và công tác điều hành chính sách tiền tệ.

Ngoài lạm phát, Việt Nam hiện cũng đang đối mặt nguy cơ nhập siêu trở lại sau nhiều năm duy trì xuất siêu. Chỉ trong 4 tháng đầu năm 2026, nền kinh tế đã bắt đầu xuất hiện xu hướng nhập siêu. Nếu năm 2025 cán cân thương mại vẫn ở trạng thái thặng dư thì sang năm 2026 có thể chỉ còn cân bằng hoặc thậm chí chuyển sang mất cân bằng nếu tình hình xấu hơn. Điều này kéo theo áp lực lớn đối với tỉ giá, trong bối cảnh NHNN đồng thời phải thực hiện nhiều mục tiêu như kiểm soát lạm phát, hỗ trợ giảm lãi suất và ổn định thị trường ngoại hối. “Đây là thách thức rất lớn đối với ngành Ngân hàng không chỉ trong năm 2026 mà cả giai đoạn 2026 - 2030

Trước thách thức này, ông Nguyễn Phi Lân nhấn mạnh, vai trò lớn nhất của ngành Ngân hàng là giữ ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng bền vững. Muốn đạt tăng trưởng cao, trước hết phải duy trì được các cân đối lớn của nền kinh tế. Nếu không kiểm soát tốt lạm phát thì tăng trưởng dù cao cũng khó tạo ra giá trị gia tăng thực chất.

Dư địa chính sách tiền tệ hiện nay không còn nhiều, vì vậy để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ông Nguyễn Phi Lân cho rằng cần phát huy mạnh hơn vai trò của chính sách tài khóa. Trong bối cảnh đó, ngành Ngân hàng sẽ tập trung điều hành thanh khoản phù hợp, đảm bảo an toàn hệ thống các TCTD và hỗ trợ nền kinh tế. Thanh khoản là yếu tố căn cơ và quan trọng nhất đối với hệ thống ngân hàng. Chỉ khi đảm bảo thanh khoản thì hệ thống mới có thể thực hiện được các mục tiêu kinh tế vĩ mô khác. Bên cạnh đó, sự phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa cùng các giải pháp điều hành kinh tế vĩ mô khác rất cần thiết nhằm vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa tạo dư địa cho tăng trưởng trong giai đoạn phát triển mới của đất nước, ông Nguyễn Phi Lân nhấn mạnh.

Bà Phạm Thị Thanh Tùng - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (NHNN): Hướng dòng vốn vào sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên là động lực của tăng trưởng kinh tế

Trong thời gian qua, xác định vai trò của dòng vốn ngân hàng đối với tăng trưởng kinh tế, NHNN đã chủ động thường xuyên rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách tín dụng và tín dụng ngành, lĩnh vực để đồng bộ với Luật Các TCTD, cũng như cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, phù hợp với yêu cầu cải cách, đơn giản hóa thủ tục, chuyển đổi số, góp phần tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong quan hệ tín dụng ngân hàng.

Dòng vốn ngân hàng
Bà Phạm Thị Thanh Tùng - Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế phát biểu tại Tọa đàm

Riêng năm 2025, bà Phạm Thị Thanh Tùng cho biết, NHNN đã trình Chính phủ ban hành 01 Nghị định và ban hành theo thẩm quyền 04 Thông tư liên quan đến chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn, sửa đổi bổ sung quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng. Hiện nay, NHNN đang tiếp tục xây dựng và hoàn thiện 01 Nghị định của Chính phủ, 01 Quyết định của Thủ tướng Chính phủ và 05 Thông tư về các vấn đề hỗ trợ lãi suất đối với dự án xanh, tuần hoàn, ESG (Môi trường, Xã hội và Quản trị), cấp tín dụng vượt giới hạn, các nghiệp vụ tín dụng như: Cho thuê tài chính, mua bán nợ của TCTD, bao thanh toán, cho vay đầu tư ra nước ngoài, cho vay của TCTD đối với khách hàng. Bà Phạm Thị Thanh Tùng cũng cho biết, trong thời gian tới NHNN sẽ trình hành lang pháp lý liên quan đến việc cấp tín dụng vượt giới hạn để tháo gỡ khó khăn trong việc triển khai các dự án lớn.

Đồng thời, NHNN cũng ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các TCTD liên quan đến công tác tín dụng chung, tín dụng ngành, lĩnh vực, định hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng theo chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ. Song song với đó, NHNN thường xuyên theo dõi diễn biến thị trường để kịp thời có văn bản chỉ đạo riêng về tín dụng đối với một số ngành, lĩnh vực quan trọng như: Lúa gạo, cà phê, nông nghiệp, xuất nhập khẩu... Gần đây nhất, trước diễn biến phức tạp của xung đột Trung Đông và tình hình năng lượng thế giới, NHNN đã kịp thời chỉ đạo các TCTD tiếp tục tạo điều kiện thuận lợi về ngoại tệ, tín dụng để các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh xăng dầu tiếp cận nguồn vốn phục vụ nhập khẩu, dự trữ và kinh doanh xăng dầu.

Để nắm bắt các khó khăn, vướng mắc trong quan hệ tín dụng ngân hàng và có giải pháp kịp thời xử lý, tháo gỡ, các chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp cũng được triển khai mạnh mẽ, sâu rộng. Từ đầu năm 2026 đến nay, trên toàn quốc đã có hơn 1.000 buổi gặp gỡ, cuộc đối thoại, kết nối ngân hàng - doanh nghiệp được tổ chức để đối thoại trực tiếp giữa ngân hàng với khách hàng tại các địa phương trên toàn quốc.

Cùng với đó, NHNN cũng đẩy mạnh triển khai các chương trình, chính sách tín dụng đối với ngành, lĩnh vực theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, với lãi suất thấp, ưu đãi từ chính nguồn lực của các TCTD; đồng thời, tích cực phối hợp với các bộ, ngành, địa phương có liên quan để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình thực hiện các chương trình này.

Cụ thể, Chương trình tín dụng đối với lĩnh vực nông, lâm, thủy sản đã 4 lần nâng quy mô và đã cho vay với doanh số giải ngân lũy kế đạt khoảng 185.500 tỉ đồng cho khoảng 63.000 lượt khách hàng vay vốn. Bên cạnh đó, Chương trình cho vay theo Quyết định số 1490/QĐ-TTg ngày 27/11/2023 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt Đề án "Phát triển bền vững một triệu héc-ta chuyên canh lúa chất lượng cao và phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh vùng đồng bằng sông Cửu Long đến năm 2030" đã giải ngân đạt khoảng 3.800 tỉ đồng; Chương trình cho vay nhà ở xã hội theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững đã cam kết cho vay gần 20.500 tỉ đồng, doanh số giải ngân đạt 9.900 tỉ đồng; Chương trình tín dụng đầu tư hạ tầng điện, giao thông, công nghệ chiến lược (mới được triển khai và đã ký hợp đồng tín dụng để tài trợ 8 dự án thuộc danh mục của Chương trình với tổng số tiền cam kết cấp tín dụng khoảng 70.932 tỉ đồng, đã giải ngân khoảng 7.600 tỉ đồng. Ngoài ra, ngành Ngân hàng cũng tích cực triển khai các giải pháp nhằm tháo gỡ khó khăn cho nền kinh tế, đặc biệt là chính sách cơ cấu lại thời hạn trả nợ, giữ nguyên nhóm nợ đối với khách hàng gặp khó khăn do một số nguyên nhân (gần đây nhất là chính sách cơ cấu nợ đối với khách hàng bị ảnh hưởng, thiệt hại do bão Yagi).

Bên cạnh đó, NHNN cũng tích cực triển khai nhiệm vụ liên quan đến hoạt động tín dụng tại các Nghị quyết, Chỉ thị, Kết luận của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế - xã hội, triển khai các đề án chiến lược kế hoạch phát triển tổng thể quốc gia, phát triển các ngành lĩnh vực kinh tế, đề án về phát triển các dự án công trình trọng điểm quan trọng, trong đó nhiều cơ chế, chính sách đặc thù vượt trội và chưa có tiền lệ.

Với việc triển khai đồng bộ các giải pháp nêu trên, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế Phạm Thị Thanh Tùng cho biết, tín dụng tăng đều từ đầu năm, đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế với quy mô dư nợ đến ngày 28/4/2026 đạt trên 19,4 triệu tỉ đồng, tăng 4,42% so với cuối năm 2025; tăng 18,26% so với cùng kỳ năm 2025. Trong đó, cơ cấu tín dụng tương đối phù hợp với cơ cấu các ngành kinh tế, tín dụng ngành nông nghiệp chiếm khoảng 6%, công nghiệp, xây dựng chiếm 23,5%, dịch vụ chiếm 70,5%.

Tín dụng đối với các lĩnh vực ưu tiên được quan tâm theo đúng định hướng, trong đó một số lĩnh vực chiếm tỉ trọng lớn như lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn (đạt 4,3 triệu tỉ đồng, chiếm khoảng 22,2%) và doanh nghiệp nhỏ và vừa (đạt gần 3,8 triệu tỉ đồng chiếm khoảng 20%); tín dụng đối với lĩnh vực xuất khẩu, doanh nghiệp ứng dụng công nghệ cao có tốc độ tăng trưởng cao (quý I/2026 tăng lần lượt là 11,2% và 18,81%).

Đối với lĩnh vực xanh, dư nợ tín dụng xanh đạt trên 780 nghìn tỉ đồng; dư nợ tín dụng đã được đánh giá rủi ro môi trường và xã hội đạt trên 5,1 triệu tỉ đồng, qua đó góp phần thực hiện chủ trương hạn chế các tác động tiêu cực đến môi trường khi thực hiện các dự án và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng bền vững. "Cùng với các nguồn vốn khác, tín dụng ngân hàng đã cung cấp nguồn tài chính thiết yếu để triển khai nhiều dự án, công trình trọng điểm (một số dự án được cam kết đầu tư tín dụng lớn lên tới hàng chục nghìn tỉ đồng), góp phần thực hiện một trong 3 đột phá chiến lược của Đảng về phát triển hạ tầng", bà Phạm Thị Thanh Tùng nhận định.

Bên cạnh kết quả đạt được, Phó Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế cũng chỉ ra hoạt động tín dụng ngân hàng còn gặp một số khó khăn, thách thức. Cụ thể, áp lực từ bên ngoài, gián đoạn nguồn cung, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, chiến tranh thương mại, chính sách thuế đối ứng, xung đột quân sự, giá năng lượng và chi phí vận tải leo thang... Bên cạnh đó, nền kinh tế còn phụ thuộc lớn vào tín dụng ngân hàng (tín dụng/GDP năm 2025 khoảng 145%), trong khi thị trường vốn chưa phát triển tương xứng; rủi ro kỳ hạn do vốn huy động VND chủ yếu là ngắn hạn (chiếm 80%), song nhu cầu vốn trung, dài hạn lớn tiềm ẩn rủi ro với các TCTD trong việc cân đối đảm bảo an toàn hệ thống. Áp lực thứ ba đối với hệ thống ngân hàng hiện nay là việc huy động và cân đối nguồn lực để đáp ứng nhu cầu vốn phục vụ phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số. Bộ Tài chính cho biết, nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026 - 2031 ước khoảng 38,5 triệu tỉ đồng; riêng năm 2026 vào khoảng 5,1 triệu tỉ đồng, trong đó, nhu cầu vốn tín dụng dự kiến khoảng 1,8 triệu tỉ đồng.

Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, con số này vẫn nằm trong định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15% của NHNN. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là các TCTD sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc huy động nguồn lực để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng tín dụng nói trên. Theo số liệu theo dõi từ quý IV/2025 đến giữa tháng 3/2026, tốc độ tăng trưởng huy động vốn luôn thấp hơn tốc độ tăng trưởng tín dụng. Điều này cho thấy tăng trưởng tín dụng đang vượt khả năng huy động vốn của các TCTD, xuất phát từ nhiều yếu tố của nền kinh tế. Đây cũng là nguyên nhân khiến các ngân hàng gặp khó khăn trong việc tạo lập nguồn vốn để đáp ứng nhu cầu tăng trưởng kinh tế trong thời gian tới.

Bên cạnh đó, đối với hoạt động tín dụng theo ngành, lĩnh vực, qua theo dõi việc triển khai các chương trình tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, có thể thấy vẫn còn nhiều khó khăn, vướng mắc. Đơn cử, việc mở rộng tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn gặp nhiều thách thức. Nguyên nhân chủ yếu đến từ những hạn chế nội tại của doanh nghiệp như năng lực tài chính yếu, thiếu minh bạch thông tin tài chính và quản trị. Điều này khiến các TCTD khó mở rộng cho vay, đặc biệt với các khoản vay không có tài sản bảo đảm.

Cùng với đó, những tồn tại của thị trường bất động sản tiếp tục tạo áp lực đối với hệ thống ngân hàng. Nhiều dự án còn vướng mắc pháp lý; thông tin thị trường thiếu minh bạch; cơ sở dữ liệu chung chưa đầy đủ; chưa có bộ chỉ tiêu đánh giá rõ ràng để nhận diện trạng thái ổn định hay rủi ro “bong bóng” của thị trường. Những yếu tố này gây khó khăn cho công tác thẩm định, đánh giá khoản vay và làm gia tăng rủi ro tín dụng. Việc triển khai một số chương trình tín dụng trọng điểm còn chậm, điển hình là chương trình cho vay nhà ở xã hội. Dù đã triển khai trong khoảng hai năm, tiến độ giải ngân vẫn gặp khó khăn, chủ yếu do thiếu nguồn cung nhà ở xã hội. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng giải ngân của các ngân hàng, mặc dù nhiều TCTD đã cam kết nguồn vốn và NHNN cũng đã áp dụng mức lãi suất ưu đãi cho chương trình.

Theo bà Phạm Thị Thanh Tùng, để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong thời gian tới, NHNN và ngành Ngân hàng sẽ triển khai các giải pháp tín dụng theo hướng chủ động, linh hoạt, tập trung vào các nhiệm vụ trọng tâm và các đột phá chiến lược theo định hướng của Đảng và Nhà nước trong giai đoạn mới.

Cụ thể, NHNN tiếp tục chủ động rà soát để sửa đổi, bổ sung nhằm hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế, chính sách liên quan đến hoạt động tín dụng ngân hàng, tín dụng ngành, lĩnh vực; tích cực tổ chức triển khai thực hiện nhiệm vụ của ngành Ngân hàng tại các Nghị quyết, chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước như về "tam nông", khoa học - công nghệ, phát triển kinh tế tư nhân, giáo dục, năng lượng, dự án, công trình trọng điểm…

Bên cạnh đó, NHNN điều hành và triển khai các giải pháp tín dụng phù hợp với diễn biến kinh tế vĩ mô, đáp ứng nhu cầu vốn tín dụng, phù hợp với khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế, hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng kinh tế, các dự án, công trình trọng điểm, khả thi, tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.

NHNN cũng sẽ tổ chức triển khai, theo dõi và kịp thời tháo gỡ vướng mắc trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình, chính sách tín dụng theo chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ; triển khai các nhiệm vụ của ngành Ngân hàng tại các Chương trình mục tiêu quốc gia; tiếp tục theo dõi, đánh giá các hoạt động tín dụng đối với ngành, lĩnh vực; ảnh hưởng của tình hình kinh tế thế giới, trong nước tới các ngành, lĩnh vực kinh tế để có giải pháp điều hành tín dụng phù hợp; kịp thời phối hợp với các Bộ, ngành liên quan xử lý khó khăn, vướng mắc phát sinh trong hoạt động tín dụng ngành, lĩnh vực.

Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ (NHNN): Cùng ngành Ngân hàng hóa giải "bộ ba bất khả thi" của nền kinh tế

Theo ông Phạm Chí Quang, áp lực đối với điều hành chính sách tiền tệ xuất phát từ những biến động khó lường của kinh tế - tài chính toàn cầu, đặc biệt là căng thẳng địa chính trị tại khu vực Trung Đông khiến mặt bằng giá dầu và lạm phát neo ở mức cao. IMF đã điều chỉnh dự báo lạm phát toàn cầu tăng thêm 0,6 điểm phần trăm, lên khoảng 4,4%, cao hơn mức thực tế năm 2025 là 4,1%. Trong bối cảnh đó, nhiệm vụ kiểm soát lạm phát tiếp tục là ưu tiên hàng đầu của các ngân hàng trung ương. Chính sách tiền tệ tại nhiều quốc gia đang trở nên khó dự báo hơn khi các cơ quan điều hành buộc phải điều chỉnh chính sách trước áp lực lạm phát kéo dài. Ngay cả Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) cũng đã thay đổi đáng kể định hướng điều hành lãi suất trong thời gian qua.

Dòng vốn ngân hàng
Ông Phạm Chí Quang - Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ trao đổi tại Toạ đàm

Những thay đổi trong chính sách tiền tệ toàn cầu sẽ kéo theo biến động về lãi suất, dòng vốn và tỉ giá, tạo áp lực lớn đối với các nền kinh tế có độ mở cao như Việt Nam. Ở trong nước đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số không chỉ trong năm 2026 mà còn trong cả giai đoạn 5 năm tới. Tuy nhiên, mục tiêu tăng trưởng cao trong bối cảnh áp lực lạm phát lớn đặt ra thách thức không nhỏ cho công tác điều hành chính sách tiền tệ, đặc biệt là yêu cầu vừa kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế. Đây là mục tiêu kép mà trong điều hành chính sách thường được ví như bài toán "bộ ba bất khả thi", đòi hỏi sự phối hợp nhịp nhàng giữa chính sách tiền tệ với chính sách tài khóa và các chính sách kinh tế vĩ mô khác.

Bên cạnh đó, Vụ trưởng Vụ Chính sách tiền tệ cũng nhấn mạnh độ trễ của chính sách và tác động tới tâm lý kỳ vọng của thị trường. Tại Việt Nam, kỳ vọng về tỉ giá và lạm phát luôn hiện hữu, trong khi đây là yếu tố rất khó kiểm soát và điều chỉnh. Vì vậy, để neo giữ kỳ vọng thị trường, điều quan trọng là phải duy trì ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát tốt lạm phát và điều hành chính sách một cách chủ động, linh hoạt, kịp thời, tránh gây ra các cú sốc cho nền kinh tế.

Về định hướng thời gian tới, ông Phạm Chí Quang cho biết, mục tiêu xuyên suốt của NHNN tiếp tục là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô và tạo dư địa hỗ trợ tăng trưởng trong phạm vi cho phép của chính sách tiền tệ. Theo ông, động lực để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số cần đến từ đổi mới sáng tạo, khoa học - công nghệ và nâng cao năng suất lao động, trong khi chính sách tài khóa sẽ đóng vai trò mở rộng và dẫn dắt. “Chính sách tiền tệ sẽ là chính sách hỗ trợ, bổ trợ cho chính sách tài khóa để neo giữ kỳ vọng về kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô”, ông Quang nhấn mạnh.

Liên quan đến điều hành lãi suất, NHNN thời gian qua đã triển khai nhiều giải pháp đồng bộ nhằm giảm lãi suất cho vay, hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Lãi suất là một trong những cấu phần quan trọng hình thành chi phí hoạt động của doanh nghiệp, do đó việc giảm lãi suất cho vay có ý nghĩa lớn đối với năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và nền kinh tế. Từ năm 2023 đến nay, NHNN duy trì ổn định lãi suất điều hành nhằm hỗ trợ mặt bằng lãi suất chung và tạo điều kiện cho các TCTD tiếp cận nguồn vốn chi phí thấp.

Để hỗ trợ quá trình giảm lãi suất, NHNN cũng triển khai nhiều biện pháp hỗ trợ thanh khoản thông qua nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ điều hành khác. Theo đó, cơ quan điều hành đã cung ứng lượng vốn lớn với kỳ hạn kéo dài tới 2 tháng nhằm hỗ trợ bình ổn thanh khoản thị trường và lan tỏa xu hướng giảm lãi suất từ thị trường liên ngân hàng sang thị trường huy động vốn của nền kinh tế. Ngoài ra, NHNN cũng triển khai nghiệp vụ hoán đổi ngoại tệ nhằm bổ sung thêm nguồn thanh khoản bằng đồng Việt Nam cho các TCTD.

Từ cuối quý I/2026, NHNN đã ban hành văn bản yêu cầu các TCTD bình ổn mặt bằng lãi suất, cơ cấu lại nguồn vốn và cân đối hoạt động huy động - cho vay. Ngày 09/4/2026, Thống đốc NHNN cùng lãnh đạo các đơn vị đã làm việc trực tiếp với 46 ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam để trao đổi về giải pháp giảm lãi suất. Sau cuộc họp, gần như toàn bộ các ngân hàng đã đồng thuận giảm lãi suất huy động ở các kỳ hạn từ 6 - 12 tháng với mức giảm từ 0,1 - 1%/năm. Theo thống kê, lãi suất bình quân của các khoản huy động mới phát sinh hiện ở mức khoảng 5,7%, giảm khoảng 0,26% so với cuối tháng 3/2026. Lãi suất cho vay bình quân cũng đã bắt đầu có xu hướng giảm nhẹ.

“Nếu sự lan tỏa của lãi suất huy động giảm tiếp tục đi vào cơ cấu nguồn vốn của các TCTD thì chúng tôi hoàn toàn tin tưởng lãi suất cho vay sẽ tiếp tục giảm để hỗ trợ nền kinh tế”, ông Phạm Chí Quang khẳng định.

Bên cạnh đó, NHNN tiếp tục điều hành linh hoạt, bám sát thị trường và duy trì chênh lệch lãi suất hợp lý giữa đồng Việt Nam và USD để giữ sức hấp dẫn của VND, qua đó góp phần giảm tình trạng đô la hóa trong nền kinh tế. Đối với tín dụng, NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng khoảng 15%, đồng thời tập trung vốn vào các lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng của nền kinh tế và kiểm soát chặt chẽ các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro nhằm bảo đảm an toàn hệ thống.

"Trong thời gian tới, NHNN sẽ tiếp tục điều hành đồng bộ, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ và phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa nhằm hướng tới ba mục tiêu: thúc đẩy tăng trưởng bền vững, không chủ quan với lạm phát và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô", ông Phạm Chí Quang cho biết.

Ông Nguyễn Quốc Anh - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính, Bộ Tài chính: Ưu tiên tăng chất lượng tăng trưởng, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển có thu nhập cao

Dòng vốn ngân hàng
Ông Nguyễn Quốc Anh - Phó Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế tài chính phát biểu tại Tọa đàm

Bối cảnh thế giới hiện nay đang đối mặt với nhiều biến động phức tạp và khó lường, từ xung đột vũ trang, đứt gãy chuỗi cung ứng, khủng hoảng năng lượng cho đến sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ và các cuộc đua về công nghệ. Trong bối cảnh đó, Việt Nam vẫn giữ vững được nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định trong giai đoạn 2021 - 2025. Cụ thể, tốc độ tăng trưởng bình quân cả giai đoạn đạt trên 6%, riêng năm 2025 tăng trưởng đạt 7%; quy mô nền kinh tế vượt 500 tỉ USD; tổng kim ngạch xuất nhập khẩu trên 900 tỉ USD; và thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) năm 2025 ước đạt trên 27 tỉ USD - mức cao nhất trong vòng 5 năm qua.

Dù sở hữu nền tảng vững chắc, ông Nguyễn Quốc Anh cho rằng, nền kinh tế nước ta vẫn đối diện với một số hạn chế nội tại. Hệ số sử dụng vốn (ICOR) vẫn đang ở mức cao, trong khi năng suất lao động chỉ bằng 1/3 Thái Lan và 1/10 Singapore. Đồng thời, lợi thế về dân số trẻ và lao động giá rẻ không còn nhiều do tốc độ già hóa dân số đang diễn ra nhanh chóng. Thực tiễn này đặt ra yêu cầu cấp thiết về một lộ trình tăng trưởng đột phá. Tăng trưởng không thể đơn thuần dựa vào sự gia tăng về số lượng mà phải hướng tới chất lượng, chuyển dịch từ mô hình phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu dựa trên năng suất, đổi mới sáng tạo và chất lượng thể chế.

Bám sát các mục tiêu được đề ra, ông Nguyễn Quốc Anh cho rằng, nền kinh tế cần ưu tiên 8 động lực cốt lõi để duy trì tốc độ tăng trưởng cao trong thời gian tới. Theo đó, cải cách thể chế vừa là động lực, vừa là dư địa quan trọng bậc nhất. Trọng tâm là cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, giảm bớt chi phí tuân thủ, rà soát tổng thể quy định pháp luật và xử lý dứt điểm các điểm nghẽn pháp lý. Việc này sẽ trực tiếp giải phóng sức sản xuất cho khu vực tư nhân - khu vực đang đóng góp tới 50% GDP và chiếm 85% lực lượng lao động.

Việc tinh giản các tầng nấc trung gian (như mô hình chính quyền hai cấp ở địa phương) không chỉ giúp giảm chi thường xuyên mà còn tháo gỡ ách tắc trong quy trình phê duyệt dự án. Dòng vốn ngân sách trung ương sẽ được luân chuyển trực tiếp và nhanh chóng hơn. Hơn nữa, đẩy mạnh phân quyền cho địa phương, đặc biệt trong quản lý đất đai, đầu tư và tài nguyên, sẽ tạo ra không gian sáng tạo lớn cho sự phát triển cấp cơ sở.

Bên cạnh đó, lấy khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực thời đại. Việc đưa Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vào thực tiễn là yếu tố then chốt. Với tốc độ tăng trưởng kinh tế số từ 15 - 20%/năm và quy mô dự kiến đạt 45 tỉ USD trong vài năm tới, đây là lĩnh vực có khả năng tạo ra giá trị gia tăng và năng suất lao động vượt trội. Cần có cơ chế thu hút doanh nghiệp đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn, bán dẫn, trung tâm dữ liệu và công nghệ xanh.

Đáng chú ý, cần đảm bảo an ninh tài chính để huy động nguồn lực. Giai đoạn 2021 - 2025 đã kiến tạo một nền tảng tài chính an toàn với mức bội chi bình quân chỉ 3,1% GDP và nợ công ở mức 33,8% GDP (thấp hơn nhiều so với trần Quốc hội cho phép và mức trung bình toàn cầu). Đây là dư địa chiến lược để nước ta có thể huy động nguồn lực cho các siêu dự án hạ tầng như đường sắt cao tốc Bắc - Nam, cảng biển cửa ngõ và hệ thống điện hạt nhân, tạo cú hích cho các chu kỳ tăng trưởng mới.

Đồng thời, cần nâng cao hiệu quả đầu tư công, bởi đầu tư công tiếp tục đóng vai trò là "vốn mồi" dẫn dắt đầu tư toàn xã hội. Điểm mấu chốt hiện nay không chỉ nằm ở tốc độ giải ngân nhanh mà còn ở tính hiệu quả thực chất của các dự án đối với tăng trưởng kinh tế - tinh thần đã được Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh nhiều lần. Đẩy nhanh thoái vốn, cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực doanh nghiệp nhà nước là yêu cầu cấp thiết. Một khối lượng khổng lồ tài sản đang tập trung tại khu vực này cần được khơi thông để bơm nguồn lực lớn vào nền kinh tế.

Ngoài ra, với 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA) đang thực thi, độ mở của nền kinh tế Việt Nam là rất lớn. Dư địa sắp tới không dừng lại ở việc mở rộng thị trường, mà là làm thế nào để vươn lên các phân khúc cao cấp hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Áp lực từ các FTA về tiêu chuẩn môi trường, lao động, quản trị sẽ là động lực tích cực buộc doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, thúc đẩy tăng trưởng xanh và phát triển bền vững. Thực hiện cam kết phát thải ròng bằng "0" vào năm 2050, Việt Nam phải biến các yêu cầu về chuyển đổi năng lượng, kinh tế tuần hoàn và tài chính xanh thành cơ hội phát triển. Năng lượng tái tạo, thị trường tín chỉ carbon và các chính sách hỗ trợ liên quan sẽ là mỏ vàng tạo thêm nguồn lực mới.

Bên cạnh các yếu tố trên, ông Nguyễn Quốc Anh cho rằng, quy mô thị trường nội địa gần 100 triệu dân cùng sự phát triển mạnh mẽ của tầng lớp trung lưu và thương mại điện tử là một lợi thế vô cùng lớn. Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy bất trắc và rủi ro, thị trường trong nước hoàn toàn đủ sức trở thành bệ đỡ vững chắc, giúp nền kinh tế duy trì đà phát triển.

Có thể thấy, dư địa tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian tới không chỉ nằm ở việc nới rộng quy mô đầu tư hay gia tăng xuất khẩu. Yếu tố quyết định để đạt được mục tiêu tăng trưởng cao nhưng vẫn đảm bảo tính bền vững trong trung và dài hạn chính là nâng cao năng suất, cải thiện chất lượng thể chế và kiến tạo các động lực mới dựa trên nền tảng công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng xanh, ông Nguyễn Quốc Anh khẳng định.

Ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank): Tín dụng ngân hàng mở rộng quy mô, bảo đảm tăng trưởng đúng hướng, hiệu quả và bền vững

Trong gần 40 năm đổi mới, nông nghiệp, nông dân, nông thôn luôn được xem là “trụ đỡ” của nền kinh tế Việt Nam, đặc biệt trong những giai đoạn nền kinh tế đối mặt với biến động và khủng hoảng. Theo ông Vương Văn Quý, xuyên suốt quá trình phát triển, Agribank luôn xác định khu vực “tam nông” là lĩnh vực trọng tâm và là sứ mệnh của ngân hàng. Định hướng này được đặt trong tổng thể các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước như Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị định số 156/2025/NĐ-CP ngày 16/6/2025 của Chính phủ chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn…

Dòng vốn ngân hàng
Ông Vương Văn Quý - Phó Trưởng ban Chính sách tín dụng Agribank phát biểu tại Tọa đàm

“Khi Đảng và Nhà nước đã xác định tam nông là trụ đỡ của kinh tế, Agribank chúng tôi cũng xác định sẽ là bệ đỡ vốn cho khu vực này”, ông Vương Văn Quý nhấn mạnh và cho biết thêm, đến ngày 30/4/2026, dư nợ cho vay nông nghiệp, nông thôn của Agribank đạt khoảng 1,03 triệu tỉ đồng, chiếm 64,2% tổng dư nợ của Agribank và tương đương khoảng 30% dư nợ nông nghiệp, nông thôn của toàn hệ thống ngân hàng. Cùng với đó, Agribank hiện có mạng lưới phủ kín 100% địa bàn cấp xã trên toàn quốc và đang phục vụ khoảng 2,7 triệu khách hàng, trong đó hơn 90% là khách hàng cá nhân ở khu vực nông thôn.

Không chỉ giữ vai trò là kênh dẫn vốn lớn cho khu vực “tam nông”, Agribank còn triển khai nhiều chương trình tín dụng chính sách quan trọng như cho vay hỗ trợ các huyện nghèo, cho vay giảm tổn thất trong nông nghiệp; chương trình cho vay nông - lâm - thủy sản và Đề án 1 triệu héc-ta lúa phát thải thấp chất lượng cao tại Đồng bằng sông Cửu Long. Bên cạnh đó, ngân hàng cũng tham gia triển khai hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi.

Trong bối cảnh tăng trưởng xanh và phát triển bền vững đang trở thành xu thế tất yếu, Agribank tập trung định hướng dòng vốn vào các mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, nông nghiệp xanh, sạch, hiện đại; các mô hình liên kết theo chuỗi, năng lượng tái tạo và kinh tế tuần hoàn nhằm thúc đẩy tái cơ cấu ngành nông nghiệp. Từ kết quả đạt được có thể khẳng định, Agribank không chỉ là một tổ chức tài chính tín dụng mà còn là một trụ cột tài chính của nền kinh tế khi vừa dẫn dắt dòng vốn cho khu vực nông nghiệp, nông thôn, vừa triển khai hiệu quả các chương trình tín dụng chính sách lớn của Chính phủ và NHNN.

Tuy nhiên, ông Vương Văn Quý cũng cho biết, trong bối cảnh sản xuất nông nghiệp mang tính mùa vụ, chu kỳ vốn dài và tiềm ẩn nhiều rủi ro từ thiên tai, dịch bệnh, tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò là nguồn vốn chủ lực để duy trì và phát triển sản xuất. Không chỉ đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất truyền thống, tín dụng ngân hàng còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch mô hình sản xuất, hỗ trợ tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Thông qua việc tăng cường liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp, nguồn vốn tín dụng góp phần giảm tình trạng sản xuất nhỏ lẻ, manh mún, từng bước hình thành các mô hình sản xuất quy mô lớn, hiệu quả và bền vững hơn.

Nguồn vốn tín dụng cũng tạo động lực cho quá trình xây dựng nông thôn mới thông qua đầu tư phát triển hạ tầng, mở rộng ngành nghề và thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động tại khu vực nông thôn. Việc tiếp cận vốn giúp nhiều hộ dân mở rộng sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, qua đó góp phần giảm nghèo bền vững và thu hẹp khoảng cách phát triển giữa khu vực thành thị và nông thôn.

Bên cạnh đó, tín dụng ngân hàng còn đóng vai trò quan trọng trong thúc đẩy tài chính toàn diện tại khu vực nông thôn. Người dân ngày càng có điều kiện tiếp cận hệ thống tài chính chính thức, các phương thức thanh toán không dùng tiền mặt cũng như các dịch vụ ngân hàng số hiện đại.

“Việc hình thành lịch sử tín dụng cho người dân khu vực nông thôn không chỉ góp phần hạn chế sự phụ thuộc vào tín dụng phi chính thức, tín dụng đen mà còn nâng cao hiểu biết tài chính và khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính an toàn, minh bạch”, ông Vương Văn Quý nhấn mạnh.

Để hỗ trợ hộ sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp nông thôn tiếp cận vốn hiệu quả hơn, ông Vương Văn Quý cho biết, Agribank đang triển khai đồng bộ nhiều giải pháp như mở rộng mạng lưới tiếp cận vốn; phối hợp với Hội Nông dân, Hội Phụ nữ và các tổ chức chính trị - xã hội duy trì khoảng 60.000 tổ vay vốn với gần 1 triệu thành viên tham gia; triển khai 68 điểm giao dịch bằng ô tô chuyên dùng tại khu vực nông thôn. Cùng với đó, Agribank đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng phù hợp với đặc thù nông nghiệp, nông thôn như cho vay theo mùa vụ, chu kỳ sản xuất, quy mô nhỏ; triển khai các chương trình ưu đãi lãi suất cho sản phẩm OCOP, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sạch.

Đáng chú ý, Agribank đang chuyển dần từ tư duy cho vay dựa trên tài sản thế chấp sang cho vay dựa trên dòng tiền. Theo ông Vương Văn Quý, đây không chỉ là thay đổi về phương thức cấp tín dụng mà còn là sự thay đổi trong tư duy phát triển ngân hàng nhằm phù hợp với xu hướng phát triển trong giai đoạn tới. Đồng thời, Agribank cũng đẩy mạnh cải cách thủ tục, đơn giản hóa hồ sơ, rút ngắn thời gian giải ngân và thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển thanh toán không dùng tiền mặt tại khu vực nông thôn.

Trong giai đoạn phát triển mới, ông Vương Văn Quý cho biết, yêu cầu đặt ra đối với tín dụng không chỉ là tăng trưởng về quy mô mà còn phải tăng trưởng đúng hướng, hiệu quả và bền vững. Điều này đồng nghĩa ngân hàng không chỉ đóng vai trò cung cấp vốn mà còn phải dẫn dắt dòng vốn vào các lĩnh vực xanh và phát triển bền vững nhằm góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế Việt Nam trong dài hạn.

Dòng vốn ngân hàng
Toàn cảnh Tọa đàm

Bà Vũ Thị Hồng Nhung - Trưởng phòng Chính sách sản phẩm bán buôn Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank): Xây dựng hệ sinh thái tài chính để quản trị dòng tiền, tối ưu chi phí và nâng cao khả năng tiếp cận vốn

Sau cuộc họp của NHNN với 46 ngân hàng thương mại về điều hành chính sách tiền tệ, hệ thống ngân hàng đã thể hiện một quyết tâm rất cao về việc giảm mặt bằng lãi suất huy động. Đặc biệt là ngay từ những cái ngày đầu tiên sau cuộc họp, 4 ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước đã đạt thống nhất giảm mặt bằng lãi suất huy động vốn tối thiểu là 0,5% đối với tất cả các kỳ hạn.

Dưới góc độ của ngân hàng, bà Vũ Thị Hồng Nhung đánh giá, mức giảm này thể hiện sự quyết tâm rất cao của cả hệ thống ngân hàng đối với nền kinh tế và đặc biệt để thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số mà còn góp phần củng cố hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ của Chính phủ và NHNN. Trong bối cảnh lãi suất huy động từng có xu hướng tăng cao từ đầu năm 2026, việc chủ động giảm lãi suất được xem là giải pháp quan trọng nhằm giữ ổn định chi phí vốn cho doanh nghiệp, đồng thời tránh nguy cơ hình thành cuộc đua lãi suất không mong muốn giữa các ngân hàng.

Với các ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước như Vietcombank, việc ổn định mặt bằng lãi suất còn gắn với trách nhiệm thực hiện các chương trình tín dụng theo định hướng của Chính phủ, đặc biệt là đưa vốn vào các lĩnh vực ưu tiên và khu vực sản xuất, kinh doanh. Trong bối cảnh đó, cạnh tranh của ngành Ngân hàng sẽ không còn dựa chủ yếu vào lãi suất huy động mà chuyển sang chất lượng sản phẩm, dịch vụ và khả năng đồng hành cùng khách hàng.

Dòng vốn ngân hàng
Bà Vũ Thị Hồng Nhung - Trưởng phòng Chính sách sản phẩm bán buôn Vietcombank phát biểu tại phiên thảo luận

Ở góc độ doanh nghiệp, theo quan sát của Vietcombank việc mặt bằng lãi suất liên tục tăng cao trong giai đoạn đầu năm 2026 đã khiến nhiều doanh nghiệp quan ngại trong việc mở rộng đầu tư, thậm chí phải điều chỉnh các phương án sản xuất, kinh doanh. Chính vì vậy, ổn định lãi suất sẽ giúp các doanh nghiệp yên tâm hơn trong việc hoạch định các phương án kinh doanh trong tương lai, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa. Không chỉ doanh nghiệp, người dân cũng được hưởng lợi từ xu hướng ổn định lãi suất. Khi chi phí vay tiêu dùng giảm bớt, áp lực tài chính đối với người dân cũng sẽ nhẹ hơn, qua đó góp phần thúc đẩy tiêu dùng và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

“Quan trọng hơn, dòng tiền sẽ hướng vào nền kinh tế thực thay vì chỉ đưa vào trông chờ lãi ngân hàng. Đây cũng là yếu tố giúp hệ thống ngân hàng giảm áp lực nợ xấu trong tương lai” bà Vũ Thị Hồng Nhung nhận định.

Từ thực tiễn hoạt động của Vietcombank, bà Vũ Thị Hồng Nhung nhận thấy, vai trò đồng hành với doanh nghiệp hiện không chỉ dừng lại ở việc cung cấp vốn mà còn xây dựng giải pháp và quản trị tài chính cho doanh nghiệp. Theo đó, Vietcombank luôn chú trọng phân bổ nguồn lực để phát triển đa dạng các khu vực kinh tế, bao gồm khu vực kinh tế Nhà nước, khu vực tư nhân và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài. Việc duy trì danh mục khách hàng đa dạng giúp Vietcombank có được nguồn vốn hợp lý với chi phí vốn phù hợp, từ đó có thể duy trì mặt bằng lãi suất cho vay ổn định trong thời gian qua đối với các doanh nghiệp và khách hàng của ngân hàng.

Không chỉ hoạt động với vai trò là một ngân hàng thương mại thông thường, Vietcombank còn thực hiện theo định hướng của Chính phủ, NHNN để hướng dòng vốn vào 5 lĩnh vực ưu tiên; gói tín dụng 500.000 tỉ đồng cho hạ tầng công nghệ số và các chương trình như nhà ở xã hội, chương trình liên quan đến thủy sản hay nông nghiệp. Đồng thời trong bối cảnh tác động từ xung đột Trung Đông, Vietcombank vẫn tham gia cung cấp vốn với chi phí ổn định, duy trì và thậm chí mở rộng hạn mức tín dụng đối với các doanh nghiệp xăng dầu.

Đặc biệt, bà Vũ Thị Hồng Nhung nhận định rằng, giữa ngân hàng và doanh nghiệp là mối quan hệ cộng sinh. Với hệ sinh thái gồm ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ cùng mạng lưới hiện diện ở nước ngoài, Vietcombank không chỉ hướng tới mối quan hệ 1 - 1 giữa ngân hàng và khách hàng mà còn kết nối hệ sinh thái của Vietcombank với hệ sinh thái của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, ngân hàng có thể tư vấn cho doanh nghiệp những giải pháp tài chính phù hợp và hiệu quả hơn.

“Khi tham gia vào chuỗi cung ứng, Vietcombank có thể quan sát được dòng tiền và hoạt động thực tế của doanh nghiệp, từ đó làm cơ sở cấp tín dụng thay vì chỉ phụ thuộc vào tài sản bảo đảm. Điều này góp phần giúp doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn với chi phí hợp lý hơn, đặc biệt là đối với nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa”, bà Vũ Thị Hồng Nhung cho biết thêm.

Song song với đó, Vietcombank cũng đầu tư mạnh cho công nghệ số nhằm hoàn thiện các giải pháp ngân hàng số, cho vay online và quản trị tài chính trên nhiều nền tảng khác nhau, phù hợp với từng nhóm doanh nghiệp. Theo đại diện ngân hàng, việc phát triển các giải pháp số sẽ hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu quản trị dòng vốn, đồng thời giảm thiểu chi phí hoạt động trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng lớn hiện nay.

PGS., TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng: Ngân hàng và doanh nghiệp - cơ chế cộng sinh mang tính cấu trúc, quyết định quỹ đạo tăng trưởng dài hạn

Tại Tọa đàm, PGS., TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng đánh giá cao các phân tích vĩ mô về chính sách tiền tệ và sự phối hợp tài khóa nhằm ổn định kinh tế, kiềm chế lạm phát. Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường, mối quan hệ giữa ngân hàng và doanh nghiệp không đơn thuần là người vay và người cho vay, mà là một cơ chế cộng sinh mang tính cấu trúc, quyết định quỹ đạo tăng trưởng dài hạn. Nếu ví doanh nghiệp là cỗ máy tạo ra của cải cho xã hội, thì hệ thống ngân hàng chính là "bình oxy" thiết yếu duy trì sự vận hành ổn định cho cỗ máy đó.

Dòng vốn ngân hàng
PGS., TS. Phạm Thị Hoàng Anh - Phó Giám đốc Học viện Ngân hàng phát biểu tại Tọa đàm

Dẫn chứng từ báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới tháng 4/2026 của IMF với tiêu đề "Nền kinh tế toàn cầu trong bóng tối của chiến tranh", PGS., TS. Phạm Thị Hoàng Anh cảnh báo về hàng loạt thách thức như bất ổn chính sách, khủng hoảng năng lượng và đứt gãy chuỗi cung ứng. Trong bối cảnh Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số vào năm 2026, áp lực lên mối quan hệ ngân hàng - doanh nghiệp là rất lớn. Dù tồn tại những xung đột lợi ích tất yếu về lãi suất, đây vẫn là "cặp đôi không thể chia tay" của nền kinh tế. Dưới sự điều tiết của NHNN, hai bên cần hài hòa lợi ích để cùng vượt qua giai đoạn đa cực đầy biến động.

PGS., TS. Phạm Thị Hoàng Anh khẳng định, tăng trưởng tín dụng không đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế có chất lượng nếu dòng vốn không được phân bổ đúng mục đích. Việc khơi thông dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất hiệu quả, hạn chế rủi ro là yếu tố then chốt để giảm thiểu nợ xấu và ngăn ngừa bất ổn vĩ mô. Bà đề xuất tín dụng trong thời gian tới phải ưu tiên cho các ngành có khả năng tạo ra năng suất lao động cao và giá trị gia tăng lớn, góp phần vào sự phát triển thực chất của quốc gia.

Để dòng vốn thực sự chuyển hóa thành động lực bền vững, PGS., TS. Phạm Thị Hoàng Anh nhấn mạnh vai trò tự thân của doanh nghiệp trong việc nâng cao năng lực tài chính và khả năng hấp thụ vốn. Doanh nghiệp không thể chỉ đòi hỏi sự hỗ trợ một chiều mà phải chứng minh được hiệu quả sử dụng vốn. Song song đó, các ngân hàng thương mại cần không ngừng cải thiện năng lực quản trị rủi ro và đặc biệt là chú trọng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của mô hình tăng trưởng mới.

Từ góc độ một chuyên gia đào tạo, PGS., TS. Phạm Thị Hoàng Anh khẳng định, dù nền kinh tế có thay đổi động lực theo hướng nào, hai yếu tố cốt lõi không bao giờ thay đổi là Vốn (Capital - K) và Lao động (Labor - L). Trong mọi mô hình tăng trưởng, con người luôn là yếu tố quyết định. Do đó, việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn từ hệ thống tài chính kết hợp với chiến lược phát triển nhân lực chất lượng cao chính là "chìa khóa" để thực hiện các cải cách thể chế, hành chính và thúc đẩy đầu tư công thành công trong tương lai.

PGS., TS. Đặng Ngọc Đức - Viện trưởng Viện công nghệ tài chính, Trường Đại học Đại Nam: Tăng cường chuyển đổi số, áp dụng công giảm thiểu rủi ro, giảm tải áp lực vốn cho hệ thống ngân hàng

Từ góc độ nghiên cứu, PGS., TS. Đặng Ngọc Đức cho rằng, việc đạt được các mục tiêu tăng trưởng trong bối cảnh thực tiễn của Việt Nam hiện nay thực sự là một thách thức lớn.

Dòng vốn ngân hàng
PGS., TS. Đặng Ngọc Đức, Viện trưởng Viện công nghệ tài chính, Trường Đại học Đại Nam phát biểu tại Tọa đàm

Để cụ thể hóa cơ chế vận hành linh hoạt, cần đặc biệt lưu tâm đến sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ - vốn là nền tảng cốt lõi trong điều hành vĩ mô. Thực tế cho thấy, dư địa của chính sách tài khóa hiện còn rất lớn, ít nhất là vượt trội hơn so với chính sách tiền tệ, xét cả về nguồn lực tại hệ thống Kho bạc Nhà nước lẫn các chính sách đang triển khai. Trong bối cảnh ưu tiên thúc đẩy tăng trưởng nhưng phải kiểm soát lạm phát, việc chú trọng vào các chính sách thuế và chi tiêu ngân sách... là lời giải hoàn toàn khả thi.

Về các kiến nghị cụ thể nhằm minh bạch hóa và nâng cao hiệu quả dòng vốn, PGS., TS. Đặng Ngọc Đức bày tỏ sự đồng thuận với quan điểm của các chuyên gia và nhà quản lý là thúc đẩy tăng trưởng doanh nghiệp không đồng nghĩa với việc phải liên tục gia tăng tín dụng hay nới lỏng cho vay. Nếu giữ nguyên quy mô dư nợ nhưng hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn, giá trị mang lại cũng tương đương với việc mở rộng nguồn vốn. Giải pháp này không chỉ giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn mà còn hỗ trợ các ngân hàng thương mại kiểm soát nợ xấu và hạn chế rủi ro tín dụng.

Trên thực tế, NHNN đã ban hành nhiều chủ trương bám sát định hướng này, điển hình như việc triển khai thí điểm cho vay ngang hàng (Peer-to-Peer Lending). Vấn đề then chốt nằm ở quản trị rủi ro và công nghệ chính là chìa khóa để giải quyết bài toán này. Nếu các ngân hàng thương mại vận hành thành công hệ thống này, áp lực huy động vốn sẽ được giải tỏa đáng kể, bởi dòng vốn khi đó sẽ được khơi thông trực tiếp trong cộng đồng, giảm thiểu rủi ro, từ đó giảm tải áp lực vốn cho hệ thống ngân hàng.

Ông Trần Văn Hiển - Trưởng Ban Kinh tế và Xúc tiến thương mại, Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VINASME): Giảm lãi suất trong thời gian qua là động thái "rất thiết thực và kịp thời" đối với cộng đồng doanh nghiệp

Theo đại diện VINASME, việc điều hành chính sách tiền tệ linh hoạt và duy trì mặt bằng lãi suất hợp lý thời gian qua đã góp phần hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh, giảm áp lực chi phí vốn và tạo thêm dư địa mở rộng hoạt động, đặc biệt đối với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm tới 98% tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế. Đây là lực lượng có vai trò quan trọng trong thúc đẩy tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, khai thác tiềm năng địa phương cũng như tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu thông qua các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Dòng vốn ngân hàng mở đường cho mục tiêu tăng trưởng cao
Ông Trần Văn Hiển - Trưởng Ban Kinh tế và Xúc tiến thương mại (VINASME) phát biểu tại Tọa đàm

Ông Trần Văn Hiển khẳng định, việc giảm lãi suất trong thời gian qua là động thái “rất thiết thực và kịp thời” đối với cộng đồng doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn đang chịu áp lực lớn về chi phí vốn và khả năng phục hồi sau giai đoạn khó khăn của nền kinh tế. Mặt bằng lãi suất thấp hơn giúp doanh nghiệp có điều kiện tiếp cận nguồn vốn chi phí hợp lý để tái cấu trúc hoạt động, đầu tư đổi mới công nghệ, chuyển đổi số và mở rộng thị trường kinh doanh. Đồng thời, đây cũng là yếu tố hỗ trợ doanh nghiệp tối ưu hóa quy trình sản xuất, giảm chi phí vận hành và nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường.

Tuy nhiên, dưới góc độ doanh nghiệp, ông Trần Văn Hiển chỉ ra rằng, hiện nay nhiều chương trình, quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chưa tạo được hiệu quả lan tỏa như kỳ vọng do số lượng doanh nghiệp tiếp cận được còn hạn chế. Đây là điểm nghẽn lớn khiến nhiều chính sách hỗ trợ dù đã được ban hành nhưng chưa thực sự đi vào thực tiễn hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tế, khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa còn nhiều hạn chế về năng lực quản trị, nguồn lực tài chính, khả năng ứng dụng công nghệ và năng lực cạnh tranh. Phần lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam xuất phát từ mô hình hộ kinh doanh, quy mô nhỏ, quản trị theo kinh nghiệm nên còn hạn chế trong việc xây dựng chiến lược phát triển dài hạn, quản trị tài chính, quản trị rủi ro cũng như khả năng thích ứng với yêu cầu mới của thị trường.

Trong bối cảnh nền kinh tế đang chuyển dịch mạnh theo hướng số hóa và phát triển xanh, ông Trần Văn Hiển cho rằng, việc nâng cao năng lực quản trị, đổi mới công nghệ và thúc đẩy chuyển đổi số là yêu cầu cấp thiết để doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu. Hiện nay, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa dù đã có nhiều quy định hỗ trợ chuyển đổi số và đổi mới công nghệ, song quá trình triển khai trên thực tế vẫn chưa đạt như kỳ vọng. Nhiều doanh nghiệp hiện vẫn khó tiếp cận các chương trình hỗ trợ do thiếu thông tin, thủ tục còn phức tạp hoặc điều kiện tiếp cận chưa phù hợp với thực tế hoạt động của doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Trưởng Ban Kinh tế và Xúc tiến thương mại VINASME dẫn chứng, theo quy định hiện hành, doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể được hỗ trợ chi phí sử dụng dịch vụ chuyển đổi số, tuy nhiên việc triển khai vẫn còn chậm và chưa tạo được độ phủ rộng trong cộng đồng doanh nghiệp. Vì vậy, việc sửa đổi, hoàn thiện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong thời gian tới được kỳ vọng sẽ tháo gỡ các rào cản về cơ chế, giúp các nguồn lực hỗ trợ đến gần hơn với doanh nghiệp. Qua đó tạo động lực thúc đẩy khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa phát triển bền vững và đóng góp hiệu quả hơn cho tăng trưởng kinh tế. Cùng với đó là tiếp tục hoàn thiện thể chế, xây dựng các cơ chế hỗ trợ thực chất hơn về đào tạo quản trị, tư vấn chuyển đổi số, đổi mới công nghệ và phát triển nguồn nhân lực cho khu vực doanh nghiệp này...

Ông Nguyễn Xuân Hải - Quyền Tổng Biên tập Thời báo Ngân hàng: Phối hợp nhịp nhàng để vốn ngân hàng đến "đúng địa chỉ, đúng nhu cầu" của nền kinh tế

Phát biểu tổng kết Tọa đàm, ông Nguyễn Xuân Hải khẳng định, các ý kiến tại Tọa đàm tiếp tục khẳng định vai trò quan trọng của ngành Ngân hàng trong nền kinh tế. Với chức năng là "huyết mạch" của nền kinh tế, ngành Ngân hàng không chỉ giữ vai trò cung ứng vốn mà còn có trách nhiệm huy động và phân bổ hiệu quả các nguồn lực tài chính, hướng dòng vốn vào các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, lĩnh vực ưu tiên, các động lực tăng trưởng và các khu vực có tính lan tỏa cao. Qua đó góp phần hỗ trợ thúc đẩy tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô và đảm bảo an toàn hệ thống ngân hàng.

Dòng vốn ngân hàng
Ông Nguyễn Xuân Hải - Quyền Tổng Biên tập Thời báo Ngân hàng phát biểu kết luận Tọa đàm

Đồng thời, các ý kiến tại Tọa đàm đã tập trung phân tích khá sâu những khó khăn, thách thức đối với ngành Ngân hàng trong bối cảnh hiện nay. Đó là nhu cầu vốn của nền kinh tế rất lớn nhưng khả năng hấp thụ vốn của một số khu vực, lĩnh vực còn hạn chế, nhất là khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa. Cùng với đó, bối cảnh kinh tế, thương mại, tài chính toàn cầu tiếp tục tiềm ẩn nhiều yếu tố bất định, khó lường, tạo thêm sức ép cho công tác điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng và hoạt động ngân hàng. Trong bối cảnh đó, việc mở rộng tín dụng phải gắn với nâng cao chất lượng tín dụng, hướng dòng vốn tín dụng vào sản xuất, kinh doanh, vào những lĩnh vực có tiềm năng tăng trưởng cao. Đồng thời phải kiểm soát rủi ro, xử lý nợ xấu và đảm bảo an toàn hệ thống.

Bên cạnh đó, một nội dung được nhiều đại biểu quan tâm và trao đổi thẳng thắn tại Tọa đàm là ý nghĩa của việc các ngân hàng đồng thuận giảm lãi suất trong thời gian vừa qua. Đây là tín hiệu rất tích cực, thể hiện quyết tâm của toàn ngành Ngân hàng trong việc chia sẻ khó khăn với cộng đồng doanh nghiệp và người dân, đồng hành cùng nền kinh tế.

“Tuy nhiên các ý kiến cũng nhấn mạnh rằng dư địa của chính sách tiền tệ hiện nay là khá hạn hẹp. Vì vậy, để việc giảm lãi suất huy động phát huy hiệu quả cần có sự phối hợp đồng bộ của nhiều giải pháp chính sách vĩ mô, đặc biệt là từ chính sách tài khóa. Bên cạnh đó, phải có giải pháp để nâng cao, cải thiện khả năng hấp thụ vốn của doanh nghiệp nói riêng, nền kinh tế nói chung”, ông Nguyễn Xuân Hải khẳng định.

Trên cơ sở đó, các chuyên gia, nhà khoa học đã gợi mở các giải pháp rất đáng chú ý để nâng cao hơn nữa hiệu quả dòng vốn tín dụng đối với nền kinh tế. Trong đó có những đề xuất liên quan đến việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách tín dụng, tăng cường phối hợp giữa các chính sách vĩ mô, đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo, đồng thời mở rộng dư địa cho tín dụng xanh phát triển bền vững.

Mượn câu thành ngữ "Một bàn tay vỗ không thành tiếng" từ các chuyên gia tham luận, ông Nguyễn Xuân Hải khẳng định, nỗ lực của một mình ngành Ngân hàng khó có thể thúc đẩy tăng trưởng. Thực tế này đòi hỏi sự chung tay, đồng hành của các bộ, ngành và sự điều phối nhịp nhàng từ các chính sách kinh tế vĩ mô khác, nhất là chính sách tài khóa.

Kết thúc Tọa đàm, ông Nguyễn Xuân Hải khẳng định, ngành Ngân hàng không chỉ nỗ lực cung ứng đủ vốn mà còn tập trung nâng cao hiệu quả dòng tiền, đưa vốn đến "đúng địa chỉ, đúng nhu cầu" nhằm phát huy giá trị cao nhất. Mọi giải pháp tăng trưởng đều phải được xây dựng trên nền tảng cốt lõi là giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và bảo đảm an toàn hệ thống.

Nhóm phóng viên

Tin bài khác

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Phát triển cho vay số toàn diện - Kinh nghiệm quốc tế và bài học cho Việt Nam

Trong bối cảnh chuyển đổi số lan tỏa mạnh mẽ, mô hình cho vay số toàn diện (end-to-end digital lending) đang nổi lên như trụ cột tái cấu trúc hoạt động tín dụng. Từ những kinh nghiệm quốc tế, bài viết gợi mở hướng phát triển mô hình cho vay số toàn diện phù hợp với Việt Nam.
Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Áp dụng các nguyên tắc ESG trong hoạt động ngân hàng: Tổng quan nghiên cứu và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích xu hướng tích hợp các yếu tố Môi trường, Xã hội và Quản trị (Environmental, Social, Governance - ESG) trong ngân hàng từ kinh nghiệm quốc tế và thực tiễn tại Việt Nam, qua đó đề xuất hàm ý chính sách thúc đẩy tài chính xanh và phát triển bền vững.
Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngành Ngân hàng Việt Nam: 75 năm hòa cùng khát vọng dân tộc

Ngày 6/5/1951, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 15/SL thành lập Ngân hàng Quốc gia Việt Nam (nay là Ngân hàng Nhà nước Việt Nam - NHNN). Đây là sự kiện trọng đại, đánh dấu lần đầu tiên nước ta có một ngân hàng của Nhà nước dân chủ nhân dân. Sự ra đời này là kết quả của quá trình xây dựng hệ thống tiền tệ, tín dụng độc lập, tự chủ, mở ra bước phát triển mới về chất trong hoạt động tài chính - tiền tệ. Trải qua 75 năm xây dựng, củng cố và phát triển, ngành Ngân hàng Việt Nam không ngừng lớn mạnh, đóng góp quan trọng vào thắng lợi của hai cuộc kháng chiến, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, đổi mới và hội nhập, góp phần đưa đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Hoạt động giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích kinh nghiệm quốc tế về giám sát ngân hàng trên cơ sở rủi ro, qua đó đề xuất các khuyến nghị nhằm góp phần hỗ trợ Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) chuyển đổi hiệu quả sang mô hình giám sát hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Chuyển đổi tư duy bảo vệ dữ liệu cá nhân: Xây văn hóa, củng cố niềm tin trong hoạt động ngân hàng

Sự hoàn thiện không ngừng của các quy định pháp lý đang giúp hệ thống ngân hàng định hình rõ nét chiến lược bảo vệ dữ liệu cá nhân, song cũng đặt ra không ít thách thức về quản lý sự thay đổi và nguồn lực triển khai. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) nhìn nhận đây là hành trình hoàn thiện công tác quản trị và bảo vệ dữ liệu cá nhân trong hoạt động ngân hàng. Hành trình này không chỉ dừng lại ở thay đổi các quy trình nghiệp vụ, mà sâu xa hơn, đây là quá trình nâng cao giá trị thương hiệu, mở ra cánh cửa để ngân hàng sẵn sàng trao đổi và chia sẻ dữ liệu trong hệ sinh thái mở.
Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Phát huy giá trị tinh thần ngày 30/4 lịch sử trong hành trình vươn mình của ngành Ngân hàng Việt Nam

Từ hào khí bất diệt của ngày 30/4 lịch sử đến nhịp sống sôi động của công cuộc kiến thiết đất nước hôm nay, ngành Ngân hàng đang tiếp nối tinh thần bất khuất và khát vọng vươn mình của dân tộc Việt Nam bằng những bước chuyển mình mạnh mẽ, khẳng định vai trò trụ cột tài chính và động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững trong kỷ nguyên mới.
Nhận thức về ngân hàng xanh và hành vi lựa chọn ngân hàng thân thiện môi trường tại Việt Nam

Nhận thức về ngân hàng xanh và hành vi lựa chọn ngân hàng thân thiện môi trường tại Việt Nam

Bài viết phân tích tác động của nhận thức ngân hàng xanh đến thái độ và hành vi lựa chọn của khách hàng Việt Nam, đồng thời làm rõ vai trò điều tiết của niềm tin môi trường trong việc thúc đẩy hành vi tài chính bền vững.
Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng: Tổng quan các phương pháp và hướng tiếp cận mới nổi

Đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng: Tổng quan các phương pháp và hướng tiếp cận mới nổi

Bài viết tổng quan các phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động của ngân hàng thương mại, đồng thời cập nhật các xu hướng nghiên cứu mới như mô hình mạng lưới, phân tích đa giai đoạn và tích hợp tiêu chí môi trường, xã hội, quản trị (ESG) nhằm nâng cao chất lượng đánh giá và hàm ý chính sách.
Xem thêm
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam

Việc nâng hạng tín nhiệm có điều kiện của Việt Nam cho thấy cách tiếp cận mới của thị trường quốc tế trong đánh giá rủi ro tín dụng, cho phép các công cụ nợ có bảo đảm được xếp hạng cao hơn trần tín nhiệm quốc gia. Động thái này phát đi tín hiệu tích cực tới nhà đầu tư và mở rộng dư địa huy động vốn trong giai đoạn chuyển tiếp trước khi Việt Nam đạt hạng tín nhiệm chủ quyền hạng đầu tư.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành