Quản lý trạng thái vàng của tổ chức tín dụng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN và một số vấn đề đặt ra trong thực tiễn

Chính sách
Bài viết phân tích toàn diện cơ chế xác định, giới hạn và giám sát trạng thái vàng của các tổ chức tín dụng (TCTD) theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) quy định về trạng thái vàng của các TCTD, qua đó làm rõ ý nghĩa quản lý rủi ro và những vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi.
aa

Tóm tắt: Trong bối cảnh vàng vẫn là tài sản có ảnh hưởng đáng kể đến ổn định tiền tệ và tâm lý thị trường tại Việt Nam, việc quản lý trạng thái vàng của các TCTD có ý nghĩa quan trọng đối với an toàn hệ thống tài chính. Bài viết phân tích khung pháp lý và cơ chế xác định, giám sát trạng thái vàng của TCTD theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN, đồng thời làm rõ ý nghĩa của các quy định về giới hạn trạng thái vàng, cơ chế báo cáo và giám sát rủi ro. Trên cơ sở so sánh với thông lệ quốc tế và đánh giá thực tiễn triển khai, bài viết chỉ ra một số vấn đề đặt ra trong quá trình thực thi và đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, góp phần bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng và ổn định thị trường vàng.

Từ khóa: Trạng thái vàng, TCTD, quản lý thị trường vàng, rủi ro thị trường.

GOLD POSITION MANAGEMENT OF CREDIT INSTITUTIONS
UNDER CIRCULAR NO. 82/2025/TT-NHNN AND EMERGING ISSUES IN PRACTICE

Abstract: In the context where gold remains an asset with significant influence on monetary stability and market sentiment in Vietnam, the management of gold positions of credit institutions plays an important role in ensuring the safety of the financial system. This article analyzes the legal framework and the mechanisms for determining and supervising gold positions of CIs under Circular No. 82/2025/TT-NHNN dated December 31, 2025, issued by the State Bank of Vietnam, which regulates gold positions of credit institutions. It also clarifies the significance of regulations on gold position limits, reporting mechanisms, and risk supervision. Based on a comparison with international practices and an assessment of implementation in practice, the article identifies several issues arising during enforcement and proposes recommendations to enhance regulatory effectiveness, thereby contributing to the safety of the banking system and the stability of the gold market.

Keywords: Gold position, credit institutions, gold market management, market risk.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Khung pháp lý về trạng thái vàng của TCTD

Khung pháp lý điều chỉnh hoạt động vàng của các TCTD tại Việt Nam được hình thành trên cơ sở các quy định về quản lý hoạt động kinh doanh vàng của Chính phủ và các văn bản hướng dẫn của NHNN. Trong đó, Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng, được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 là nền tảng pháp lý quan trọng trong việc kiểm soát hoạt động sản xuất, kinh doanh và lưu thông vàng trên thị trường. Trên cơ sở đó, Thống đốc NHNN đã ban hành Thông tư số 82/2025/TT-NHNN góp phần tăng cường quản lý rủi ro thị trường và bảo đảm an toàn hệ thống ngân hàng.

Theo quy định của Thông tư số 82/2025/TT-NHNN, phạm vi điều chỉnh tập trung vào việc xác định và kiểm soát trạng thái vàng của các TCTD được NHNN cấp phép sản xuất vàng miếng hoặc kinh doanh mua, bán vàng miếng. Các hoạt động vàng thuộc phạm vi điều chỉnh của Thông tư chủ yếu bao gồm sản xuất vàng miếng, kinh doanh mua - bán vàng miếng, mua - bán vàng nguyên liệu cũng như các hoạt động xuất khẩu và nhập khẩu vàng miếng, vàng nguyên liệu. Đáng chú ý, Thông tư số 82/2025/TT-NHNN chỉ điều chỉnh đối với các giao dịch mua, bán vàng miếng và vàng nguyên liệu thực hiện theo hình thức giao ngay tức là giao dịch mà việc thanh toán và giao nhận vàng được hoàn tất trong vòng hai ngày làm việc kể từ thời điểm thỏa thuận giao dịch.

Một nội dung quan trọng được quy định tại Thông tư này là việc xác định trạng thái vàng của TCTD. Theo đó, trạng thái vàng được hiểu là số dư vàng miếng và vàng nguyên liệu phát sinh từ các hoạt động kinh doanh vàng của TCTD, được quy đổi sang đồng Việt Nam theo giá vàng do chính TCTD công bố vào thời điểm cuối ngày báo cáo (Điều 2). Việc quy đổi này nhằm tạo cơ sở thống nhất để đo lường quy mô trạng thái vàng và đánh giá mức độ tiếp xúc rủi ro của TCTD đối với biến động giá vàng trên thị trường.

Bên cạnh đó, Thông tư cũng quy định nguyên tắc xác định trạng thái vàng được thực hiện tại thời điểm cuối ngày làm việc trên cơ sở tổng hợp các yếu tố phát sinh trong ngày, bao gồm khối lượng vàng miếng sản xuất, doanh số mua - bán vàng miếng và vàng nguyên liệu giao ngay cũng như các hoạt động nhập khẩu và xuất khẩu vàng (Điều 3). Cách tiếp cận này giúp phản ánh tương đối đầy đủ quy mô nắm giữ và nghĩa vụ phát sinh liên quan đến vàng của TCTD trong từng ngày giao dịch, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho việc giám sát và quản lý rủi ro thị trường.

Một điểm đáng chú ý khác trong khung pháp lý là việc loại trừ khỏi trạng thái vàng các số dư vàng phát sinh từ những hoạt động trước ngày 10/01/2013 - thời điểm gắn liền với quá trình chấm dứt huy động và cho vay vốn bằng vàng trong hệ thống ngân hàng. Cụ thể, các số dư vàng liên quan đến hoạt động huy động và cho vay vàng, chuyển đổi vàng sang đồng Việt Nam hoặc các nghĩa vụ vàng phát sinh trong giai đoạn trước tái cấu trúc thị trường vàng sẽ không được tính vào trạng thái vàng hiện hành. Quy định này giúp phân tách rõ ràng giữa các nghĩa vụ vàng mang tính lịch sử với các hoạt động kinh doanh vàng phát sinh trong khuôn khổ pháp lý hiện hành giúp nâng cao độ chính xác của dữ liệu giám sát và hạn chế các yếu tố gây nhiễu trong quá trình đánh giá rủi ro.

Có thể khẳng định, khung pháp lý về trạng thái vàng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN đã thiết lập các nguyên tắc cơ bản nhằm kiểm soát mức độ tham gia của TCTD vào hoạt động vàng, đồng thời tạo nền tảng pháp lý cho việc đo lường, giám sát và quản lý rủi ro thị trường liên quan đến vàng. Các quy định này không chỉ góp phần nâng cao kỷ luật thị trường trong hoạt động vàng của hệ thống ngân hàng, mà còn hỗ trợ cơ quan quản lý trong việc theo dõi các biến động của thị trường vàng và đánh giá tác động của chúng đối với ổn định tiền tệ và tài chính.

2. Cơ chế xác định và quản lý trạng thái vàng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN

Trên cơ sở khung pháp lý nêu trên, Thông tư số 82/2025/TT-NHNN thiết lập các cơ chế cụ thể nhằm xác định, đo lường và kiểm soát trạng thái vàng của các TCTD trong quá trình hoạt động. Cụ thể, Thông tư số 82/2025/TT-NHNN là một bước điều chỉnh quan trọng trong khuôn khổ quản lý thị trường vàng theo hướng gắn chặt hoạt động vàng của TCTD với mục tiêu an toàn hệ thống và ổn định vĩ mô. Việc Thông tư tập trung điều chỉnh trạng thái vàng của nhóm TCTD được phép sản xuất, kinh doanh vàng miếng và giới hạn phạm vi vào các giao dịch giao ngay cho thấy cơ quan điều hành ưu tiên kiểm soát các rủi ro phát sinh trực tiếp từ biến động giá vàng và từ dòng vào - ra vàng vật chất. Ở góc độ quản trị rủi ro, quy định này làm giảm đáng kể độ bất định do các cấu trúc giao dịch phức tạp, đồng thời tạo điều kiện để đo lường rủi ro thị trường theo cách trực quan hơn dựa trên trạng thái nắm giữ thực tế và các cam kết thanh toán, giao nhận trong thời hạn rất ngắn.

Cách thức xác định trạng thái vàng theo nguyên tắc “cuối ngày” và quy đổi ra đồng Việt Nam theo mức giá do TCTD công bố ở thời điểm báo cáo đặt trọng tâm vào khả năng nhận diện mức độ “tiếp xúc rủi ro” của từng tổ chức trong từng ngày giao dịch. Cơ chế này giúp cơ quan quản lý theo dõi được quy mô và xu hướng tích tụ trạng thái vàng trong hệ thống, đồng thời giúp chính các TCTD thiết lập giới hạn nội bộ, kiểm soát rủi ro thị trường và rủi ro thanh khoản một cách kịp thời. Khi trạng thái vàng được đo lường có hệ thống, quản trị ngân hàng có thể chuyển từ phản ứng bị động trước biến động giá sang chủ động điều chỉnh danh mục, cân đối giữa nguồn và trạng thái sử dụng vàng cũng như đánh giá tác động của vàng tới an toàn vốn và chất lượng tài sản.

Việc Thông tư số 82/2025/TT-NHNN quy định loại trừ các số dư vàng phát sinh trước năm 2013, thời điểm gắn liền với quá trình tái cấu trúc toàn diện khuôn khổ quản lý thị trường vàng có ý nghĩa quan trọng cả về phương diện quản lý rủi ro lẫn phương pháp phân tích chính sách. Cách tiếp cận này cho phép phân định rõ ràng giữa rủi ro tồn đọng từ các cơ chế quản lý trước đây và rủi ro thị trường phát sinh trong khuôn khổ pháp lý hiện hành, giúp nâng cao độ chính xác trong việc đánh giá mức độ tiếp xúc rủi ro vàng của các TCTD tại thời điểm báo cáo.

Từ góc độ giám sát an toàn hoạt động ngân hàng, việc không đưa số dư vàng lịch sử vào trạng thái vàng hiện hành góp phần loại bỏ yếu tố nhiễu trong dữ liệu giám sát đặc biệt trong bối cảnh các nghĩa vụ liên quan đến huy động, cho vay và chuyển đổi vàng sang đồng Việt Nam trước năm 2013 đã được xử lý theo các cơ chế chính sách khác nhau. Khi các yếu tố này được loại trừ, trạng thái vàng phản ánh sát hơn các quyết định kinh doanh hiện tại và năng lực quản trị rủi ro thị trường của TCTD, đồng thời nâng cao tính nhất quán và khả năng so sánh liên kỳ của số liệu báo cáo phục vụ công tác thanh tra, giám sát.

Bên cạnh đó, việc không áp dụng nguyên tắc hồi tố đối với các số dư vàng phát sinh trước giai đoạn tái cấu trúc thị trường vàng còn có ý nghĩa quan trọng đối với ổn định bảng cân đối kế toán và an toàn vốn của các TCTD, giúp hạn chế phát sinh rủi ro pháp lý và rủi ro tuân thủ. Từ góc độ thể chế, đây là yếu tố góp phần củng cố tính nhất quán, khả dự báo và độ tin cậy của chính sách, là điều kiện nền tảng đối với ổn định tài chính. Khi dữ liệu về trạng thái vàng phản ánh đúng mức độ rủi ro đang tồn tại trong hệ thống, NHNN có cơ sở định lượng vững chắc hơn để đánh giá kênh lan truyền từ biến động giá vàng sang tỉ giá, kỳ vọng lạm phát và tâm lý thị trường, qua đó hỗ trợ mục tiêu ổn định hệ thống tài chính trong bối cảnh vàng vẫn là một tài sản nắm giữ quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam.

3. Giới hạn trạng thái vàng và ý nghĩa quản lý rủi ro

Thông tư số 82/2025/TT-NHNN thiết lập giới hạn trạng thái vàng gắn trực tiếp với quy mô vốn tự có của TCTD đã phản ánh quan điểm quản lý rủi ro thận trọng khi coi vàng là một yếu tố có khả năng gây biến động đáng kể đối với bảng cân đối kế toán nếu không được kiểm soát phù hợp. Đồng thời, việc phân biệt mức giới hạn trạng thái vàng giữa TCTD được phép sản xuất vàng miếng và TCTD chỉ tham gia kinh doanh mua, bán vàng miếng cho thấy cơ quan quản lý đã tính đến sự khác biệt về mức độ tham gia chuỗi giá trị vàng và mức độ tiếp xúc rủi ro của từng nhóm chủ thể. Quy định không cho phép duy trì trạng thái vàng âm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc hạn chế các hành vi mang tính đầu cơ và phòng ngừa rủi ro mất cân đối trong hoạt động vàng của hệ thống ngân hàng. Khi trạng thái vàng bị giới hạn ở mức dương và trong một biên độ an toàn so với vốn tự có, các TCTD buộc phải quản lý chặt chẽ nguồn sử dụng vàng, đồng thời cân nhắc đầy đủ tác động của biến động giá vàng đến an toàn vốn và khả năng thanh khoản. Cơ chế cho phép áp dụng ngoại lệ trong những trường hợp đặc biệt, trên cơ sở chấp thuận của Thống đốc NHNN, góp phần bảo đảm tính linh hoạt trong điều hành, đồng thời vẫn duy trì được kỷ luật thị trường và vai trò kiểm soát tập trung của cơ quan quản lý.

Cơ chế kiểm soát chặt chẽ trạng thái vàng của các TCTD có tác động lan tỏa tích cực đến ổn định thị trường vàng trong nước và điều hành chính sách tiền tệ. Khi vai trò nắm giữ và kinh doanh vàng của ngân hàng bị giới hạn trong những ngưỡng an toàn, nguy cơ tích tụ rủi ro mang tính hệ thống và hiện tượng “vàng hóa” trong nền kinh tế được kiềm chế hiệu quả hơn, góp phần làm giảm áp lực lên tỉ giá, hạn chế các kênh truyền dẫn bất lợi từ biến động giá vàng sang thị trường tiền tệ, đồng thời tạo điều kiện để dòng vốn được phân bổ nhiều hơn cho khu vực sản xuất, kinh doanh. Chính sách về giới hạn trạng thái vàng không chỉ góp phần bảo đảm an toàn vốn của hệ thống ngân hàng mà còn hỗ trợ NHNN nâng cao hiệu quả truyền dẫn của chính sách tiền tệ, đặc biệt trong bối cảnh yêu cầu ổn định kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát ngày càng trở nên cấp thiết.

Báo cáo trạng thái vàng hằng ngày giúp NHNN đánh giá mức độ tiếp xúc rủi ro của từng TCTD, mức độ đồng biến và tập trung rủi ro trong toàn hệ thống. Khi nhiều TCTD đồng thời gia tăng trạng thái vàng theo cùng một hướng, nguy cơ hình thành các hành vi mang tính chu kỳ và khuếch đại có thể xuất hiện, làm gia tăng tính dễ tổn thương của hệ thống tài chính trước các cú sốc từ bên ngoài. Trong trường hợp này, thông tin báo cáo hằng ngày cho phép cơ quan quản lý kịp thời triển khai các biện pháp điều hành phù hợp nhằm hạn chế sự tích tụ rủi ro mang tính hệ thống.

Bên cạnh đó, việc phân công rõ ràng trách nhiệm giám sát, thanh tra và xử lý vi phạm cho các đơn vị chức năng góp phần củng cố cơ chế phối hợp giữa giám sát vi mô và giám sát vĩ mô. Sự kết nối này cho phép các phát hiện ở cấp độ TCTD được tổng hợp và phân tích ở cấp độ hệ thống, qua đó nâng cao hiệu quả nhận diện rủi ro mang tính lan truyền và rủi ro chéo giữa các thị trường. Trong tổng thể, cơ chế báo cáo và giám sát trạng thái vàng theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN không chỉ phục vụ mục tiêu tuân thủ mà còn đóng vai trò là công cụ hỗ trợ điều hành chính sách tiền tệ và an toàn vĩ mô, góp phần tăng cường khả năng chống chịu của hệ thống ngân hàng trước các cú sốc từ biến động giá vàng và môi trường kinh tế toàn cầu.

Từ góc độ điều hành chính sách, cơ chế báo cáo và giám sát trạng thái vàng được thiết lập theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN không chỉ góp phần nâng cao tính minh bạch và kỷ luật thị trường mà còn tạo lập một hạ tầng dữ liệu có tần suất cao phục vụ công tác phân tích, dự báo và phối hợp điều hành chính sách tiền tệ và ngoại hối. Việc thu thập thông tin trạng thái vàng một cách thường xuyên và có hệ thống cho phép cơ quan quản lý tích hợp dữ liệu này vào các mô hình theo dõi thanh khoản, giám sát rủi ro thị trường và đánh giá ổn định tài chính, qua đó nâng cao chất lượng các quyết định điều hành. Cơ chế báo cáo và giám sát trạng thái vàng không chỉ mang ý nghĩa tuân thủ hay kiểm soát rủi ro vi mô mà còn trở thành một cấu phần của khung điều hành chính sách vĩ mô dựa trên thông tin và cảnh báo sớm, hỗ trợ NHNN chủ động trong việc ổn định thị trường tài chính và kiểm soát rủi ro hệ thống trong bối cảnh môi trường kinh tế - tài chính ngày càng phức tạp và có mức độ liên thông cao.

4. So sánh với thông lệ quốc tế về các quy định quản lý trạng thái vàng

Từ góc độ kinh nghiệm quốc tế, các quy định về quản lý trạng thái vàng của Việt Nam theo Thông tư số 82/2025/TT-NHNN có sự tương đồng đáng kể với các khuyến nghị và chuẩn mực giám sát an toàn do Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) và Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) xây dựng. Theo các tài liệu của IMF, đặc biệt là Bộ chỉ số lành mạnh tài chính (Financial Soundness Indicators) và Báo cáo Ổn định Tài chính Toàn cầu (Global Financial Stability Report), việc giám sát rủi ro thị trường là một nội dung quan trọng nhằm bảo đảm an toàn và ổn định của hệ thống tài chính. Các rủi ro phát sinh từ những tài sản có biến động giá mạnh cần được nhận diện, đo lường và theo dõi thường xuyên như một bộ phận của khung giám sát an toàn vĩ mô nhằm hạn chế khả năng lan truyền sang hệ thống ngân hàng và thị trường tiền tệ. IMF cũng nhấn mạnh vai trò của dữ liệu báo cáo định kỳ và có tần suất cao trong việc hỗ trợ phân tích giám sát an toàn vĩ mô và cơ chế cảnh báo sớm rủi ro hệ thống.

Trong khi đó, các chuẩn mực Basel II và Basel III tiếp cận việc quản lý vàng chủ yếu thông qua khung quản lý rủi ro thị trường. Theo đó, các ngân hàng phải đo lường mức độ tiếp xúc rủi ro của các vị thế hàng hóa (bao gồm vàng) và gắn việc quản lý các vị thế này với yêu cầu an toàn vốn. Các cải cách Basel sau khủng hoảng tài chính nhấn mạnh việc kiểm soát chặt chẽ các vị thế giao dịch có khả năng gây biến động lớn đối với bảng cân đối kế toán thông qua yêu cầu vốn, giới hạn nội bộ và hệ thống giám sát rủi ro liên tục. Bên cạnh đó, Basel cũng coi trọng tính nhất quán và khả năng so sánh của dữ liệu giám sát nhằm hỗ trợ việc đánh giá rủi ro mang tính chu kỳ và rủi ro tập trung trong hệ thống ngân hàng.

Đặt trong bối cảnh đó, quy định của Việt Nam về giới hạn trạng thái vàng gắn với vốn tự có, chế độ báo cáo định kỳ với tần suất cao và cơ chế giám sát tập trung cho thấy sự tiệm cận nhất định với thông lệ quốc tế. Mặc dù không áp dụng trực tiếp cơ chế tính yêu cầu vốn theo chuẩn Basel đối với các vị thế vàng, cách tiếp cận của Thông tư số 82/2025/TT-NHNN vẫn phản ánh tinh thần cốt lõi của các chuẩn mực do IMF và BCBS khuyến nghị là kiểm soát mức độ tiếp xúc rủi ro thị trường, nâng cao tính minh bạch và khả năng so sánh của dữ liệu giám sát, đồng thời tăng cường năng lực theo dõi và cảnh báo sớm nhằm bảo đảm ổn định của hệ thống tài chính trong bối cảnh biến động của thị trường vàng có thể tác động đáng kể đến bảng cân đối của các TCTD cũng như kỳ vọng của các chủ thể trong nền kinh tế.

5. Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về quản lý trạng thái vàng tại Việt Nam

Một là, NHNN cần tiếp tục ban hành các hướng dẫn nghiệp vụ chi tiết nhằm thống nhất cách hiểu và phương pháp xác định trạng thái vàng trong toàn hệ thống TCTD. Nội dung hướng dẫn tập trung vào việc chuẩn hóa phương pháp xác định trạng thái vàng và quy trình lập, gửi báo cáo trạng thái vàng theo quy định, đồng thời làm rõ phạm vi các giao dịch được tính vào trạng thái vàng, nguyên tắc ghi nhận và tổng hợp số liệu cũng như phương pháp xử lý đối với các trường hợp phát sinh đặc thù trong thực tiễn hoạt động. Việc ban hành hướng dẫn cụ thể và thống nhất sẽ góp phần hạn chế các cách hiểu khác nhau giữa các TCTD, nâng cao tính minh bạch và độ chính xác của dữ liệu báo cáo, qua đó hỗ trợ cơ quan quản lý theo dõi và đánh giá kịp thời các rủi ro liên quan đến hoạt động kinh doanh vàng của hệ thống ngân hàng.

Hai là, các TCTD cần chủ động rà soát, hoàn thiện và nâng cấp đồng bộ hệ thống quản trị rủi ro, kế toán và công nghệ thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu theo dõi và báo cáo trạng thái vàng hằng ngày theo quy định của Thông tư số 82/2025/TT-NHNN. Việc quản lý trạng thái vàng cần được tích hợp vào khung quản trị rủi ro thị trường và quản trị an toàn vốn của TCTD, thay vì chỉ được xem là một nghiệp vụ riêng lẻ. Khi trạng thái vàng được theo dõi liên tục và gắn với các chỉ tiêu an toàn vốn, các TCTD có thể chủ động hơn trong việc đánh giá mức độ tiếp xúc rủi ro, điều chỉnh danh mục hoạt động vàng cũng như kiểm soát tác động của biến động giá vàng đối với bảng cân đối kế toán và khả năng thanh khoản. Cách tiếp cận này không chỉ góp phần nâng cao mức độ tuân thủ quy định mà còn củng cố năng lực quản trị rủi ro của các TCTD theo hướng tiệm cận các thông lệ quốc tế.

Ba là, cần thiết lập và duy trì cơ chế trao đổi thông tin thường xuyên, có tính hệ thống giữa NHNN và các TCTD nhằm kịp thời tiếp nhận, phản hồi và xử lý các vướng mắc phát sinh trong quá trình triển khai Thông tư số 82/2025/TT-NHNN. Cơ chế này không chỉ là kênh truyền đạt và giải thích chính sách, mà còn giúp cơ quan quản lý nắm bắt sát thực tiễn hoạt động vàng của các TCTD, từ đó đánh giá mức độ phù hợp của các quy định hiện hành và chủ động điều chỉnh biện pháp quản lý khi cần thiết. Việc tăng cường trao đổi thông tin hai chiều sẽ góp phần nâng cao tính thống nhất trong thực thi chính sách, hạn chế rủi ro phát sinh từ cách hiểu hoặc áp dụng không đồng nhất, đồng thời củng cố sự phối hợp giữa cơ quan quản lý và các TCTD trong mục tiêu bảo đảm an toàn hệ thống và ổn định thị trường vàng.

6. Kết luận

Thông tư số 82/2025/TT-NHNN thông qua việc thiết lập các quy định cụ thể về giới hạn trạng thái vàng, cơ chế báo cáo và giám sát, đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý đối với hoạt động vàng của các TCTD tại Việt Nam. Việc triển khai đồng bộ và hiệu quả các quy định của Thông tư không chỉ nâng cao kỷ luật thị trường và củng cố an toàn hoạt động của hệ thống ngân hàng mà còn tạo nền tảng hỗ trợ ổn định thị trường tiền tệ, kiểm soát rủi ro mang tính hệ thống và tăng cường hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ. Qua đó, Thông tư số 82/2025/TT-NHNN đã góp phần thúc đẩy mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô và phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Tài liệu tham khảo

1. Basel Committee on Banking Supervision (2011), Basel III: A global regulatory framework for more resilient banks and banking systems.

2. Basel Committee on Banking Supervision (2017), Basel III: Finalising post-crisis reforms.

3. International Monetary Fund (2023), Global financial stability report: Banking sector stress and financial stability.

4. Nghị định số 24/2012/NĐ-CP ngày 03/4/2012 của Chính phủ về quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

5. Nghị định số 232/2025/NĐ-CP ngày 26/8/2025 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 24/2012/NĐ-CP về quản lý hoạt động kinh doanh vàng.

6. Thông tư số 82/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 của NHNN quy định về trạng thái vàng của các TCTD.

Ngô Thị Huyền Linh
Thanh tra NHNN

Tin bài khác

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Nâng cao năng suất lao động để vượt qua bẫy thu nhập trung bình: Từ thực tiễn kinh tế Việt Nam

Trong bối cảnh kinh tế Việt Nam duy trì đà tăng trưởng cao nhưng đứng trước nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình, việc nâng cao năng suất lao động trở thành chìa khóa then chốt để bứt phá, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập cao vào năm 2045.
Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và những tác động đến lĩnh vực ngân hàng tại Việt Nam

Bài viết phân tích những nội dung trọng tâm của Luật Trí tuệ nhân tạo năm 2025 và làm rõ các tác động đa chiều đối với hệ thống ngân hàng, từ quản trị rủi ro, chi phí vận hành đến chiến lược cạnh tranh, qua đó đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong bối cảnh chuyển đổi số.
Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngành Ngân hàng nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân

Ngày 09/4/2026, tại Hà Nội, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã tổ chức cuộc họp triển khai công tác ngân hàng dưới sự chủ trì của Thống đốc NHNN Phạm Đức Ấn. Tại cuộc họp, các ngân hàng thương mại (NHTM) đã thống nhất, đồng thuận cao trong việc thực hiện chủ trương của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và NHNN trong việc nỗ lực giảm mặt bằng lãi suất thị trường để hỗ trợ doanh nghiệp và người dân. Theo đó, các NHTM cam kết đồng thuận giảm lãi suất tiền gửi và lãi suất cho vay sau cuộc họp này.
Xem thêm
Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Chia sẻ thông tin và giám sát an toàn tài chính tại Việt Nam: Tiếp cận từ Thông tư số 01/2026/TT-NHNN

Bài viết định hình cơ chế chia sẻ thông tin liên thông và linh hoạt, góp phần nâng cao hiệu quả giám sát, tăng cường khả năng cảnh báo sớm rủi ro và thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Định hướng khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp tại Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết phân tích sự cần thiết và định hướng hoàn thiện khung chính sách đầu tư cho phát triển du lịch nông nghiệp ở Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, trước yêu cầu chuyển đổi xanh, tái cơ cấu nông nghiệp và nâng cao hiệu quả huy động nguồn lực cho phát triển bền vững khu vực nông thôn ngày càng trở nên cấp thiết.
Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Chính sách tiền tệ Việt Nam qua 75 năm: Từ ổn định kinh tế vĩ mô đến kiến tạo tăng trưởng bền vững

Bài viết phân tích chặng đường 75 năm hình thành và phát triển của chính sách tiền tệ Việt Nam, làm rõ quá trình chuyển đổi từ mô hình ngân hàng một cấp sang hai cấp, vai trò điều hành của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong ổn định kinh tế vĩ mô, xử lý khủng hoảng và tái cơ cấu hệ thống, đồng thời nhấn mạnh định hướng phát triển trong kỷ nguyên số - xanh nhằm thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.
Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Khơi thông nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế xanh tại Việt Nam

Trước yêu cầu cấp thiết về chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng bền vững, bài viết phân tích thực trạng huy động vốn cho kinh tế xanh tại Việt Nam, chỉ ra những rào cản chủ yếu và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế gắn với bảo vệ môi trường.
Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Hoàn thiện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước theo hướng minh bạch, trách nhiệm giải trình tại Việt Nam

Bài viết phân tích toàn diện cơ chế lập, chấp hành và quyết toán ngân sách nhà nước (NSNN) tại Việt Nam giai đoạn 2020 - 2025, qua đó chỉ ra những tiến bộ về minh bạch và trách nhiệm giải trình, đồng thời nhận diện các thách thức trong thực thi và đề xuất giải pháp cải cách theo hướng hiện đại, hiệu quả và tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam

Bài viết phân tích cách tiếp cận quản trị rủi ro trong hoạch định và truyền thông chính sách tiền tệ (CSTT) của Ngân hàng Trung ương Canada (Bank of Canada - BoC), qua đó rút ra một số bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo đối với Việt Nam trong bối cảnh bất định kinh tế ngày càng gia tăng.

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng

Thông tư số 76/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 24/2019/TT-NHNN quy định về tái cấp vốn dưới hình thức cho vay lại theo hồ sơ tín dụng đối với tổ chức tín dụng

Thông tư số 75/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số quy định tại các VBQPPL trong lĩnh vực quản lý hoạt động cung ứng dịch vụ và sử dụng ngoại hối để thực thi phương án cắt giảm, đơn giản hoá thủ tục hành chính

Thông tư số 67/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2026 bãi bỏ một số văn bản quy phạm pháp luật do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành