Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Chính sách
Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
aa

Tóm tắt: Ngày 25/5/2026, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 928/QĐ-TTg ban hành Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, xác định mục tiêu hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm. Trong Chiến lược này, ngành Ngân hàng được xác định là lực lượng nòng cốt trong việc thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua phát triển ngân hàng số, mở rộng thanh toán không dùng tiền mặt, nâng cao khả năng tiếp cận tín dụng và hoàn thiện cơ sở hạ tầng dữ liệu tài chính. Bài viết phân tích một số nội dung trọng tâm của Chiến lược liên quan đến ngành Ngân hàng, từ đó đề xuất một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả triển khai Chiến lược trong thời gian tới.

Từ khóa: Quyết định số 928/QĐ-TTg, ngành Ngân hàng, Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia.

PROMOTING THE ROLE OF THE BANKING SECTOR
IN IMPLEMENTING THE NATIONAL FINANCIAL INCLUSION STRATEGY FOR THE 2026 - 2030 PERIOD

Abstract: On May 25, 2026, the Prime Minister issued Decision No. 928/QD-TTg approving the National Financial Inclusion Strategy for the 2026 - 2030 period, which aims to establish a modern, safe, and inclusive financial ecosystem. Within this Strategy, the banking sector is identified as a core force in promoting financial inclusion through the development of digital banking, the expansion of cashless payment systems, improved access to credit, and the enhancement of financial data infrastructure. This article analyzes key components of the Strategy related to the banking sector and proposes several recommendations to improve the effectiveness of its implementation in the coming period.

Keywords: Decision No. 928/QD-TTg, banking sector, National Financial Inclusion Strategy.

Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)
Ảnh minh họa (Nguồn: Internet)

1. Mở đầu

Trong bối cảnh chuyển đổi số và phát triển kinh tế số đang diễn ra mạnh mẽ, tài chính toàn diện ngày càng được xem là công cụ quan trọng nhằm thúc đẩy tăng trưởng bao trùm, bảo đảm công bằng xã hội và nâng cao khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính chính thức cho người dân và doanh nghiệp. Đặc biệt, đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam, tài chính toàn diện không chỉ hướng tới mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng mà còn góp phần hạn chế tín dụng phi chính thức, thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt và nâng cao chất lượng đời sống người dân.

Ngày 25/5/2026, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 928/QĐ-TTg phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, với mục tiêu hình thành hệ sinh thái tài chính toàn diện hiện đại, an toàn và bao trùm; bảo đảm mọi người dân và doanh nghiệp được tiếp cận bình đẳng các sản phẩm, dịch vụ tài chính. Theo đó, đến năm 2030 nước ta phấn đấu có 95% dân số từ 15 tuổi trở lên có tài khoản giao dịch tại ngân hàng hoặc tổ chức được phép khác; giá trị thanh toán không dùng tiền mặt gấp 30 lần GDP; ít nhất 300.000 doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME) có dư nợ tại các tổ chức tín dụng (TCTD).

Trong bức tranh tổng thể của Chiến lược, ngành Ngân hàng giữ vai trò hạt nhân, dẫn dắt quá trình hình thành và phát triển hệ sinh thái tài chính số thông qua việc hiện đại hóa hạ tầng thanh toán, đa dạng hóa sản phẩm tài chính, thúc đẩy chuyển đổi số và mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng cho người dân, SME, khu vực nông thôn cũng như các nhóm yếu thế.

2. Vai trò trung tâm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Quyết định số 928/QĐ-TTg xác định, NHNN là cơ quan nòng cốt trong việc tổ chức thực hiện và điều phối các hoạt động nhằm hiện thực hóa các mục tiêu tài chính toàn diện. NHNN cũng được giao trách nhiệm chủ trì triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 trên phạm vi toàn quốc, thực hiện chức năng theo dõi, đánh giá, tổng hợp kết quả thực hiện và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách trong từng giai đoạn.

Với chức năng là cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực tiền tệ - ngân hàng, NHNN giữ vị trí nòng cốt trong việc hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, hiện đại hóa hạ tầng tài chính và thúc đẩy ứng dụng công nghệ số vào hoạt động cung ứng dịch vụ tài chính. Đồng thời, NHNN đóng vai trò đầu mối điều phối, kết nối giữa các bộ, ngành, địa phương và các chủ thể trên thị trường, bảo đảm sự đồng bộ trong triển khai các chương trình, nhiệm vụ về tài chính toàn diện. Dấu ấn của NHNN không chỉ thể hiện ở chức năng quản lý và giám sát hệ thống mà còn ở khả năng định hướng, kiến tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, qua đó xây dựng hệ sinh thái tài chính an toàn, bao trùm và phát triển bền vững.

Trong bối cảnh tài chính toàn diện ngày càng trở thành một cấu phần quan trọng của chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế số, vai trò điều phối chính sách và tổ chức thực thi của NHNN có ý nghĩa quyết định đối với hiệu quả triển khai Chiến lược. Năng lực này không chỉ bảo đảm sự phối hợp đồng bộ giữa các chủ thể liên quan mà còn góp phần nâng cao tính hiệu quả, bền vững của quá trình hiện thực hóa các mục tiêu tài chính toàn diện quốc gia đến năm 2030.

3. Một số nội dung trọng tâm của Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia liên quan đến ngành Ngân hàng

3.1. Hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho hoạt động ngân hàng số và tài chính số

Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 đặt ra yêu cầu hoàn thiện khuôn khổ pháp lý nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho phát triển tài chính toàn diện, trong đó lĩnh vực ngân hàng số và tài chính số được xác định là động lực quan trọng thúc đẩy quá trình chuyển đổi số quốc gia. Theo Quyết định số 928/QĐ-TTg, Chính phủ yêu cầu “nghiên cứu, ban hành chính sách tạo thuận lợi cho ứng dụng công nghệ số trong hoạt động ngân hàng, từng bước tạo lập nền tảng pháp lý cho việc hình thành, phát triển mô hình ngân hàng số”; đồng thời “rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc nghiên cứu, ban hành mới quy định pháp luật về cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính, nhất là những sản phẩm, dịch vụ tài chính số để tạo hành lang pháp lý đầy đủ, kịp thời cho các tổ chức cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính”. Định hướng này thể hiện sự chuyển biến rõ nét trong tư duy quản lý nhà nước đối với hoạt động ngân hàng trong bối cảnh nền kinh tế số đang phát triển mạnh mẽ.

Hoạt động ngân hàng hiện nay không còn giới hạn ở mô hình giao dịch truyền thống mà đang dịch chuyển nhanh sang môi trường số với sự hỗ trợ của các công nghệ hiện đại như định danh điện tử khách hàng (eKYC), trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), công nghệ chuỗi khối (Blockchain) và phân tích dữ liệu nâng cao. Những công nghệ này không chỉ làm thay đổi phương thức cung ứng dịch vụ ngân hàng mà còn mở rộng khả năng tiếp cận tài chính cho người dân, đặc biệt là tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa và các nhóm yếu thế.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh của công nghệ tài chính (Fintech), nhiều vấn đề pháp lý mới cũng phát sinh liên quan đến bảo mật dữ liệu, xác thực khách hàng điện tử, an toàn hệ thống thanh toán, trách nhiệm của các chủ thể cung ứng dịch vụ tài chính số và cơ chế bảo vệ người dùng. Do đó, việc hoàn thiện hành lang pháp lý không chỉ tạo điều kiện thúc đẩy đổi mới sáng tạo, mà còn bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống tài chính - ngân hàng và kiểm soát các rủi ro phát sinh từ môi trường số.

Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đặt ra yêu cầu cần nghiên cứu, ban hành quy định pháp luật về tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm tăng cường khả năng kết nối liên thông giữa các TCTD, công ty Fintech và các tổ chức cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính khác. Đây được xem là cơ sở quan trọng để hình thành hệ sinh thái tài chính số đồng bộ, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính toàn diện trong nền kinh tế số.

3.2. Phát triển ngân hàng số và mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính

Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 xác định phát triển đa dạng các tổ chức cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính và các kênh phân phối hiện đại là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức cho người dân và doanh nghiệp với chi phí hợp lý. Trong đó, Chiến lược đặt ra yêu cầu cần phát triển đa dạng các kênh phân phối hiện đại dựa trên ứng dụng công nghệ số; đồng thời đẩy mạnh phát triển và cung ứng các sản phẩm, dịch vụ tài chính số, ngân hàng số, đặc biệt là qua thiết bị di động cho người dân và doanh nghiệp ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, hải đảo.

Trên thực tế, chuyển đổi số diễn ra mạnh mẽ cùng với sự gia tăng nhanh chóng tỉ lệ sử dụng Internet và thiết bị di động tại Việt Nam đã tạo nền tảng quan trọng cho việc phổ cập dịch vụ tài chính số và ngân hàng số. Theo Báo cáo “Digital 2026: Vietnam” do DataReportal phát hành, tính đến hết năm 2025, Việt Nam ghi nhận 85,6 triệu người dùng Internet. Sự phổ cập mạnh mẽ của điện thoại thông minh và Internet đang làm thay đổi phương thức tiếp cận dịch vụ tài chính của người dân, đặc biệt tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa - nơi hạ tầng ngân hàng truyền thống còn hạn chế.

Bên cạnh đó, thiết bị di động và các nền tảng số đang trở thành công cụ quan trọng giúp người dân tiếp cận các dịch vụ ngân hàng cơ bản như mở tài khoản, thanh toán, chuyển tiền, tiết kiệm và vay vốn mà không phụ thuộc quá nhiều vào mạng lưới chi nhánh vật lý. Điều này không chỉ góp phần mở rộng độ bao phủ dịch vụ tài chính chính thức mà còn giúp giảm chi phí giao dịch, nâng cao tính minh bạch của nền kinh tế và từng bước hạn chế tín dụng phi chính thức tại khu vực nông thôn. Mô hình ngân hàng số và tài chính số vì vậy được xem là giải pháp có tính chiến lược nhằm mở rộng độ bao phủ dịch vụ tài chính, giảm chi phí giao dịch, nâng cao tính minh bạch của nền kinh tế và từng bước hạn chế tín dụng phi chính thức, tín dụng đen tại khu vực nông thôn.

Ngoài ra, Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia cũng nhấn mạnh yêu cầu khuyến khích, tạo điều kiện cho các tổ chức Fintech, viễn thông tham gia vào chuỗi cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính trên cơ sở hợp tác, cạnh tranh lành mạnh với các TCTD, cho thấy định hướng mở rộng hệ sinh thái tài chính số theo hướng đa chủ thể tham gia, thúc đẩy sự kết nối giữa ngân hàng, doanh nghiệp Fintech và doanh nghiệp viễn thông nhằm đa dạng hóa sản phẩm, dịch vụ tài chính và nâng cao trải nghiệm người dùng.

Việc mở rộng sự tham gia của các doanh nghiệp Fintech không chỉ thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực ngân hàng mà còn tạo điều kiện phát triển các mô hình tài chính số linh hoạt, chi phí thấp và phù hợp với nhu cầu của từng nhóm khách hàng. Tuy nhiên, điều này cũng đặt ra yêu cầu cần tăng cường cơ chế giám sát, quản trị rủi ro và bảo đảm cạnh tranh lành mạnh nhằm duy trì sự ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng.

3.3. Thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội

Một trong những nội dung trọng tâm của Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 là thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trên phạm vi toàn nền kinh tế nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, thúc đẩy chuyển đổi số và tăng cường tính minh bạch trong các giao dịch kinh tế - xã hội. Theo Quyết định số 928/QĐ-TTg, Chính phủ yêu cầu “thúc đẩy việc thanh toán, chi trả không dùng tiền mặt trên mọi lĩnh vực của đời sống xã hội”, tập trung đẩy mạnh thanh toán điện tử đối với các khoản chi ngân sách nhà nước, thanh toán học phí, viện phí, thuế, phí, lệ phí, hóa đơn định kỳ và các khoản trợ cấp an sinh xã hội. Định hướng đã thể hiện chủ trương thúc đẩy thanh toán số không chỉ giới hạn trong lĩnh vực ngân hàng mà còn được mở rộng sang khu vực dịch vụ công và các hoạt động dân sinh thiết yếu nhằm hình thành hệ sinh thái thanh toán số đồng bộ trong nền kinh tế.

Việc đẩy mạnh thanh toán điện tử đối với các dịch vụ công có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, giảm chi phí hành chính, tăng cường công khai, minh bạch trong thu - chi ngân sách và hạn chế rủi ro phát sinh từ giao dịch tiền mặt. Đồng thời, Quyết định số 928/QĐ-TTg cũng khuyến khích các TCTD, tổ chức cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán áp dụng chính sách miễn, giảm phí liên quan đến việc mở và sử dụng tài khoản thanh toán, thẻ ngân hàng và ví điện tử nhằm thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trong nền kinh tế.

Thực tế cho thấy, hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam năm 2025 tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao. Theo Vụ Thanh toán (NHNN), so với năm 2024, giao dịch thanh toán không dùng tiền mặt năm 2025 tăng 42,2% về số lượng (tương đương tăng 22,6% giá trị); giao dịch qua Internet tăng 54% về số lượng (tương đương tăng 35,7% giá trị); giao dịch qua điện thoại di động tăng 36,6% về số lượng (tương đương tăng 20% giá trị); riêng giao dịch qua mã QR tăng 51% về số lượng và 124% về giá trị. Đồng thời, đến năm 2025, khoảng 87% người trưởng thành tại Việt Nam đã sở hữu tài khoản ngân hàng hoặc tài khoản thanh toán tại các tổ chức được phép cung ứng dịch vụ thanh toán. Những số liệu này cho thấy thanh toán số và ngân hàng số đang trở thành phương thức giao dịch phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội, tạo nền tảng quan trọng thúc đẩy tài chính toàn diện và phát triển kinh tế số tại Việt Nam; là chỉ dấu quan trọng phản ánh mức độ phổ cập ngày càng sâu rộng của dịch vụ tài chính chính thức.

Có thể thấy, việc thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt không chỉ góp phần thực hiện mục tiêu chuyển đổi số quốc gia mà còn giúp giảm chi phí lưu thông tiền mặt, nâng cao tính minh bạch của nền kinh tế, hỗ trợ phòng, chống rửa tiền, trốn thuế và tạo điều kiện mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân và doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế số phát triển mạnh mẽ.

3.4. Mở rộng tín dụng cho SME, khu vực nông nghiệp, nông thôn

Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 đặc biệt chú trọng mở rộng khả năng tiếp cận tín dụng chính thức đối với SME, hợp tác xã, hộ kinh doanh và khu vực nông nghiệp, nông thôn. Theo đó, Chính phủ khuyến khích các TCTD đa dạng hóa sản phẩm tín dụng phù hợp với từng nhóm khách hàng, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ, siêu nhỏ, hộ kinh doanh do phụ nữ, thanh niên và đồng bào dân tộc thiểu số làm chủ. Chiến lược yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế tín dụng và bảo lãnh tín dụng nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các quỹ tài chính ngoài ngân sách hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận vốn vay.

Đối với lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, Chính phủ định hướng phát triển các sản phẩm tín dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp, bảo hiểm nông nghiệp và tín dụng xanh nhằm hỗ trợ quá trình tái cơ cấu và chuyển đổi xanh trong ngành nông nghiệp. Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia đặt mục tiêu đến năm 2030 dư nợ tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn đạt khoảng 25% tổng dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế. Những định hướng này có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng chính thức, hạn chế tín dụng phi chính thức và thúc đẩy phát triển kinh tế bền vững, bao trùm.

3.5. Tăng cường giáo dục tài chính và bảo vệ người tiêu dùng tài chính

Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 dành một nhóm nhiệm vụ riêng cho giáo dục tài chính và bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính nhằm nâng cao khả năng tiếp cận, sử dụng an toàn các sản phẩm, dịch vụ tài chính trong môi trường số. Chính phủ yêu cầu xây dựng và triển khai Chương trình giáo dục tài chính quốc gia; lồng ghép giáo dục tài chính trong hệ thống giáo dục quốc dân, đào tạo nghề và các chương trình an sinh xã hội; đồng thời tăng cường truyền thông về tài chính số, an toàn thông tin, bảo mật dữ liệu và kỹ năng quản lý tài chính cá nhân.

Bên cạnh đó, Chiến lược cũng đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế bảo vệ người tiêu dùng dịch vụ tài chính theo hướng đồng bộ, hiệu quả và phù hợp với đặc thù của tài chính số; minh bạch hóa cơ cấu phí dịch vụ; tăng cường trách nhiệm của các TCTD trong việc cung cấp thông tin tín dụng, giải quyết khiếu nại và bảo vệ dữ liệu khách hàng. Đây là nội dung có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong bối cảnh các hành vi lừa đảo công nghệ cao, chiếm đoạt tài sản qua không gian mạng và gian lận thanh toán điện tử ngày càng gia tăng cùng với quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.

4. Một số kiến nghị đối với ngành Ngân hàng nhằm thực hiện hiệu quả Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Một là, tiếp tục hoàn thiện và triển khai hiệu quả cơ chế thử nghiệm có kiểm soát đối với hoạt động Fintech và ngân hàng số

Sự phát triển nhanh của Fintech đòi hỏi khuôn khổ pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng phải có tính mở, linh hoạt và thích ứng cao hơn với các mô hình kinh doanh mới. Ngày 29/4/2025, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 94/2025/NĐ-CP quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng, tạo nền tảng pháp lý bước đầu cho việc thử nghiệm các giải pháp Fintech như chấm điểm tín dụng, chia sẻ dữ liệu qua giao diện lập trình ứng dụng mở (Open API) và cho vay ngang hàng (P2P Lending). Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra nhanh chóng, Chính phủ cần tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thi hành về điều kiện tham gia thử nghiệm, cơ chế giám sát, tiêu chí đánh giá rủi ro, bảo vệ dữ liệu khách hàng và xử lý tranh chấp phát sinh trong quá trình thử nghiệm.

Bên cạnh đó, phạm vi thử nghiệm cũng cần được nghiên cứu mở rộng phù hợp với thực tiễn phát triển của thị trường, đặc biệt đối với các mô hình ngân hàng số, ứng dụng AI trong chấm điểm tín dụng, eKYC, tài chính nhúng (embedded finance) và các giải pháp tài chính số phục vụ tài chính toàn diện. Điều này không chỉ góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo có kiểm soát mà còn tạo điều kiện hình thành hệ sinh thái tài chính số an toàn, minh bạch và phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế số tại Việt Nam.

Hai là, đẩy mạnh kết nối và chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước

Việc triển khai hiệu quả Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia phụ thuộc đáng kể vào chất lượng dữ liệu và khả năng kết nối, chia sẻ dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính. Quyết định số 928/QĐ-TTg đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện chính sách và quy định pháp luật về dữ liệu, quản trị dữ liệu; đồng thời yêu cầu nghiên cứu, ban hành quy định về tiếp cận, khai thác và sử dụng Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư phục vụ hoạt động nhận biết, xác thực khách hàng điện tử trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng.

Hiện nay, mức độ liên thông dữ liệu giữa các cơ quan quản lý nhà nước như thuế, bảo hiểm, đăng ký doanh nghiệp và hệ thống tín dụng vẫn chưa đồng bộ, dẫn đến hạn chế trong chấm điểm tín dụng, đánh giá năng lực tài chính khách hàng và phát triển các sản phẩm tài chính số. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế pháp lý về kết nối, chia sẻ và khai thác dữ liệu giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với hệ thống dữ liệu ngân hàng, thuế, bảo hiểm và doanh nghiệp nhằm hỗ trợ hiệu quả hoạt động chấm điểm tín dụng, eKYC, quản trị rủi ro và giảm chi phí giao dịch. Đồng thời, cần xây dựng cơ chế chia sẻ dữ liệu minh bạch, an toàn và có kiểm soát trên cơ sở tuân thủ quy định về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và an toàn thông tin nhằm vừa thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực tài chính số vừa bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng trong môi trường số.

Ba là, tăng cường chính sách hỗ trợ tài chính toàn diện tại khu vực nông thôn và nhóm yếu thế

Mặc dù thanh toán số và ngân hàng số tại Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây, song khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức của người dân tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới và các nhóm yếu thế vẫn còn nhiều hạn chế. Đây cũng là nhóm đối tượng ưu tiên được Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 xác định cần tập trung hỗ trợ nhằm bảo đảm không ai bị bỏ lại phía sau trong quá trình phát triển. Do đó, NHNN cần tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ các TCTD mở rộng hạ tầng thanh toán, phát triển các kênh phân phối dịch vụ tài chính hiện đại và mô hình đại lý ngân hàng tại khu vực nông thôn, vùng sâu, vùng xa nhằm giảm chi phí tiếp cận dịch vụ tài chính cho người dân; ban hành cơ chế thúc đẩy phát triển các sản phẩm tài chính số, thanh toán điện tử và dịch vụ ngân hàng qua thiết bị di động phù hợp với điều kiện hạ tầng và nhu cầu thực tế của người dân tại các khu vực này theo đúng định hướng của Quyết định số 928/QĐ-TTg.

Bốn là, nâng cao năng lực bảo đảm an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân

Quá trình chuyển đổi số trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng đang làm gia tăng rủi ro tội phạm công nghệ cao, gian lận trong thanh toán điện tử và nguy cơ rò rỉ dữ liệu cá nhân. Trong bối cảnh đó, Quyết định số 928/QĐ-TTg xác định tăng cường an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân là một trong những nội dung trọng tâm của Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030. Cụ thể, Chính phủ yêu cầu triển khai các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin, an ninh mạng theo mô hình bảo vệ 4 lớp đối với hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia; xây dựng nền tảng giám sát an ninh mạng tập trung; đồng thời ban hành quy định về tiêu chuẩn an toàn thông tin, an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân đối với các tổ chức cung ứng sản phẩm, dịch vụ tài chính số.

Trên cơ sở định hướng đó, các cơ quan quản lý nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện khuôn khổ pháp lý về bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và trách nhiệm của các tổ chức cung ứng dịch vụ tài chính số trong thu thập, lưu trữ, khai thác và chia sẻ dữ liệu khách hàng. Đồng thời, các TCTD cần tăng cường đầu tư hạ tầng an ninh mạng, hệ thống giám sát giao dịch, cơ chế xác thực đa lớp và công nghệ phát hiện giao dịch bất thường, qua đó kịp thời ngăn chặn hành vi gian lận, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và bảo đảm an toàn, ổn định của hệ thống tài chính - ngân hàng trong môi trường số.

5. Kết luận

Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 được ban hành theo Quyết định số 928/QĐ-TTg đánh dấu bước chuyển quan trọng trong tư duy hoạch định chính sách tài chính tại Việt Nam theo hướng lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm, gắn kết chặt chẽ giữa tài chính toàn diện với chuyển đổi số quốc gia và phát triển kinh tế số. Trong tổng thể Chiến lược, ngành Ngân hàng giữ vai trò nền tảng trong việc phát triển hệ sinh thái tài chính số, mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức và thúc đẩy thanh toán không dùng tiền mặt trên phạm vi toàn nền kinh tế. Các nhiệm vụ và giải pháp được đặt ra trong Chiến lược không chỉ hướng tới mở rộng độ bao phủ dịch vụ tài chính mà còn nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm an toàn hệ thống, bảo vệ dữ liệu cá nhân, nâng cao hiểu biết tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực tài chính - ngân hàng. Điều này cho thấy tài chính toàn diện không còn được tiếp cận đơn thuần dưới góc độ hỗ trợ tiếp cận tín dụng mà đã trở thành một cấu phần quan trọng của mô hình phát triển kinh tế số bao trùm, hiện đại và bền vững.

Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, việc triển khai hiệu quả Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia sẽ góp phần nâng cao hiệu quả phân bổ nguồn lực, thúc đẩy phát triển kinh tế tư nhân, tăng cường khả năng chống chịu của nền kinh tế và bảo đảm công bằng trong tiếp cận các cơ hội phát triển. Đây đồng thời là cơ sở quan trọng để Việt Nam xây dựng hệ thống tài chính hiện đại, minh bạch và thích ứng với yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.

Tài liệu tham khảo

1. Anh Minh (2026), Ngân hàng đẩy nhanh chuyển đổi số, phát triển thanh toán hiện đại, https://baochinhphu.vn/ngan-hang-day-nhanh-chuyen-doi-so-phat-trien-thanh-toan-hien-dai-102260505165811757.htm

2. Hà Linh (2025), Ứng dụng dữ liệu dân cư vào hoạt động ngân hàng: Nhiều tiện ích mang lại cho người dân, doanh nghiệp, https://div.gov.vn/ung-dung-du-lieu-dan-cu-vao-hoat-dong-ngan-hang-nhieu-tien-ich-mang-lai-cho-nguoi-dan-doanh-nghiep.

3. Luật Các TCTD năm 2024.

4. Nghị định số 94/2025/NĐ-CP ngày 29/4/2025 của Chính phủ quy định về cơ chế thử nghiệm có kiểm soát trong lĩnh vực ngân hàng.

5. Quyết định số 928/QĐ-TTg ngày 25/5/2026 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030.

6. Thủy Hà (2026), Thị trường bán lẻ Việt Nam năng động và có tiềm năng phát triển, https://tapchikinhtetaichinh.vn/thi-truong-ban-le-viet-nam-nang-dong-va-co-tiem-nang-phat-trien-141889.html

Nguyễn Huy Hào
Giám đốc Agribank Bình Thạnh

Tin bài khác

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Tác động của cơ chế điều chỉnh biên giới carbon đối với doanh nghiệp xuất - nhập khẩu, doanh nghiệp nhỏ và vừa của Việt Nam trong chuỗi cung ứng

Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của Liên minh châu Âu (EU) không chỉ tạo áp lực đối với các doanh nghiệp mà còn làm gia tăng yêu cầu xanh hóa toàn bộ chuỗi cung ứng, đặt doanh nghiệp Việt Nam trước yêu cầu cấp thiết phải nâng cao năng lực thích ứng trong bối cảnh chuyển đổi xanh toàn cầu.
Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Hoàn thiện quản lý nhà nước nhằm khắc phục tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử tại Việt Nam

Bài viết phân tích thực trạng hàng giả, hàng nhái trên các sàn thương mại điện tử (TMĐT) tại Việt Nam, đồng thời chỉ ra những khoảng trống trong quản lý nền tảng và đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử bền vững.
Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Tính chu kỳ của chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ tại Việt Nam: Bằng chứng thực nghiệm và hàm ý chính sách

Trong bối cảnh kinh tế vĩ mô Việt Nam liên tục đối mặt với các cú sốc và biến động giai đoạn 2000 - 2025, bài viết làm rõ tính chu kỳ của chính sách tài khóa và tiền tệ, cho thấy chính sách tiền tệ ngày càng mang tính ngược chu kỳ rõ nét, trong khi chính sách tài khóa thể hiện đặc điểm “lai”, qua đó gợi mở các hàm ý quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả phối hợp và ổn định kinh tế vĩ mô.
Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Kinh tế vĩ mô những tháng đầu năm 2026: Nhận diện rủi ro, thách thức và kiến nghị giải pháp cho những tháng cuối năm

Bài viết phân tích bối cảnh kinh tế vĩ mô trong nước và quốc tế những tháng đầu năm 2026, nhận diện các rủi ro, thách thức đối với mục tiêu tăng trưởng hai con số của Việt Nam, đồng thời đề xuất một số khuyến nghị điều hành nhằm vừa thúc đẩy tăng trưởng, vừa giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh bất định toàn cầu gia tăng.
Xem thêm
Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Phát huy vai trò của ngành Ngân hàng trong thực hiện Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030

Bài viết này phân tích vai trò trung tâm của ngành Ngân hàng trong triển khai Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia giai đoạn 2026 - 2030 , đồng thời làm rõ các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển đổi số, mở rộng tiếp cận dịch vụ tài chính và bảo đảm an toàn, bao trùm, bền vững của hệ sinh thái tài chính số.
Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Ngân hàng trung ương trước “ba phép thử” lớn của chính sách tiền tệ

Bài viết phân tích những thay đổi lớn trong vai trò, công cụ và tính độc lập của ngân hàng trung ương (NHTW) trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, đồng thời rút ra một số hàm ý chính sách cho việc nâng cao hiệu quả điều hành, củng cố ổn định kinh tế vĩ mô và tăng cường niềm tin thị trường.
Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Tác động của Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 đối với hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam

Luật Phục hồi, phá sản (Luật số 142/2025/QH15) được Quốc hội thông qua ngày 11/12/2025 có hiệu lực từ ngày 01/3/2026 đánh dấu bước chuyển từ tư duy thanh lý sang ưu tiên phục hồi doanh nghiệp, qua đó tạo ra những tác động quan trọng đối với ổn định và an toàn của hệ thống tài chính - ngân hàng Việt Nam.
Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bản chất pháp lý của dịch vụ tiếp cận tiền lương đã phát sinh và đề xuất điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam

Bài viết phân tích bản chất pháp lý của mô hình tiếp cận tiền lương đã phát sinh (EWA), qua đó đề xuất khung phân loại theo mức độ rủi ro và định hướng hoàn thiện cơ chế điều chỉnh pháp luật tại Việt Nam nhằm bảo đảm cân bằng giữa bảo vệ người lao động, an toàn hệ thống tài chính và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực công nghệ tài chính.
Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Biến động trên thị trường tài chính quốc tế và một số khuyến nghị đối với điều hành chính sách tiền tệ của Việt Nam

Bài viết phân tích những tác động ngày càng phức tạp của biến động tài chính quốc tế đối với công tác điều hành chính sách tiền tệ tại Việt Nam, đồng thời đề xuất các khuyến nghị nhằm nâng cao khả năng chống chịu của hệ thống tài chính và duy trì ổn định kinh tế vĩ mô trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và bất định toàn cầu gia tăng.
Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân trong kỷ nguyên số: Kinh nghiệm quốc tế và hàm ý cho Việt Nam

Trong kỷ nguyên số, giáo dục tài chính là đòn bẩy chiến lược để thu hẹp khoảng cách năng lực hành vi, thúc đẩy tài chính toàn diện. Bài viết tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua giáo dục tài chính cá nhân và đề xuất một số hàm ý cho Việt Nam trong xây dựng lộ trình chính sách đồng bộ, bền vững.
Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Điều hành khuôn khổ chính sách tích hợp trong bối cảnh toàn cầu hóa: Kinh nghiệm Hàn Quốc và khuyến nghị cho Việt Nam

Bài viết phân tích xu hướng chuyển dịch sang khuôn khổ chính sách tích hợp (Integrated Policy Framework - IPF) trong bối cảnh toàn cầu biến động, qua đó làm rõ kinh nghiệm của Hàn Quốc và đề xuất hàm ý chính sách cho Việt Nam.
Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Cú sốc giá dầu và phản ứng của ngân hàng trung ương: Tổng quan lý thuyết, bằng chứng lịch sử và hàm ý chính sách

Bài viết phân tích một cách hệ thống mối quan hệ giữa cú sốc giá dầu và phản ứng chính sách của ngân hàng trung ương (NHTW), qua đó nhấn mạnh vai trò của việc nhận diện đúng nguồn gốc cú sốc và tăng cường phối hợp chính sách nhằm nâng cao hiệu quả điều hành chính sách tiền tệ trong bối cảnh biến động năng lượng toàn cầu.
Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Từ hệ thống thanh toán truyền thống đến tài sản kỹ thuật số: Cách tiếp cận từ Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025 của Úc

Bài viết phân tích sự chuyển dịch tư duy lập pháp của Úc trong điều chỉnh hệ thống thanh toán số và tài sản kỹ thuật số thông qua Luật sửa đổi Luật Ngân khố về Payments System Modernisation Act 2025 (Đạo luật về Hiện đại hóa hệ thống thanh toán năm 2025) của Úc, làm rõ cách tiếp cận quản lý dựa trên chức năng và rủi ro, cơ chế phối hợp giám sát liên cơ quan và những hàm ý chính sách cho quá trình hoàn thiện pháp luật tại Việt Nam.
Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong hoạt động truyền thông của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ và hàm ý đối với thị trường tài chính toàn cầu

Bài viết phân tích bằng chứng thực nghiệm mới về vai trò của các yếu tố phi ngôn ngữ trong truyền thông chính sách tiền tệ của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), qua đó thảo luận các hàm ý sâu sắc đối với công tác hoạch định và truyền tải chính sách tiền tệ trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ thông tin.

Thông tư số 08/2026/TT-NHNN ngày 15 tháng 5 năm 2026 Sửa đổi, bổ sung điểm a khoản 4 Điều 20 Thông tư số 22/2019/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Nghị quyết số 24/2026/NQ-CP của Chính phủ về cắt giảm, phân cấp, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh lĩnh vực quốc phòng, nội vụ, tài chính, xây dựng, ngoại giao, tư pháp, ngân hàng

Thông tư số 01/2026/TT-NHNN ngày 16/3/2026 Quy định việc cung cấp thông tin giữa Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Bảo hiểm tiền gửi Việt Nam

Thông tư số 61/2025/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định về mạng lưới hoạt động của ngân hàng thương mại

Thông tư số 85/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số thông tư của Thống đốc NHNN quy định về nghiệp vụ thư tín dụng và hướng dẫn triển khai một số chương trình tín dụng thay đổi cơ cấu, tổ chức bộ máy

Thông tư số 84/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định chế độ báo cáo tài chính đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Thông tư số 81/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 quy định về hoạt động chiết khấu của TCTD, chi nhánh NHNNg đối với khách hàng

Thông tư số 80/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 12/2022/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc vay, trả nợ nước ngoài của doanh nghiệp

Thông tư số 79/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với việc cho vay ra nước ngoài và thu hồi nợ nước ngoài của TCTD, Chi nhánh Ngân hàng nước ngoài

Thông tư số 77/2025/TT-NHNN ngày 31/12/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 50/2024/TT-NHNN quy định về an toàn, bảo mật cho việc cung cấp dịch vụ trực tuyến ngành Ngân hàng