Huy động nguồn lực tư nhân cho đầu tư xanh: Thực tiễn triển khai và hàm ý chính sách
Tóm tắt: Bài viết phân tích một số vấn đề từ hệ thống pháp lý đến thực trạng các kênh huy động vốn tư nhân trọng điểm; đồng thời luận giải những khó khăn, thách thức nhằm rút ra khuyến nghị tăng cường thu hút nguồn vốn tư nhân cho đầu tư xanh ở Việt Nam. Thực trạng các kênh huy động vốn tư nhân cho thấy, bên cạnh vai trò chủ lực các kênh tín dụng xanh, trái phiếu xanh; các kênh huy động như cổ phiếu xanh, quỹ đầu tư tài chính xanh, thị trường tín chỉ carbon đang từng bước hình thành và phát triển nhanh chóng. Tuy nhiên, để đáp ứng nhu cầu đầu tư xanh trong tương lai, Việt Nam cần tập trung tháo gỡ các khó khăn trong thu hút nguồn vốn tư nhân như: (1) Đa dạng hóa các kênh huy động nhằm cân bằng cấu trúc vốn tư nhân; (2) Tăng cường cam kết ESG từ doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) tiếp cận thị trường vốn xanh; (3) Đa dạng hóa các lĩnh vực tín dụng xanh nhằm giảm thiểu rủi ro; (4) Hoàn thiện hệ sinh thái tài chính hỗ trợ phát triển trái phiếu xanh của doanh nghiệp; (5) Hoàn thiện các cơ chế và công cụ đo lường trên thị trường tín chỉ carbon; (6) Hoàn thiện các văn bản pháp lý quy định cụ thể về cơ chế khuyến khích vốn tư nhân trong lĩnh vực xanh.
Từ khóa: Vốn tư nhân, đầu tư xanh, Việt Nam.
MOBILIZING PRIVATE RESOURCES FOR GREEN INVESTMENT:
IMPLEMENTATION PRACTICES AND POLICY IMPLICATIONS
Abstract: This study analyzes the transition from Vietnam’s legal foundations to the current landscape of private capital mobilization, identifying key challenges to formulate strategic recommendations for green investment. The current landscape of private capital mobilization channels indicates that, alongside the leading role of green credit and green bonds, other channels such as green equities, green investment funds, and the carbon credit market are gradually taking shape and experiencing rapid development. However, in order to meet future green investment demands, Vietnam needs to focus on addressing key obstacles to attracting private capital, including: (1) Diversifying mobilization channels to achieve a more balanced private capital structure; (2) Strengthening ESG commitments within the corporate sector and facilitating green market access for small and medium-sized enterprises (SME); (3) Expanding green credit across diverse sectors to mitigate concentrated risks; (4) Cultivating a comprehensive financial ecosystem to support corporate green bond issuance; (5) Enhancing measurement mechanisms and tools for the carbon credit market; (6) Refining legal frameworks to provide specific, high-level incentives for private participation in the green sector.
Keywords: Private capital mobilization, green investment, Vietnam.
1. Đặt vấn đề
Trước những biến động không ngừng của thời đại, Việt Nam đã thực hiện những bước dịch chuyển mang tính chiến lược trong định hướng phát triển kinh tế - xã hội, trải dài từ tầm nhìn ngắn hạn đến dài hạn. Những chiến lược này không chỉ khẳng định cho tinh thần chủ động thích ứng, mà còn thể hiện sự cam kết mạnh mẽ của Việt Nam khi đồng hành cùng các mục tiêu toàn cầu trên cả ba trụ cột then chốt: Kinh tế, xã hội và môi trường. Thông qua việc đánh giá sát sao và huy động tối đa các nguồn lực thực thi, Việt Nam đã định hình những lộ trình hành động, bảo đảm tính thực tiễn cao nhất cho từng giai đoạn phát triển.
Giai đoạn từ năm 2020, định hướng đến năm 2050, Việt Nam đã xác định tăng trưởng xanh trở thành "kim chỉ nam" để giải quyết các thách thức lớn về môi trường và biến đổi khí hậu. Chiến lược này không chỉ dừng lại ở việc giảm phát thải mà còn hướng tới một nền kinh tế tuần hoàn, trung hòa carbon (Net-Zero), nơi các nguồn lực thực thi được tập trung tối đa để tạo ra giá trị bền vững.
Bối cảnh nhu cầu đầu tư xanh hướng tới năm 2050 là rất lớn, trong khi nguồn lực tài chính công còn hạn chế, ngân sách nhà nước được nhận định chỉ đáp ứng được một phần nhỏ. Do đó, nguồn lực tư nhân chính là nhân tố then chốt, vừa là nguồn sức mạnh dồi dào, vừa có dư địa phát triển lớn để bù đắp khoảng trống tài chính cho tăng trưởng xanh. Việc khẳng định vai trò dẫn dắt của khu vực tư nhân không chỉ là sự đánh giá khách quan mà còn là chiến lược thực tiễn để bảo đảm hiệu quả cao nhất cho khát vọng thịnh vượng bền vững của quốc gia.
Mặc dù quyết tâm chính trị đã được thể hiện rõ nét thông qua việc hoàn thiện hệ thống cơ chế, chính sách và các công cụ thực thi, song thực tiễn huy động nguồn vốn tư nhân cho đầu tư xanh tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với những thách thức gay gắt. Khoảng cách giữa chính sách và thực thi trong huy động vốn cho đầu tư xanh vẫn còn độ trễ lớn, với nhiều nút thắt chưa được tháo gỡ. Trong bối cảnh nhịp độ của cuộc đua xanh toàn cầu đang tăng tốc, Việt Nam cần đánh giá chính xác về thực trạng, nhìn nhận những thành tựu đạt được cũng như các vấn đề còn tồn tại, từ đó đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh.
2. Căn cứ pháp lý về thu hút vốn tư nhân cho đầu tư xanh ở Việt Nam
Với định hướng tăng trưởng xanh là mục tiêu kép không thể tách rời tăng trưởng kinh tế cùng các mục tiêu về môi trường bền vững, các văn bản pháp lý đã được ban hành nhằm xác định khung chiến lược về tăng trưởng xanh và các vấn đề về định hướng mô hình kinh tế vĩ mô quốc gia cụ thể, bao gồm: Luật Bảo vệ môi trường năm 2020; Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, tầm nhìn 2050; Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030, là những văn bản pháp lý nền tảng, tạo hành lang vững chắc cho lộ trình xanh của Việt Nam đến năm 2050.
Với nhận định khách quan về vai trò của nguồn vốn tư nhân là chủ đạo, cốt lõi trong việc thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của quốc gia, Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quan trọng nhằm tạo dư địa cho kinh tế tư nhân phát triển. Tiêu biểu là Luật Doanh nghiệp năm 2020 và Luật Đầu tư năm 2020; Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 08/01/2025 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2025; Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Nhằm hướng dẫn và cụ thể hóa việc thực thi các chủ trương trên, hệ thống văn bản pháp lý hướng tới các kênh huy động vốn, tạo điều kiện khai thông dòng vốn tư nhân phục vụ lộ trình tăng trưởng xanh đã được ban hành theo trình tự thời gian. Cụ thể: Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 07/8/2018 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) về việc phê duyệt Đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam; Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán; Thông tư số 98/2020/TT-BTC ngày 16/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn hoạt động và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán; Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Nghị định số 65/2022/NĐ-CP ngày 16/9/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế; Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 của Thống đốc NHNN hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài; Quyết định số 1408/QĐ-NHNN ngày 26/7/2023 của Thống đốc NHNN về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 và Đề án về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu; Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh.
Hệ thống văn bản nêu trên đã bước đầu tạo nền tảng pháp lý chính thống góp phần minh bạch hóa, cụ thể hóa khái niệm "xanh" trong lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam, qua đó đáp ứng nhu cầu cấp thiết trong việc huy động nguồn lực cho các chiến lược tăng trưởng và phát triển xanh dài hạn. Đồng thời, các văn bản đã ban hành cũng là nền tảng then chốt, có ý nghĩa sống còn trong việc khơi thông các nguồn lực tài chính, xây dựng niềm tin vững chắc cho huy động vốn từ khu vực tư nhân trong lĩnh vực xanh.
Tuy nhiên, trước những khó khăn trong thực tiễn hiện nay, Việt Nam cần đánh giá về thực trạng, những thành tựu cũng như các vấn đề tồn tại, nhằm nhìn nhận chính xác các nút thắt hướng tới đề xuất những khuyến nghị hiệu quả trong huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh trong tương lai.
3. Thực trạng thu hút nguồn vốn tư nhân cho đầu tư xanh
Hệ thống các kênh huy động trên thị trường vốn đóng vai trò như “mạch máu”, tạo nguồn, truyền dẫn và điều phối, bảo đảm cung cấp các nguồn lực tài chính cho nền kinh tế. Trong lộ trình tạo nguồn lực bù đắp cho đầu tư xanh, hệ thống các kênh huy động vốn tại Việt Nam đang thể hiện một bức tranh năng động, tiềm năng, với tốc độ tăng trưởng mở rộng đáng ghi nhận về quy mô (chiều rộng) và sự cải thiện về chất lượng phát triển (chiều sâu), song cũng đan xen nhiều khó khăn và thách thức.
Bức tranh thực trạng thu hút nguồn vốn tư nhân cho đầu tư xanh sẽ tập trung phân tích một số kênh thu hút vốn tư nhân chủ yếu hiện nay, bao gồm: Tín dụng xanh, trái phiếu xanh, cổ phiếu xanh, quỹ đầu tư tài chính xanh và thị trường tín chỉ carbon.
3.1. Tín dụng xanh
Trong giai đoạn đầu của lộ trình tăng trưởng xanh, tín dụng xanh đóng vai trò là công cụ chủ lực trong việc huy động và điều hướng dòng vốn tư nhân. Hình 1 minh họa tỉ trọng tín dụng xanh trong tổng dư nợ tín dụng tại Việt Nam giai đoạn 2015 - 2025.
![]() |
Mặc dù xuất phát điểm năm 2015 còn tương đối thấp, ở mức khoảng 75 nghìn tỉ đồng, song tổng dư nợ tín dụng xanh đã ghi nhận mức tăng trưởng phi mã. Đặc biệt, tổng dư nợ tín dụng có bước nhảy vọt từ năm 2017 với hơn 270 nghìn tỉ đồng và đạt khoảng 850 nghìn tỉ đồng vào cuối năm 2025.
Không chỉ tăng nhanh về quy mô, tín dụng xanh còn ngày càng khẳng định vị trí quan trọng trong tổng thể nền kinh tế. Tỉ trọng tín dụng xanh trong tổng dư nợ tín dụng đã tăng từ mức rất khiêm tốn 0,73% năm 2015 lên 4,6% năm 2022, và duy trì ở mức cao 4,6% vào năm 2025. Điều này cho thấy dòng vốn xanh đang dần trở thành một cấu phần quan trọng, góp phần “xanh hóa” hoạt động đầu tư của toàn bộ nền kinh tế. Việc tỉ trọng giảm nhẹ vào năm 2024 và duy trì vào năm 2025 phản ánh thực tế tổng tín dụng chung của nền kinh tế phục hồi nhanh hơn so với giai đoạn trước, trong khi quy mô tín dụng xanh vẫn duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực.
Cụ thể hơn, về quy mô và tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng xanh giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2025 cho thấy bức tranh tương đối tích cực về sự phát triển của tín dụng xanh tại Việt Nam khi quy mô dư nợ liên tục tăng mạnh, trong khi tốc độ tăng trưởng có sự biến động qua các năm nhưng vẫn duy trì ở mức tích cực.
Bên cạnh xu hướng tích cực chung, một dấu hiệu đáng quan tâm là tốc độ tăng trưởng chưa thực sự ổn định. Các giai đoạn tăng trưởng nóng trong năm 2017, 2018 và 2021 chứng kiến tốc độ tăng trưởng có xu hướng phục hồi trở lại, ghi nhận sự thúc đẩy mạnh mẽ từ chính sách và sự bùng nổ của các dự án năng lượng tái tạo. Sau đó, giai đoạn chững lại tại thời điểm các năm 2019, 2020, 2022 với tốc độ tăng trưởng giảm sút đáng kể, đặc biệt là năm 2022 chỉ còn khoảng 12,9% do bị ảnh hưởng bởi các yếu tố suy thoái chung của nền kinh tế bởi tác động của đại dịch Covid-19. Đến năm 2025, tốc độ tăng trưởng tín dụng xanh có xu hướng phục hồi và tăng mạnh (đạt khoảng 19%), cho thấy đà tăng trưởng của tín dụng xanh đang quay trở lại cùng nhịp với tốc độ phục hồi của nền kinh tế chung.
Với xu hướng chung đang thể hiện sự dịch chuyển tích cực, cơ cấu lĩnh vực phân bổ của dòng vốn tín dụng xanh cho thấy năng lượng tái tạo và năng lượng sạch đóng vai trò chủ đạo trong cấu trúc phân bổ vốn xanh (45%), chiếm gần một nửa tổng dư nợ. Con số này nhấn mạnh tầm quan trọng chiến lược của việc phát triển năng lượng tái tạo và năng lượng sạch bền vững, thân thiện với môi trường tại Việt Nam. (Hình 2)
![]() |
Khoảng 45% tín dụng xanh được ghi nhận đã chảy vào lĩnh vực tái tạo và năng lượng sạch, cho thấy tín dụng xanh là một kênh dẫn vốn quan trọng đặc biệt cho lĩnh vực này.
Đứng thứ hai là nông nghiệp xanh, chiếm khoảng 31%, cho thấy sự quan tâm ngày càng gia tăng đối với quá trình chuyển đổi phát triển khu vực nông nghiệp theo hướng xanh tại Việt Nam. Tín dụng xanh đồng thời cũng là kênh dẫn vốn quan trọng nhất cho các hoạt động nông nghiệp bền vững. Điều này cho thấy tiềm năng mở rộng các sản phẩm tín dụng xanh chuyên biệt cho lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn rất lớn. Mặc dù có nhiều tiềm năng phát triển, nhưng trên thực tế, hoạt động sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam vẫn chủ yếu dựa vào các hộ nông dân quy mô nhỏ, trong khi các nhà đầu tư tư nhân vẫn e ngại do chi phí giao dịch cao, khó kiểm soát chất lượng và rủi ro trong chuỗi giá trị (Bain, Company và cộng sự, 2025), khiến việc huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh trong lĩnh vực nông nghiệp vẫn còn nhiều thách thức.
3.2. Trái phiếu xanh
Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã đặt nền tảng pháp lý cơ bản cho trái phiếu xanh; quy định trái phiếu xanh là công cụ huy động vốn dành cho các hoạt động bảo vệ môi trường hoặc các dự án mang lại lợi ích môi trường (Điều 150). Theo đó, nguồn vốn huy động từ trái phiếu xanh phải được hạch toán, theo dõi chặt chẽ và sử dụng đúng mục đích cho các dự án bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường đã hướng dẫn chi tiết việc phát hành trái phiếu xanh, đồng thời đưa ra các chính sách ưu đãi nhằm khuyến khích các chủ thể phát hành và nhà đầu tư tham gia thị trường trái phiếu xanh.
Tiếp cận từ khu vực tư nhân, Hình 3 cung cấp một cái nhìn tổng quan về vị thế của trái phiếu GSS (Xanh - Xã hội - Bền vững) trong toàn bộ thị trường trái phiếu doanh nghiệp tại Việt Nam, tính đến ngày 19/11/2024. Theo đó, quy mô thị trường trái phiếu GSS hiện vẫn còn khá khiêm tốn, với tỉ trọng chỉ khoảng 1,8% so với tổng giá trị trái phiếu doanh nghiệp đang lưu hành. Trong đó, tổng dư nợ trái phiếu GSS đạt gần 25,4 nghìn tỉ đồng, trên tổng số hơn 1,4 triệu tỉ đồng của toàn thị trường trái phiếu doanh nghiệp.
Biểu đồ cột phóng to từ phần 1,8% của Hình 3 cho thấy trái phiếu xanh có khung được xác nhận chỉ chiếm 0,66% tổng thị trường. Đây là những trái phiếu có khung phát hành được một bên thứ ba độc lập đánh giá và xác nhận, đảm bảo số vốn huy động được sử dụng đúng mục đích xanh - xã hội đã cam kết.
![]() |
Trong khi đó, trái phiếu xanh chưa có khung xác nhận chiếm tỉ trọng lớn hơn, ở mức 1,14% tổng thị trường. Đây là những trái phiếu được tổ chức phát hành tự "gắn mác" xanh nhưng chưa có sự thẩm định, xác nhận từ một đơn vị độc lập. Lượng trái phiếu GSS chưa được xác nhận bởi bên thứ ba chiếm đa số (1,14% so với 0,66%) đang đặt ra lo ngại về rủi ro "tẩy xanh", khi các doanh nghiệp có thể huy động vốn dưới danh nghĩa "xanh" nhưng không có sự giám sát đầy đủ về việc sử dụng vốn, qua đó làm suy giảm niềm tin của nhà đầu tư.
Để phát huy tiềm lực của kênh trái phiếu xanh, Việt Nam vẫn còn một chặng đường dài trong việc phát triển thị trường trái phiếu GSS trở thành kênh huy động vốn quan trọng cho các dự án bền vững. Vấn đề cấp bách đặt ra hiện nay không chỉ ở việc gia tăng số lượng phát hành, mà còn là nâng cao chất lượng và tính minh bạch của thị trường trái phiếu xanh.
3.3. Cổ phiếu xanh
Cổ phiếu xanh được hiểu là cổ phiếu của các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực sử dụng năng lượng hiệu quả, nhiên liệu sạch, năng lượng tái tạo, giảm ô nhiễm môi trường, đồng thời thực hành tốt các tiêu chí ESG, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, cổ phiếu xanh vẫn là khái niệm tương đối mới đối với đa số nhà đầu tư tư nhân tại Việt Nam, với tính thanh khoản nhìn chung còn thấp và chưa nhận được sự quan tâm đáng kể trên thị trường.
Cổ phiếu xanh tại Việt Nam thường được xác định thông qua các doanh nghiệp thực hành tốt tiêu chuẩn ESG hoặc thuộc nhóm ngành như năng lượng tái tạo, xử lý môi trường. Trong bối cảnh hiện nay, việc thực hành ESG không còn là một lựa chọn, mà đã trở thành điều kiện cần để doanh nghiệp tiếp cận các quỹ đầu tư lớn trên thế giới. Các nhà đầu tư quốc tế không chỉ quan tâm đến lợi nhuận, mà còn đặt ra những yêu cầu ngày càng khắt khe về đóng góp môi trường - xã hội và tính minh bạch trong quản trị doanh nghiệp.
Thực tế cho thấy, thị trường cổ phiếu xanh Việt Nam đang có sự phân hóa mạnh mẽ. Trong khi một số doanh nghiệp đầu ngành đã tiếp cận các chuẩn quốc tế thì phần lớn các doanh nghiệp trên thị trường vẫn mới dừng lại ở việc công bố thông tin ESG mang tính định tính, thiếu các chỉ số định lượng cụ thể về khí thải nhà kính, sử dụng năng lượng và hiệu quả môi trường.
Nhằm thúc đẩy sự phát triển của cổ phiếu xanh, một số hoạt động hỗ trợ đã được triển khai, như Ủy ban Chứng khoán Nhà nước phối hợp với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), Tổ chức Sáng kiến Báo cáo Toàn cầu (GRI), Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) và Sở Giao dịch Chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) tổ chức các chương trình đào tạo nâng cao năng lực cho doanh nghiệp niêm yết về công bố thông tin ESG, đồng thời ban hành Sổ tay hướng dẫn thực hiện báo cáo ESG cho các doanh nghiệp niêm yết. Nhờ đó, thị trường cổ phiếu xanh tại Việt Nam được nhận định đang ở giai đoạn “khởi tạo mạnh mẽ”.
Mặc dù vẫn còn những thách thức về tính minh bạch và hạ tầng pháp lý, cổ phiếu xanh được đánh giá là nhóm cổ phiếu có tiềm năng tăng trưởng dài hạn, nhờ sự ủng hộ từ các chính sách của Chính phủ và xu hướng dịch chuyển dòng vốn xanh trên phạm vi toàn cầu.
3.4. Quỹ đầu tư tài chính xanh
Các quỹ đầu tư tài chính xanh trên thế giới đang trải qua giai đoạn phát triển mạnh mẽ và bứt phá kỷ lục, chuyển mình từ một thị trường ngách trở thành dòng chảy chủ lưu của hệ thống tài chính toàn cầu trong giai đoạn 2024 - 2025, thị trường quỹ đầu tư tại Việt Nam hiện vẫn đang trong giai đoạn phát triển sơ khai đối với lĩnh vực đầu tư bền vững. Hiện chưa có các quỹ chuyên biệt theo dõi Chỉ số Bền vững Việt Nam (VNSI) hoặc các quỹ tập trung hoàn toàn vào đầu tư xanh; tuy nhiên, đã có sự gia tăng đáng kể các khoản đầu tư vào các lĩnh vực xanh trong danh mục các quỹ tại Việt Nam, cho thấy xu hướng này đang dần được hình thành và có tiềm năng phát triển.
Một trong những trở ngại chính đối với dòng vốn xanh trên thị trường chứng khoán là việc nhiều doanh nghiệp chưa chú trọng thiết lập các tiêu chuẩn và áp dụng thực hành ESG hiệu quả trong hoạt động kinh doanh. Sự thiếu hụt các khung tiêu chuẩn rõ ràng, cùng với mức độ minh bạch còn hạn chế trong báo cáo ESG khiến các quỹ đầu tư gặp khó khăn trong việc đánh giá thực chất các cam kết bền vững của doanh nghiệp.
Mặc dù vậy, thị trường quỹ đầu tư xanh tại Việt Nam có nhiều yếu tố thuận lợi cho tăng trưởng, đặc biệt là sự quan tâm và đồng bộ trong định hướng chính sách từ các cơ quan quản lý. Tuy vậy, để các quỹ đầu tư này phát triển và phát huy vai trò dẫn dắt dòng vốn xanh, đòi hỏi sự tham gia chủ động của cộng đồng doanh nghiệp trong việc thực thi chiến lược ESG và mục tiêu tăng trưởng xanh nhằm giải quyết một số khó khăn như: Thiếu khung tiêu chuẩn đồng bộ và hệ thống chỉ số đo lường trong lĩnh vực xanh; thách thức trong minh bạch và nâng cao chất lượng dữ liệu ESG; danh mục sản phẩm đầu tư còn hạn chế, ảnh hưởng đến quy mô và hiệu suất của quỹ.
3.5. Thị trường tín chỉ carbon
“Tín chỉ carbon” là thuật ngữ chung cho tín chỉ có thể kinh doanh hoặc giấy phép đại diện cho một tấn CO2 (carbon dioxide) hoặc khối lượng của một đơn vị khí nhà kính tương đương với một tấn CO2 (CO2tđ). Tín chỉ carbon là giấy phép hoặc giấy chứng nhận cho phép chủ sở hữu phát thải khí CO2 hoặc các loại khí nhà kính khác. Mỗi tín chỉ giới hạn lượng phát thải đến một tấn CO2. Mục tiêu của tín chỉ carbon là giảm phát thải khí nhà kính vào khí quyển. Trong bối cảnh thế giới đang chuyển đổi sản xuất từ “nâu” sang “xanh”, hướng tới giảm phát thải khí nhà kính, phấn đấu đưa phát thải ròng bằng "0", thị trường tín chỉ carbon ra đời như một tất yếu khách quan.
Thị trường tín chỉ carbon ở Việt Nam - nơi diễn ra các hoạt động trao đổi, mua bán tín chỉ carbon theo cơ chế tự nguyện - đã manh nha phát triển từ rất sớm, lộ trình phát triển được thể hiện trong Bảng 1.
![]() |
Việt Nam được đánh giá là quốc gia có tiềm năng lớn trong phát triển các dự án tín chỉ carbon. Theo số liệu trong Báo cáo của Trung tâm Con người và Thiên nhiên (PanNature, 2023), tính đến tháng 11/2022, tổng cộng có 276 dự án CDM (Cơ chế phát triển sạch - Clean Development Mechanism), với gần 29,4 triệu tín chỉ carbon đã được ban hành từ các dự án tín chỉ carbon được triển khai theo cơ chế này.
Bên cạnh các dự án CDM, Việt Nam còn phát triển các dự án tín chỉ carbon theo các tiêu chuẩn quốc tế độc lập. Trên thị trường tín chỉ carbon tự nguyện, Gold Standard (GS - Tiêu chuẩn Vàng) và Verified Carbon Standard (VCS - Tiêu chuẩn carbon được thẩm định) là hai tiêu chuẩn uy tín và phổ biến nhất trên thế giới. Hai cơ chế này đóng vai trò là “bộ thước đo” để xác thực rằng một tấn khí nhà kính thực sự đã được giảm thiểu hoặc loại bỏ khỏi bầu khí quyển.
Theo PanNature, tính đến năm 2022, Việt Nam có 32 dự án đăng ký theo GS và 27 dự án đăng ký theo VCS với số lượng tín chỉ được ban hành lần lượt là hơn 5,7 triệu và hơn 1,3 triệu tín chỉ, như thể hiện trong Hình 4 (bao gồm các Hình 4.1, 4.2 và 4.3).
![]() |
Theo Cục Biến đổi khí hậu - Bộ Nông nghiệp và Môi trường (2025), đến cuối năm 2024, Việt Nam đã trở thành quốc gia đứng thứ 4 toàn cầu về số lượng dự án CDM và đứng thứ 9 về khối lượng tín chỉ carbon phát hành, với 276 dự án CDM; 43 dự án VCS và 45 dự án GS. Điều này cho thấy, thị trường tín chỉ carbon tại Việt Nam đang trong giai đoạn chuyển mình mạnh mẽ, song đồng thời vẫn đối mặt với nhiều rào cản mang tính hệ thống như: (1) Khung pháp lý và cơ chế vận hành chưa hoàn thiện, còn chậm trễ trong hình thành sàn giao dịch, còn thiếu hướng dẫn cụ thể về quyền sở hữu; (2) Thách thức trong hoạt động đo lường và thẩm định, với năng lực đo lường còn thấp và chi phí thẩm định cao; (3) Nhận thức của doanh nghiệp về vai trò của thị trường tín chỉ carbon do nhiều doanh nghiệp chưa coi tín chỉ carbon là tài sản, đồng thời rào cản về vốn khiến các SME khó tiếp cận thị trường.
4. Đánh giá chung về thực trạng huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh và một số khuyến nghị
4.1. Những thành tựu trong huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh
Trước hết, thành tựu nổi bật nhất cho nỗ lực mang tính hệ thống của Việt Nam trong lộ trình tăng trưởng xanh là từng bước hoàn thiện khung pháp lý cơ bản, trong đó xác định rõ các mục tiêu ngắn và dài hạn, làm nền tảng cho việc xây dựng các chiến lược và kế hoạch cụ thể nhằm thu hút vốn tư nhân cho đầu tư xanh, đồng thời tạo dựng niềm tin cho các nhà đầu tư tư nhân.
Trước đây, nhiều nhà đầu tư mong muốn rót vốn vào các dự án môi trường tại Việt Nam nhưng gặp khó khăn do còn thiếu một định nghĩa chính thống thế nào là “xanh”. Ngày 04/7/2025, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg quy định tiêu chí môi trường và xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh đóng vai trò như một “bộ từ điển chung”, quy định cụ thể các tiêu chí kỹ thuật mà một dự án phải đạt được để được công nhận là dự án xanh. Đồng thời, Khung phân loại quốc gia sẽ là công cụ sàng lọc, giúp bảo vệ các nhà đầu tư chân chính và bảo đảm dòng vốn được phân bổ đúng vào các dự án có tác động xanh thực sự. Việc hoàn thiện hệ thống văn bản, khung pháp lý xanh của Việt Nam cho thấy sự chuyển dịch mạnh mẽ từ các quy định mang tính khuyến khích sang các tiêu chuẩn mang tính bắt buộc và minh bạch hơn, là "chìa khóa" để khơi thông dòng vốn tư nhân trong lĩnh vực xanh tại Việt Nam.
Tiếp đó, cam kết ESG ngày càng mạnh mẽ từ cộng đồng doanh nghiệp phản ánh sự chuyển biến rõ rệt trong nhận thức và hành động của khu vực tư nhân đối với đầu tư bền vững. Sự chuyển dịch tư duy về đầu tư bền vững thông qua bộ tiêu chí ESG không còn là một khái niệm tự nguyện hay mang tính hình thức, mà đã trở thành mục tiêu chiến lược của cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Số liệu thống kê cho thấy sự gia tăng đáng kể cả về nhận thức và hành động, khi đến năm 2025, có tới 89% doanh nghiệp được khảo sát khẳng định đã hoặc đang lập kế hoạch cam kết ESG trong ngắn hạn (2 - 4 năm tới) (PwC, 2025). Điều này cho thấy áp lực từ thị trường và các bên liên quan đang thúc đẩy các doanh nghiệp phải hành động nhanh chóng hơn.
Bên cạnh đó, sự bùng nổ của tín dụng xanh đã tạo kênh dẫn vốn chủ lực có tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ nhất, đóng vai trò là “đòn bẩy” và “cầu nối” quan trọng để khơi thông dòng vốn tư nhân vào lĩnh vực xanh tại Việt Nam.
Tín dụng xanh được xem là kênh huy động vốn quan trọng nhất, không chỉ về quy mô, mà còn về chất lượng tăng trưởng so với các kênh khác trên thị trường vốn. Đáng chú ý, cơ cấu tín dụng xanh có sự dịch chuyển tích cực, tập trung vào dự án như năng lượng tái tạo và nông nghiệp xanh. Sự bùng nổ của kênh tín dụng xanh thể hiện tính tiên phong và chuyên nghiệp hóa của hệ thống ngân hàng. Tính đến năm 2025, đã có 15 NHTM công bố Báo cáo phát triển bền vững, thể hiện cam kết chịu trách nhiệm trước cộng đồng và nhà đầu tư về các tác động môi trường. Quá trình phát triển nhanh chóng của tín dụng xanh báo hiệu một hệ sinh thái tài chính xanh đang dần hoàn thiện tại Việt Nam, nơi dòng vốn được dẫn dắt bởi các chuẩn mực quốc tế và mục tiêu phát triển bền vững dài hạn.
Bên cạnh tín dụng xanh, mặc dù còn ở giai đoạn sơ khai, thị trường trái phiếu GSS cũng đã ghi nhận những bước tiến quan trọng.
Dư nợ trái phiếu doanh nghiệp xanh đạt xấp xỉ 1 tỉ USD vào cuối năm 2025 là một con số ấn tượng, báo hiệu sự tăng trưởng mạnh mẽ về quy mô vốn huy động cho các dự án bảo vệ môi trường. Điều này cho thấy dòng vốn xanh không còn dừng ở mức cam kết mang tính biểu tượng, mà đã hiện diện rõ nét trên bảng cân đối kế toán của nền kinh tế. Con số này chứng minh các doanh nghiệp đang chủ động chuyển đổi mô hình kinh doanh để thích ứng với biến đổi khí hậu và cam kết phát thải ròng bằng “0”. Sự tham gia của các doanh nghiệp lớn với vai trò dẫn dắt, cùng với quá trình tiêu chuẩn hóa nhằm xây dựng uy tín quốc tế, đang định hướng thị trường GSS phát triển theo hướng bền vững. Qua đó, thị trường tài chính xanh của Việt Nam đang từng bước chuyển dịch từ “lượng” sang “chất”, với quy trình ngày càng bài bản, sự tham gia của các định chế tài chính uy tín và tuân thủ các chuẩn mực quốc tế, góp phần nâng cao hiệu quả và thúc đẩy huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh.
Mặc dù đạt được những kết quả quan trọng trong việc xây dựng khung pháp lý, nâng cao nhận thức và phát triển các kênh huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh, hành trình huy động vốn tư nhân tại Việt Nam vẫn còn nhiều nút thắt, đòi hỏi các giải pháp mang tính chiến lược và hệ thống trong giai đoạn tiếp theo.
4.2. Một số khó khăn, tồn tại và khuyến nghị trong huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh
Mặc dù có tốc độ mở rộng nhanh, song về cơ bản, thị trường vốn tư nhân tại Việt Nam vẫn đang ở giai đoạn phát triển tiềm năng, với quy mô nhỏ và cấu trúc chưa cân đối.
Quy mô thị trường vốn tại Việt Nam còn nhỏ, cấu trúc thị trường vốn chưa cân đối. Sự phụ thuộc lớn vào thị trường cổ phiếu và thị trường trái phiếu doanh nghiệp sơ khai cho thấy sự mất cân bằng và cần có những chính sách mở rộng cấu trúc thị trường vốn, đồng thời dịch chuyển cơ cấu thị trường vốn hợp lý hơn. Vai trò huy động vốn của khu vực tư nhân thông qua thị trường vốn đang ở giai đoạn đầu phát triển với nhiều thách thức cần được tháo gỡ.
Để vốn tư nhân thực sự trở thành động lực bền vững cho đầu tư xanh, việc phát triển thị trường trái phiếu doanh nghiệp xanh theo hướng lành mạnh, minh bạch và hiệu quả là yêu cầu cấp thiết. Điều này không chỉ góp phần tạo dựng cấu trúc vốn cân bằng hơn, mà còn cung cấp nguồn vốn ổn định cho doanh nghiệp, qua đó giảm áp lực lên hệ thống tín dụng ngân hàng. Trong trung và dài hạn, cần tập trung thúc đẩy thị trường vốn cổ phần xanh và thị trường tín chỉ carbon, nhằm kiến tạo và duy trì một hệ sinh thái tài chính xanh bền vững, giảm sự phụ thuộc vào nợ vay và tạo nguồn thu mới bền vững cho doanh nghiệp trong lộ trình chuyển đổi xanh.
Đóng vai trò chủ thể quan trọng cốt lõi trong phát huy nguồn nội lực về vốn tư nhân, doanh nghiệp - đặc biệt là khu vực SME - vẫn đang đối mặt với nhiều khó khăn trong việc nâng cao mức độ cam kết ESG.
Nguồn vốn của doanh nghiệp Việt Nam chủ yếu tập trung ở khu vực doanh nghiệp lớn, trong khi nhóm SME chiếm khoảng 72% số lượng doanh nghiệp nhưng còn gặp hạn chế trong tiếp cận nguồn vốn. Thiếu tài sản bảo đảm là rào cản cố hữu khi các SME tiếp cận tín dụng ngân hàng và càng trở nên khó khăn hơn đối với các dự án xanh, vốn đòi hỏi chi phí đầu tư ban đầu lớn vào công nghệ và thiết bị, cùng với thời gian hoàn vốn dài. Trong khi đó, hiệu quả kinh tế của chuyển đổi sang công nghệ sạch cần có thời gian để thể hiện rõ, khiến nhiều doanh nghiệp còn e ngại trong việc đầu tư.
Do đó, cần có các giải pháp cụ thể nhằm khuyến khích doanh nghiệp nâng cao mức độ cam kết ESG, qua đó định hướng hiệu quả dòng vốn xanh. Doanh nghiệp mong muốn các cơ chế tài trợ tài chính gắn với phát triển bền vững, đi kèm tiêu chuẩn xanh, chứng nhận và các quy định pháp lý liên quan phát triển bền vững cùng với các ưu đãi cụ thể. Trước hết, cần củng cố các cơ chế pháp lý mang tính bắt buộc trong báo cáo ESG, đồng thời mở rộng phạm vi áp dụng, không chỉ giới hạn ở các doanh nghiệp niêm yết. Để ESG trở thành một trong những lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp, thay vì gánh nặng chi phí trên thị trường vốn cần có những cơ chế khuyến khích rõ ràng như lãi suất ưu đãi đối với các gói tín dụng, trái phiếu xanh; hỗ trợ doanh nghiệp trong công tác thẩm định, thu thập dữ liệu cho báo cáo ESG. Đặc biệt, cần ưu tiên cho khu vực SME trong quá trình tiếp cận thị trường vốn.
Các doanh nghiệp cũng cần có các giải pháp phù hợp với từng giai đoạn phát triển, từ lộ trình và đào tạo kiến thức nền tảng cho doanh nghiệp mới bắt đầu; các công cụ chuyên sâu như hệ thống theo dõi dữ liệu phát thải và phân tích tính trọng yếu cho các doanh nghiệp đã triển khai ESG.
Từ góc độ các kênh huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh, cần có các giải pháp trọng điểm, đồng bộ nhằm khắc phục những bất cập để thúc đẩy huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh tại Việt Nam trên ba kênh chính là tín dụng ngân hàng, thị trường vốn (trái phiếu và cổ phiếu) và các nguồn tài chính đổi mới.
Tín dụng xanh đóng vai trò là kênh dẫn vốn quan trọng nhất trong huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh ở Việt Nam thời gian vừa qua. Tuy nhiên, việc quá tập trung vốn vào một số lĩnh vực có thể tạo ra rủi ro cho hệ thống ngân hàng nếu các chính sách quy hoạch điện hoặc cơ chế giá (như Biểu giá điện hỗ trợ - FIT) thay đổi; hoặc bỏ lỡ cơ hội phát triển ở các lĩnh vực tiềm năng khác làm hạn chế khả năng hấp thụ dòng vốn quốc tế. Để giảm thiểu rủi ro, dòng vốn xanh cần được điều hướng sang các lĩnh vực tiềm năng như hạ tầng đô thị, xử lý nước, kinh tế tuần hoàn, giao thông, hỗ trợ các ngành sản xuất truyền thống đầu tư công nghệ để giảm thiểu dấu chân carbon.
Thị trường trái phiếu GSS tại Việt Nam vẫn ở giai đoạn sơ khai, mặc dù tiềm năng phát triển là rất lớn, nhưng hiện nay mức độ thâm nhập còn thấp, do khung pháp lý chưa hoàn thiện, tiêu chuẩn phân loại xanh mới được ban hành và ở giai đoạn đầu triển khai. Hệ sinh thái tài chính hỗ trợ phát triển trái phiếu xanh chưa thực sự hoàn thiện, dẫn đến hạn chế về cả nguồn cung sản phẩm và khả năng đánh giá độc lập. Chi phí phát hành cao khiến trái phiếu xanh trở nên kém cạnh tranh hơn so với trái phiếu truyền thống, đặc biệt đối với các SME có nguồn lực tài chính hạn chế, làm gia tăng rào cản tiếp cận thị trường. Bên cạnh đó, thị trường trái phiếu xanh còn đối mặt với rủi ro về tính minh bạch và động lực tăng trưởng bền vững, làm gia tăng nguy cơ “xanh hóa giả tạo”, công bố thông tin sai lệch hoặc gây hiểu lầm về mức độ thân thiện với môi trường của một dự án hoặc sản phẩm tài chính, nhằm thu hút nhà đầu tư.
Trong trung và dài hạn, bên cạnh nguồn tài chính hỗn hợp, việc vận hành hiệu quả thị trường tín chỉ carbon được xem là giải pháp quan trọng nhằm mở rộng kênh huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh, dù còn nhiều khó khăn cần tháo gỡ. Trước hết, cần hoàn thiện cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ carbon trong nước, phù hợp với thông lệ khu vực và thế giới, cũng như các quy định và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế quản lý nhà nước đối với thị trường giao dịch tín chỉ carbon, bao gồm cả các sàn giao dịch tự phát, đẩy nhanh lộ trình thí điểm và vận hành chính thức sàn giao dịch carbon vào năm 2028 theo kế hoạch của Chính phủ. Bên cạnh đó, việc thiếu các dịch vụ thẩm định, xác nhận độc lập để nâng cao uy tín và tính so sánh cho các công cụ nợ xanh cũng là rào cản. Đây là điều kiện tiên quyết để Việt Nam tạo niềm tin cho các "tuyên bố xanh", qua đó thu hút được dòng vốn xanh bền vững từ khu vực tư nhân và quốc tế.
Cuối cùng, cần khắc phục những khó khăn trong triển khai huy động vốn do còn thiếu hệ thống văn bản pháp lý quy định và các cơ chế ưu đãi cụ thể.
Hiện nay, hệ thống văn bản pháp lý trong lĩnh vực xanh chưa có nhiều chính sách ưu đãi trực tiếp, rõ ràng cho các chủ thể tư nhân trên thị trường vốn. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực phát triển tín dụng xanh trong giai đoạn 2018 - 2025, thị trường vẫn phản ứng tương đối chậm trong việc chuyển dịch danh mục tín dụng và đầu tư xanh. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các hệ thống tài chính xanh phát triển đều áp dụng ưu đãi trên nhiều khía cạnh, như: (1) Ưu đãi thuế; (2) Ưu đãi vốn/lãi suất; (3) Ưu đãi chi phí phát hành; (4) Hỗ trợ kỹ thuật. Trên cơ sở đó, xuất phát từ thực tiễn, việc sớm xây dựng và hoàn thiện các chính sách, cơ chế cụ thể nhằm thúc đẩy huy động vốn tư nhân cho đầu tư xanh là yêu cầu cấp thiết.
Tài liệu tham khảo:
1. Bain & Company, GenZero, Google, Standard Chartered, & Temasek (2024), Southeast Asia's Green Economy (2024): Moving the Needle.
2. Bain & Company, GenZero, Google, Standard Chartered, & Temasek (2025), Southeast Asia's Green Economy: Unlocking Systems for Growth and Impact.
3. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2021), Báo cáo tổng kết tình hình thực hiện Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2050.
4. Bộ Kế hoạch và Đầu tư (2022), Báo cáo Tổng kết thực hiện Kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược Tăng trưởng xanh các cấp giai đoạn 2014 - 2020.
5. Bộ Kế hoạch và Đầu tư và The Boston Consulting Group (BCG) (2023), Tăng trưởng xanh: Cơ hội đột phá và hướng đi cho Việt Nam.
6. Đỗ Hoàng Oanh và Nguyễn Xuân Đạo (2024), Tăng trưởng xanh của các ngân hàng thương mại Việt Nam. Tạp chí Công thương. https://tapchicongthuong.vn/tang-truong-tin-dung-xanh-cua-cac-ngan-hang-thuong-mai-viet-nam-130376.htm
7. FiinRatings (2024), Báo cáo Thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam.
8. Lê Văn Tuyên (2024), Tín dụng xanh ở Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị. Tạp chí Kinh tế và Quản trị kinh doanh, 29: 76-84.
9. Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020.
10. Luật Doanh nghiệp năm 2020.
11. Luật Đầu tư năm 2020.
12. Morningstar (2022), Annual report.
13. NHNN (2023), Điều tra khảo sát về áp dụng tín dụng xanh trong ngành Ngân hàng, Hà Nội.
14. Nghị định số 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường.
15. Nghị định số 65/2022/NĐ-CP ngày 16/9/2022 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 153/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 quy định về chào bán, giao dịch trái phiếu doanh nghiệp riêng lẻ tại thị trường trong nước và chào bán trái phiếu doanh nghiệp ra thị trường quốc tế.
16. Nghị định số 155/2020/NĐ-CP ngày 31/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Chứng khoán.
17. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về Phát triển kinh tế tư nhân.
18. Nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 08/01/2025 của Chính phủ về những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia năm 2025.
19. PanNature (2023), Định hình thị trường carbon tại Việt Nam. https://www.thiennhien.net/2023/04/14/dinh-hinh-thi-truong-carbon-tai-viet-nam/
20. PwC (2025), Báo cáo khảo sát tiến trình thực hành ESG 2025: Vượt trên yêu cầu tuân thủ - tái định hình vai trò của ESG đối với doanh nghiệp tại Việt Nam.
21. Quyết định số 1408/QĐ-NHNN ngày 26/7/2023 của Thống đốc NHNN về việc ban hành Kế hoạch hành động của ngành Ngân hàng thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 và Đề án về những nhiệm vụ, giải pháp triển khai kết quả Hội nghị lần thứ 26 các bên tham gia công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu.
22. Quyết định số 1604/QĐ-NHNN ngày 07/8/2018 của Thống đốc NHNN về việc Phê duyệt đề án phát triển ngân hàng xanh tại Việt Nam.
23. Quyết định số 1658/QĐ-TTg ngày 01/10/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về Tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030,
tầm nhìn 2050.
24. Quyết định số 882/QĐ-TTg ngày 22/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch hành động quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030.
25. Quyết định số 896/QĐ-TTg ngày 26/7/2022 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050.
26. Quyết định số 21/2025/QĐ-TTg ngày 04/7/2025 của Thủ tướng Chính phủ quy định tiêu chí môi trường và xác nhận dự án đầu tư thuộc danh mục phân loại xanh.
27. Thông tư số 17/2022/TT-NHNN ngày 23/12/2022 của Thống đốc NHNN hướng dẫn thực hiện quản lý rủi ro về môi trường trong hoạt động cấp tín dụng của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
28. Thông tư số 98/2020/TT-BTC ngày 16/11/2020 của Bộ trưởng Bộ Tài chính hướng dẫn hoạt động và quản lý quỹ đầu tư chứng khoán.
Tin bài khác
Việt Nam nỗ lực hướng tới quốc gia thương mại tự do
Thị trường tài chính toàn cầu: Một số thách thức và triển vọng
Phân mảnh kinh tế toàn cầu: Hàm ý đối với Việt Nam khi hướng đến thịnh vượng và Net-Zero
Dấu ấn thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2025 và giải pháp trọng tâm năm 2026
Phát huy vai trò của kinh tế nhà nước trong ổn định và tăng trưởng kinh tế Việt Nam
Đầu tư công năm 2025: Điểm sáng và kỳ vọng cho những năm tiếp theo
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam
Thông tư số 60/2025/TT-NHNN và thủ tục chấp thuận góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng: Từ kỷ luật an toàn đến chi phí tuân thủ
Văn bản công chứng điện tử trong hoạt động cấp tín dụng có tài sản bảo đảm: Thực tiễn và kiến nghị hoàn thiện pháp luật
Tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế
Quản trị rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng xăng dầu tại Việt Nam trước biến động địa chính trị toàn cầu
Hoàn thiện pháp luật về quản lý viện trợ không hoàn lại ở Việt Nam trong bối cảnh cải cách thủ tục hành chính
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu
Tăng cường quản trị rủi ro trong chính sách tiền tệ tại Ngân hàng Trung ương Canada và một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Nâng hạng có điều kiện trong tiến trình hội nhập tài chính quốc tế của Việt Nam
Quyết định chính sách tiền tệ và truyền thông trong bối cảnh bất định cao tại NHTW Mexico và hàm ý chính sách




